Hôm nay,  

Tu giải thoát: Bố thí, cúng dường…

27/06/202408:09:00(Xem: 3959)
blank 

Tu giải thoát: Bố thí, cúng dường…
 

Nguyên Giác
 

Bố thí và cúng dường là một trong những hạnh đầu tiên để làm cho cõi này tốt đẹp hơn, và là những bước đi đầu tiên của Phật tử trên đường giải thoát. Suốt cuộc đời Đức Phật, ngài đã sống bằng phẩm vật cúng dường. Tương tự, sự phát triển của Phật giáo lan rộng khắp thế giới và được hộ trì cho tới giờ cũng là nhờ phẩm vật cúng dường của đàn na thí chủ. Do vậy, bài này được viết để mời nhau giữ hạnh bố thí và cúng dường.
 

Chữ “bố thí” thường được chúng ta hiểu theo nghĩa từ thiện, trao tặng để giúp người. Tuy hai chữ bố thí và cúng dường nguyên gốc là một nghĩa, trong tiếng Phạn là Dàna, nhưng chúng ta thường dùng chữ “cúng dường” cho ý nghĩa dâng lễ vật lên Tam Bảo. Trong Kinh AN 8.54, Đức Phật dạy rằng, hạnh bố thí và cúng dường là “một trong bốn pháp để đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho thiện nam tử: Thế nào là bốn? Đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ.” Gọi tắt là: Tín, Giới, Thí, Tuệ.
 

Trong tiếng Anh, hạnh Bố thí và cúng dường là “generosity, charity or giving of alms.” Trong các kinh văn phổ biến tại Việt Nam, chúng ta thường đọc thấy rằng Bồ tát hạnh là phải tu Lục độ Ba la mật, tức là Sáu hạnh Qua bờ bên kia, là: Bố thí Ba-la-mật, Trì giới Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật, Trí huệ Ba-la-mật. Thường gọi tắt là: Thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Định, Huệ.
 

Trong Tạng Pali, thường ghi rộng hơn, là Mười pháp Ba La Mật: Bố Thí (Dàna), Trì Giới (Sìla), Xuất Gia (Nekkhamma), Trí Tuệ (Pannà), Tinh Tấn (Viriya), Nhẫn Nại (Khanti), Chân Thật (Sacca), Quyết Định (Adhìtthàna), Tâm Từ (Mettà), và Tâm Xả (Upekkhà).
 

Đối chiếu với năm giới của Phật tử, có giới “Đừng trộm cắp, đừng lấy những gì của người khác,” bạn sẽ thấy hạnh bố thí chính là phương diện chủ động của giới này. Nghĩa là, hãy hoan hỷ, hãy sẵn lòng chia sẻ những gì mình có với người khác. Trong nghĩa này, bố thí là lòng độ lượng, là tu hạnh dập tắt lòng tham. Trong các Kinh, Đức Phật thường nói rằng hãy bố thí cho khách đi đường, cho người bệnh, người đói, người nghèo và dâng cúng để hộ trì Tăng, Ni, và ngay cả các ẩn sĩ dị giáo có giới hạnh. Thái độ Phật tử trong khi bố thí, cúng dường là hãy giữ tâm cho hoan hỷ, cẩn trọng, tự tay mình chọn, và trao phẩm vật thích hợp. Thí dụ, gặp người bệnh, thì bố thí thuốc chữa bệnh, là thích nghi nhất. Tương tự với các hoàn cảnh khác nhau. Trong tận cùng của hạnh bố thí là chứng nhập pháp ấn vô ngã, trao tặng vì không thấy có gì là “ta hay cái của ta” nữa. Chặng đường tuy là xa, nhưng tu hoài là sẽ tới.
 

Trong Kinh Pháp Cú 223, và 224, Đức Phật dạy rằng hãy giữ tâm lìa sân, hãy tu thiện pháp, hãy giữ hạnh bố thí để lìa tham, hãy nói lời chơn thật, ngay cả khi bản thân đang sống thiếu thốn, cũng nên bố thí cho người cần giúp. Sống được như thế, kiếp sau sẽ sinh vào thiên giới. Hai bài kệ này, do Thầy Minh Châu dịch như sau.
 

223. "Lấy không giận thắng giận,

Lấy thiện thắng không thiện,

Lấy thí thắng xan tham,

Lấy chơn thắng hư ngụy."            

  

224. "Nói thật, không phẫn nộ,

Của ít, thí người xin,

Nhờ ba việc lành này,

Người đến gần thiên giới."

 

Trong tích truyện Pháp Cú, bài kệ 224 duyên khởi là Đức Phật trả lời một câu hỏi của Trưởng Lão Maha Moggallana. Truyện kể rằng, một lần, Trưởng lão Maha Moggallana (ngài Đại Mục Kiền Liên) viếng thăm cõi trời và thấy nhiều vị thiên sống trong những dinh thự sang trọng. Ngài hỏi rằng họ đã tái sinh vào cõi chư thiên nhờ việc tốt gì, và họ đã trả lời cho Trưởng lão bằng những câu trả lời khác nhau. Một vị tái sinh vào cõi chư thiên chỉ vì vị này luôn nói sự thật. Người thứ hai là một thiên nữ được tái sinh vào cõi chư thiên vì cô không giận chủ và không có ác ý với ông chủ, mặc dù ông chủ thường xuyên đánh đập và ngược đãi cô. Vì giữ tâm an bình và từ bỏ sân hận, cô đã tái sinh vào cõi chư thiên. Trong khi đó, có những vị khác được sinh vào cõi chư thiên vì họ đã cúng dường những phẩm vật nhỏ nhặt, như một khúc mía, trái cây hoặc một bó rau cho một vị tăng hay ni, hoặc cho một người nào khác.

Khi trở về từ cõi trời, Trưởng lão Maha Moggallana đã hỏi Đức Phật liệu có thể đạt được những lợi ích to lớn như vậy chỉ bằng cách nói sự thật, hay bằng cách lìa sân, hay bằng cách bố thí một lượng nhỏ những thứ lặt vặt như trái cây và rau quả. Đức Phật trả lời rằng: "Con trai của Ta, tại sao con hỏi? Con chưa tận mắt thấy và nghe những gì chư thiên nói sao? Con không nên nghi ngờ gì. Những việc phước nhỏ nhoi chắc chắn sẽ đưa người ta sinh vào thế giới của chư thiên."
 

Trong Kinh Đại Phước Đức (Mahamangala sutta) Sn 2.4 của Tiểu Bộ Kinh, khi nói về hạnh bố thí của Phật tử đã nói rằng người đại phước đức là người cúng dường cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con, giúp thân nhân, bố thí độ lượng cho người khác, mưu sinh bằng các nghề dẫn tới bình an cho thế giới này (engaged in peaceful occupation), giữ giới hạnh, hành động không sai trái gì (blameless in action).
 

Và tận cùng, Phật dạy trong Kinh Đại Phước Đức này, là phải thực chứng Niết Bàn. Nơi đây, xin dịch như sau, trích: “Kiên nhẫn và vâng lời, thân cận với các tu sĩ và thảo luận về Chánh pháp trong những dịp thích hợp – đây là phước lành lớn nhất. Tự phòng hộ, sống đời thánh thiện và trong sạch, tu học Tứ Diệu Đế và thực chứng Niết Bàn – đây là phước lành lớn nhất.”
 

Đối với những người giàu có và dư thừa mà không chịu bố thí, tương lai đời họ sẽ là suy sụp, bất hạnh. Đức Phật nói trong Kinh Sn 1.6 (Parabhava Sutta) cũng trong nhóm Tiểu Bộ Kinh, nơi đây chúng ta trích dịch như sau: “Người có nhiều của cải, vàng bạc và thực phẩm, nhưng chỉ hưởng thụ những xa hoa cho riêng mình - đây là nguyên nhân sẽ dẫn người này tới suy sụp. Người kiêu hãnh về dòng dõi, về sự giàu có hay về dòng tộc, và coi thường bà con của mình - đây là nguyên nhân sẽ dẫn người này tới suy sụp.”
 

Ý thức được rằng cần phải tu hạnh bố thí và cúng dường, bản thân người viết đã nỗ lực trong hoàn cảnh riêng. Khoảng hai thập niên trước, khi dẫn đứa con nhỏ ra chợ, thường thấy có người ngồi ăn xin vài nơi ở phố Bolsa, thì đưa một đôla cho đứa con, dặn là trao tiền vào nón của người ăn xin, rồi hãy tự nói thẩm trong tâm, “Xin nguyện cho tất cả mọi người, sẽ không ai phải nghèo đói trong thế giới này, và rồi sẽ thành Phật.” Vào những ngày Chủ nhật, người viết cũng chở đứa con đi một vòng khoảng 10 chùa, bảo đứa con cầm 1 đôla tới bỏ vào thùng phước sương nơi sân chùa hay trước bàn thờ, rồi hãy tự nói lời nguyện trên. Bây giờ nhìn lại, lòng tôi lúc nào cũng vui khi nhớ rằng mình đã dạy con một cách đơn giản như thế.
 

Riêng bản thân, người viết cũng tự ý thức rằng mình không giàu, không thể cúng dường lớn lao, nên tự chọn con đường riêng, cũng nằm trong sở thích: Đó là pháp thí. Tức là đưa Chánh pháp tới cho càng nhiều người càng tốt. Đó cũng là lý do, bản thân tôi đọc Kinh ngày đêm, trong mọi thời gian có thể đọc được, và rồi viết những gì có lợi cho độc giả có thể tu học, cụ thể thực hành được, không nói chuyện trên mây. Kinh Pháp Cú cũng dạy rằng Pháp thí là đệ nhất.
 

354. "Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!"

 

Cũng nên ghi nhận rằng, nơi Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy trong bài Kệ 356 rằng, bố thí cho người đã ly tham sẽ có vô lượng phước đức, dạy trong bài Kệ 357 rằng bố thí cho người đã ly sân cũng sẽ có vô lượng phước đức, và dạy trong bài Kệ 358 rằng bố thí cho người đã ly si cũng sẽ có vô lượng phước đức. Tuy nhiên, chúng ta là người không có đủ tuệ nhãn để thấy ai là bậc đã ly tham sân si, và cũng không chắc có đủ cơ duyên để gặp vị như thế trong kiếp này. Do vậy, khi cúng dường cho các chùa, quý Tăng, Ni, hãy giữ tâm tịnh tín nghĩ rằng đây là cúng dường Phật, cúng dường Pháp, cúng dường Tăng. Hay ít nhất, cũng nên nghĩ rằng, mình đang cúng dường một vị đang tu để ly dục, vì bài Kệ 359 nói rằng bố thí cho người ly dục sẽ được vô lượng phước đức.
 

Cũng nên ghi nhận rằng, tu học Bát Chánh Đạo là pháp bố thí tuyệt vời nhất, bởi vì ngay trong tu học, chính là bố thí Pháp cho cõi này. Ngay cả có cúng dường cho một trăm vị A La Hán, cúng dường cho một vị Phật, cúng dường ngôi tịnh xá cho Tăng chúng, cũng không bằng trong một khoảnh khắc tu tập tâm từ, trong một khoảnh khắc tu quán vô thường.
 

Đức Phật dạy trong Kinh AN 9.20, bản dịch của Thầy Minh Châu, rằng: “Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí cho 100 vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí một vị Bất lai… và có ai bố thí trăm vị Bất lai, và có ai bố thí một vị A-la-hán… và có ai bố thí trăm vị A-la-hán… và có ai bố thí một vị Độc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Độc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.” (1)
 

Đặc biệt, nên giữ tâm bình đẳng trong khi bố thí. Hãy nhìn tất cả mọi người là một vị Phật trang nghiêm trong cõi riêng của họ. Hãy nhìn tất cả mọi người nơi thực tướng của sắc thọ tưởng hành thức đều là bình đẳng trong rỗng rang vô tướng. Kinh Tăng Nhất A Hàm gọi bố thí như thế là huệ thí, tức là, bố thí với đôi mắt của trí huệ. Nghĩa là, nhìn thấy các pháp bình đẳng. Nhiều thập niên trước, tôi được bổn sư là Hòa Thượng Tịch Chiếu dạy rằng con chỉ cần giữ một giới duy nhất thôi, đó là bình đẳng.
 

Kinh EA 48.5, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng dịch lời Đức Phật dạy: “Lành thay, lành thay, Trưởng giả, ông có thệ nguyện rộng lớn như vậy! Bồ tát bố thí với tâm luôn luôn bình đẳng. Trưởng giả nên biết, khi Bồ tát huệ thí, chư thiên đến bảo rằng,’Thiện nam tử, nên biết, đây là người trì giới. Đây là người phạm giới, thí đây, được phước nhiều, thí đây được phước ít.’ Bồ tát bấy giờ không hề có tâm như vậy, răng ‘Nên thí đây. Không nên thí đây.’ Nhưng Bồ tát giữ tâm ý không có thị phi. Không nói, đây trì giới. Cũng không nói, đây phạm giới. Cho nên, này Trưởng giả, hãy với tâm niệm bình đẳng mà huệ thí, trong lâu dài được phước vô lượng.” (2)
 

Do vậy, đừng nghĩ rằng mình đang bố thí ít quá, cần bố thí nhiều hơn. Mà hãy luôn luôn nghĩ rằng, mình đang bố thí để trang nghiêm tâm. Đức Phật dạy trong Kinh AN 7.52 rằng người nào hễ bố thí với tâm không mong cầu, mà chỉ để trang nghiêm tâm, thì sẽ lên cõi Phạm thiên và rồi chứng quá Bất Lai (A Na Hàm), không trở về cõi Ta Bà gian nan này nữa.
 

Đức Phật dạy trong Kinh AN 7.52, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “—Này Sàriputta, ở đây, ai bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”, bố thí không với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”, bố thí không với ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”, bố thí không với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không xứng đáng là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn”, bố thí không với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này”, bố thí không với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”. Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này.” (3)
 

Do vậy, cúng dường cũng là tu giải thoát, chứ không thuần túy là hỗ trợ chùa chiền, Tăng Ni. Bố thí với tâm thanh tịnh là sẽ sinh lên cõi thiên, rồi nơi đó sẽ chứng quả Bất Lai. Tâm không mong đợi gì hết, mà lại được quả lớn vô cùng.
 

Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật giải thích rằng bố thí như thế là bố thí mà không trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bản dịch của Thầy Thanh Từ viết: “Lại nữa Tu-bồ-đề, Bồ-tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”
 

Đọc kỹ Kinh Kim Cang, chúng ta sẽ hiểu vì sao Đức Phật kể trong Bản sanh truyện, có tiền kiếp Đức Phật (khi là Hoàng tử Sattva) đã bố thí thân xác của ngài để cho một con cọp mẹ ăn thịt, vì ngài thấy cọp mẹ đói và vì cọp mẹ có thể ăn thịt các cọp con cho đỡ đói. Đó là thời cọp nói tiếng người (hiển nhiên là ẩn dụ), chỉ ra rằng Bổ Tát phải thấy tất cả các pháp đều là không. Không có nghĩa là bây giờ chúng ta thấy cọp đói thì hãy bố thí thân xác. Vậy rồi làm sao hộ trì Chánh pháp. Hãy nhìn tới mặt trăng, đừng chấp vào ngón tay.
 

Tương tự, chỉ qua Kinh Kim Cang, chúng ta mới hiểu vì sao trong tiền thân của Đức Phật Thích ca là  Vua Vessantara đã bố thí vợ con. Tích này cũng ghi lại trong Kinh Na Tiên Tỳ Kheo, bản dịch của ngài Bhikkhu Indacanda là Kinh Milinda Vấn Đạo. Nơi đây, chúng ta trích đoạn nơi Phẩm Vessantara, bản Việt dịch Indacanda:
 

“Thưa ngài Nāgasena, có phải hết thảy tất cả các đức Bồ Tát đều bố thí con và vợ, hay là chỉ riêng đức vua Vessantara đã bố thí con và vợ?”

“Tâu đại vương, tất cả các đức Bồ Tát cũng đều bố thí con và vợ, không phải chỉ riêng đức vua Vessantara đã bố thí con và vợ.”

“Thưa ngài, phải chăng các vị ấy bố thí với sự đồng ý của những người ấy?”

“Tâu đại vương, người vợ thì đồng ý. Trái lại, hai đứa bé đã than vãn do bản chất trẻ thơ. Nếu chúng có thể biết được mục đích, chúng cũng có thể tùy hỷ, chúng có thể không than vãn.”

“Thưa ngài Nāgasena, hành động khó làm đã được làm bởi đức Bồ Tát là việc vị ấy đã bố thí những đứa con ruột thịt yêu quý của chính mình để làm nô lệ cho người Bà-la-môn. Việc thứ nhì này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là việc vị ấy đã dửng dưng sau khi nhìn thấy người Bà-la-môn ấy trói lại những đứa con ruột thịt yêu quý dại khờ thơ ấu của chính mình bằng dây rừng và đang đánh đập bằng dây rừng. Việc thứ ba này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là việc đứa bé trai, sau khi đã được thoát khỏi sự trói buộc nhờ vào sức mạnh bản thân, đã đi đến, bị lâm vào sự hoảng sợ, thì vị ấy đã trói bằng dây rừng rồi lại bố thí lần nữa.” (4)
 

Theo Kinh Kim Cang, chúng ta sẽ hiểu rằng bố thí vợ chỉ có nghĩa là dứt bỏ tất cả những gì sắc thanh hương vị xúc pháp của quá khứ và hiện tại, và bố thí các con chỉ có nghĩa là chặt đứt tất cả các duyên của những gì sắc thanh hương vị xúc pháp của tương lai. Chỉ nên hiểu bố thí như thế. Bởi vì trao tặng vợ con mình cho người khác là thiếu từ bi với vợ con (Tâm Từ nằm trong 10 hạnh ba la mật) và là phạm giới đầu tiên (nếu chưa phải là đẩy vợ con vào chỗ chết, thì cũng là đang gây tổn thương đau đớn và oán hận, sẽ là duyên cho tương lai bất hạnh).
 

Do vậy, bố thí trong tận cùng là để giải thoát. Hãy bố thí mà không để mong cầu gì hết, mà chỉ là để trang nghiêm tâm, thì sẽ sinh lên các cõi thiên rồi chứng quả Bất Lai. Và hãy bố thí tận cùng là theo lời dạy của Kinh Kim Cang: tâm không trụ vào bất kỳ những gì trong ba thời của sắc thanh hương vị xúc pháp. Ngay khi đó, ngay trong cõi này, là giải thoát.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 9.20: https://suttacentral.net/an9.20/vi/minh_chau

(2) Kinh EA 48.5:  https://suttacentral.net/ea48.5/vi/tue_sy-thang

(3) Kinh AN 7.52: https://suttacentral.net/an7.52/vi/minh_chau

(4) Kinh Milinda Vấn Đạo: https://suttacentral.net/mil6.3.1/vi/indacanda

 

 

Hội Đồng Giám Sát Quận Cam đã bỏ phiếu với tỉ lệ 5 trên 0 vào chiều Thứ Ba, 28 tháng 4 để mở cửa các cơ sở kinh doanh với những hướng dẫn bảo đảm sự an toàn của công chúng. Các hướng dẫn được giới thiệu bởi nữ Chủ Tịch Michelle Steel và Giám Sát Viên Don Wagner được thông qua bởi hội đồng sẽ áp dụng như mô hình cho Quận Cam để trở lại tình trạng sinh hoạt bình thường, theo các viên chức cho biết. Theo hội đồng, “Tất cả đề nghị theo Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam và không thay thế bất cứ lệnh mâu thuẫn hay hạn chế nào được đưa ra bởi các chính quyền địa phương, Tiểu Bang California, hay Chính Phủ Liên Bang.” “Quận Cam đã “làm thẳng đường cong” một cách hiệu quả.”
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47) ngày hôm nay đã đệ trình Nghị Quyết Hạ Viện ghi nhận biến cố lịch sử quan trọng và tưởng niệm 45 năm ngày Sài Gòn thất thủ và sự sập đổ bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày 30 tháng 4, năm 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị lực lượng Cộng sản xâm chiếm trong Tháng Tư Đen và Sài Gòn đã bị thất thủ. Mỗi năm biến cố trọng đại này được các cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ tổ chức tưởng niệm.
Nhân dịp lần thứ 45 tưởng niệm biến cố Tháng Tư Đen, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa Hạt 48) đã gởi thông điệp đến với cộng đồng Người Mỹ gốc Việt tại Quận Cam: Trong thông điệp này, Dân Biểu Rouda cũng nhắc đến những người trong cộng đồng chúng ta mà ông vừa vinh danh: Tướng Lê Minh Đảo, nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác Sĩ Phạm Đỗ Thiên Hương.
Tuần này sẽ đánh dấu nhiều mốc ngoặc mới trong đại dịch vi khuẩn corona khi các trường hợp bị lây nhiễm tại Hoa Kỳ đã hơn 1 triệu, ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh tái mở cửa và một số nhân viên y tế địa phương bắt đầu thử nghiệm kháng thể cho công chúng, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 27 tháng 4 năm 2020. Tính tới Thứ Hai, Hoa Kỳ đã có 1,008,571 trường hợp bị lây, với 56,521 người thiệt mạng.
3 videos ngắn cho thấy “hiện tượng xuất hiện trong không gian không xác định” đã được công bố bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các video, đã được phổ biến trước đây bởi một công ty tư nhân, cho thấy cái gì đó trông giống các vật bay không xác định di chuyển nhanh trong khi được thu hình bởi các máy thu hồng ngoại tuyến, theo CNN tường trình cho biết. 2 trong 3 video, các quân nhân có thể nghe được sự phản ứng các vật bay nhanh như thế nào. Một giọng nói cho thấy nó có thể là một chiếc robot.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.