Hôm nay,  

Không Buông Lung

01/07/202411:15:00(Xem: 5047)

Danh vọng nương nơi cái tôi mà tồn tại. Không có cái tôi, danh vọng không hiện hữu.

Danh vọng cũng cần được biểu hiện qua âm thanh, ngôn ngữ, văn tự. Không có sự diễn đạt bằng âm thanh ngôn ngữ, danh vọng cũng không hiện hữu.

Một mình tịch lặng, quán niệm sâu xa về tự ngã, và bản chất của âm thanh ngôn ngữ thì chẳng thấy gì gọi là danh vọng, danh vị. Danh vọng như mộng huyễn, như quáng nắng, như thủy triều. Tâm đã định tĩnh thì không có mưa nắng hay thủy triều nào làm chao đảo, lo sợ (1). Khổ nỗi, một khi danh vọng được theo đuổi như là mục tiêu của cuộc sống thường tục, nó đeo bám và gắn chặt vào tận tâm can, vào tận những ngóc ngách kín đáo nhất của tầng đáy ý thức, tầng đáy vô thức, khiến cho khi tỉnh khi mê, khi thức khi ngủ, đều nhắm về một hướng: làm thế nào để danh càng lúc càng lớn hơn, cao hơn, cho đến tột đỉnh.

Nhưng lòng tham hay khát vọng của con người không bao giờ có đáy, và không bao giờ có giới hạn của đỉnh cao. Cảm giác vui sướng (hay khổ đau) là vô thường, bất định; do vậy, một khi được thỏa mãn, nó luôn có khuynh hướng tìm đến sự hưởng thụ cao hơn, mạnh hơn. Từ đây, ngay nơi chỗ được cho là tột đỉnh của danh vọng chức vị, nhà đạo nhất thiết cần phải quay về, tự hỏi, đâu là mục tiêu tối hậu của con đường giải thoát giác ngộ.

Không thể để cho đời mình trôi qua một cách vô bổ, vô ích với những hưởng thụ tầm thường dung tục của tài sản, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ (2).

Soi chiếu lại tự thân với lời cảnh giác từng được dạy dỗ và tụng đọc hàng ngày, may ra có thể quay về trước khi quá trễ: “Cập kỳ đến lúc tuổi đời đã cao, tuổi hạ cũng lớn, nhưng bụng thì rỗng, lòng lại cao, bởi vốn không chịu thân cận thiện hữu nên chỉ biết xấc láo ngạo ngược, chưa hiểu thành thuộc giáo pháp và giới luật nên sự tự chế ngự hoàn toàn không có...” (3)

Soi chiếu lại tự thân để thấy rằng bụng không rỗng (vì đã từng tu học Phật Pháp nhiều năm), lòng không cao (vì đã từng tự hạ làm khất sĩ, từng xem danh lợi như đôi dép bỏ), không xấc láo ngạo ngược (vì từng được phước duyên thọ pháp với những bậc cao đức và gần gũi các bạn lành); vậy thì chỉ cần dừng lại, tinh tấn, không buông lung (4), để tập trung toàn bộ sinh mệnh, thân và tâm của mình, tiếp tục hướng về mục tiêu sau cùng của bậc xuất trần thượng sĩ.

Bao năm giải đãi thả trôi tâm ý cuốn theo những danh-sắc huyễn vọng, chí nguyện ban đầu đã vuột xa, mục tiêu tối hậu cũng mờ khuất. Giờ này, khi quỷ vô thường lăm le xuất hiện, mạng sống không thể kéo dài, mà thời gian cũng không chờ đợi (5), tất phải cấp thời dũng mãnh đưa ra quyết định tử-sinh cho sự nghiệp hành đạo của mình: buông xả tất cả để qui hướng mục tiêu giải thoát.

Buông xả chứ không phải buông thả. Buông xả chứ không phải buông lung.

Không buông lung, không phóng túng, không buông thả tâm ý chạy rông bất định. Tinh tấn, không buông lung, là nền tảng vững chắc cho mọi mục tiêu, mọi thành tựu. Hành giả không thể không có mục tiêu, và không thể không nỗ lực để đạt đến mục tiêu ấy.

Sự nghiệp của người con Phật không phải tài sản, đất đai, tự viện; không phải giới phẩm, danh vị, chức vụ; mà chính là sự nghiệp trí tuệ, sự nghiệp Phật Pháp.

Gia tài của Đức Phật để lại sở dĩ được giữ gìn và tiếp tục phát triển đến ngày hôm nay và nhiều thế kỷ sau, là nhờ sự tinh tấn thực hành và truyền bá giáo pháp của nhiều thế hệ tăng lữ suốt gần ba thiên kỷ qua. Thừa kế di sản của Đức Phật, hành giả chỉ thừa kế Chánh Pháp, không có sự thừa kế tài vật hay danh vị nào khác (6).

_______________

(1) “Bằng sự cố gắng, hăng hái, không buông lung, tự khắc chế lấy mình, kẻ trí tự tạo cho mình hòn đảo chẳng còn ngọn thủy triều nào nhận chìm được.” (Kinh Pháp Cú, câu 25; HT Thích Thiện Siêu dịch). Thủy triều ở đây được Hòa thượng chú thích là “Các phiền não tham, sân, si buộc ràng và sai sử chúng sanh trong vòng ba cõi.”
(2) Tài, sắc, danh, thực, thụy, thuật ngữ Phật giáo gọi chung là ngũ dục – năm thứ dục lạc ở đời mà con người tham đắm, hưởng thụ.
(3) Văn Cảnh Sách của Thiền sư Linh Hựu (771 – 853) ở Qui Sơn, thời Vãn Đường Trung Hoa, trích đoạn: “Cập chí niên cao lạp trưởng, không phúc cao tâm, bất khẳng thân phụ lương bằng, duy tri cứ ngạo, vị am pháp luật, tập liễm toàn vô...” (HT Thích Trí Quang dịch)
(4) Kinh Pháp Cú (Dhammapada) dành nguyên một phẩm tên gọi là Tinh Cần hoặc Không Buông Lung (Appamāda-Vagga) từ câu 21-32 để nói về hạnh tinh tấn. Ở đây dùng nguyên tựa “Không Buông Lung” từ bản dịch của HT. Thích Thiện Siêu.
(5) Mượn ý và lời từ đoạn Văn Cảnh Sách dẫn thượng: “Vô thường sát quỷ niệm niệm bất đình, mạng bất khả diên, thời bất khả đãi.”
(6) “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật.” (Trung Bộ Kinh, Kinh Thừa Tự Pháp, HT. Thích Minh Châu dịch)

biachanhphap152
Hình bìa: Mặc Không Tử


CHÁNH PHÁP Số 152, tháng 07.2024

NỘI DUNG SỐ NÀY:

THƯ TÒA SOẠN, trang 2

TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3

HOA SÚNG TỎA HƯƠNG (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 6

BẤT DIỆT TRONG SINH DIỆT (HT Thích Thiện Siêu), trang 7

CHIẾN TRANH (HT Thích Trí Chơn) trang 8

HẠNH ĐỘC CƯ LÝ TƯỞNG (NS Thích Nữ Trí Hải), trang 9

TỨ CÚ LỤC BÁT “SƯƠNG” (thơ Vĩnh Hữu Tâm Không), trang 12

NGÔI CHÙA CỔ TRÊN ĐỒI TRẠI THỦY (Nguyên Siêu), trang 13

TẬN TÂM CAN (thơ Đồng Thiện), trang 14

QUY Y TAM BẢO (Đạo Sinh), trang 15

GIỮ MÃI THƯƠNG YÊU... (thơ Tôn Nữ Mỹ Hạnh), tr. 18

NGÔI NHÀ CỦA BẠN (HT. Thích Thái Hòa), trang 19

NGÔN NGỮ, LỢI VÀ HẠI (Nguyễn Thế Đăng), trang 20

NHƯ LAI SỨ GIẢ (thơ Thích Chúc Hiền), trang 21

QUYẾT NGHỊ ĐẠI HỘI KHOÁNG ĐẠI KỲ IV, NHIỆM KỲ V (GHPGVNTNHK), trang 22

SƠ QUÁT VỀ BA PHÁP MÔN CHỈ-QUÁN-THIỀN... (Khánh Hoàng), trang 24

HỎI THĂM ĐƯỜNG MÂY CŨ (thơ Phổ Đồng), trang 27

NGUYỆN GIẢI THOÁT NGAY HIỆN TIỀN (Nguyên Giác), trang 28

SẮC – KHÔNG (thơ Tâm Phương), trang 29

CHÁNH TRÍ – GIẢI THOÁT (Nhóm Áo Lam), trang 30

HOẰNG PHÁP LÀ VIỆC NHÀ (Thích Hạnh Tuệ), trang 31

CÁI KHÔNG CÓ (thơ TM Ngô Tằng Giao), trang 34

THÔNG BÁO SỐ 3 – KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP BẮC MỸ 2024, trang 37

TĨNH LẶNG LÀ TINH HOA CỦA ĐẠO PHÁP (Thích Thiện Long), trang 39

THƠ TUỆ SỸ - BÀI CA CÔ GÁI TRƯỜNG SƠN (Ngân Hà – Tịnh Thủy), tr. 40

NẤU CHAY: SOUP CHUA THUẦN CHAY (Hồng Hương), trang 42

LÀM CHA (Huỳnh Kim Quang), trang 43

ĐỌC BÀI THƠ “ĐĂNG U CHÂU ĐÀI CA” CỦA TRẦN TỬ NGANG (Lam Nguyên), trang 46

MẶT TRÁI CỦA CÔNG NGHỆ CAO (Tiểu Lục Thần Phong), trang 47

TRỞ VỀ CHÙA XƯA (thơ Thy An), trang 48

TRUYỆN CỰC NGẮN (Steven N), trang 49

GAN NHIỄM MỠ (Bs. Nguyễn Ý Đức), trang 51

ĐẠO HIỆN BÀY... (thơ Diệu Viên), trang 52

LƯỢC THUẬT ĐẠI HỘI KHOÁNG ĐẠI LẦN THỨ IV, NHIỆM KỲ 5 (Thích Thiện Long), trang 53

HÌNH ẢNH ĐẠO TRÀNG AN CƯ TẠI TU VIỆN ĐẠI BI (Photos: Quảng Pháp), trang 54

BỐN PHÁP CĂN BỔN (Quảng Tánh), trang 57

MÙA BỒ ĐỀ THAY LÁ... (thơ Nguyễn An Bình), trang 58

THE STORY OF SAMANERA SUMANA (Daw Tin), trang 59

HÀNH HƯƠNG THÁNH TÍCH SÔNG HẰNG (thơ Hoàng Thục Uyên), trang 60

CỞI TRÓI tập 1 – chương 10, t.t. (truyện dài Vĩnh Hảo), trang 61

TÌNH QUÊ (thơ Minh Đạo), trang 63

TAM CHƯỚNG LÀ BA THỨ CHƯỚNG NGẠI GÌ? (TL Đào Mạnh Xuân), trang 64

SỚM MAI TỈNH GIẤC (thơ Tịnh Bình), trang 65

PHẬN ĐẸP DUYÊN MAY (Truyện cổ Phật Giáo), trang 68

https://chanhphap.us/CHANH%20PHAP%20BO%20MOI/Muc%20luc%202024/CP%20so%20152%20(07.24).htm

Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020 thời gian 45 năm. Đây là một khoảng thời gia rất dài trong đời người và thời gian đủ để một quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một tập thể hoặc cá nhân sáng suốt, có thể đưa cả một dân tộc đi lên và xoay chuyển vận mệnh như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, Tổng Thống Mustafa Kamal Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Tổng Thống Phác Chính Hy của Nam Hàn.
Cơ Quan FDA của Hoa Kỳ chưa chấp thuận bất cứ loại thuốc nào cho việc điều trị vi khuẩn corona. Nhưng họ dự định sẽ tuyên bố sự ủy quyền sử dụng khẩn cấp đối với thuốc remdesivir, theo báo The New York Times cho biết. Việc ủy quyền có thể đến vào Thứ Tư, theo báo Times tường trình, trích thuật lời một viên chức cao cấp của chính phủ cho biết. Trong một thông báo gửi cho CNN, FDA nói rằng họ đang nói chuyện với Gilead Sciences, nhà bào chế thuốc remdesivir, về việc chế tạo thuốc cho các bệnh nhân.
Tổng Thống Trump nói rằng các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội hiện có mà sẽ hết hạn vào cuối tháng 4 tức Thứ Năm sẽ không được gia hạn thêm, khi ngày càng có nhiều thống đốc bắt đầu thực hiện các bước gỡ bỏ các hạn chế và tái mở cửa kinh tế của họ. Chính phủ Trump cho biết các đề nghị giữ khoảng cách xã hội hiện đang có sẽ không được hợp tác bởi các thống đốc áp dụng vào các kế hoạch tương lai mới của họ. “Chúng sẽ bị bãi bỏ, bởi vì các thống đốc hiện đang làm điều đó,” theo Trump cho biết.
Trung Cộng luôn luôn tìm mọi cách để khẳng định tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông mà cụ thể là họ đã tự đưa ra hình đường lưỡi bò liếm gần hết Biển Đông, thì nay một công ty TQ An Dương tại Hải Phòng đã xây dựng công trình có hình giống như hình đường lưỡi bò của TQ đã bị dẹp bỏ, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 29 tháng 4 năm 2020.
Một khu trục hạm phi đạn dẫn đường của Hải Quân Hoa Kỳ đi qua vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông thách thức yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực, theo tin của AFP tường thuật Hải Quân cho biết hôm Thứ Tư, 29 tháng 4.
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
Ngày 29 tháng 4, năm 2020, nhân tưởng niệm 45 năm tháng Tư Đen, các Dân Biểu Hoa Kỳ Alan Lowenthal, Lou Correa và Harley Rouda đã gửi thư cho Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm tại VN, tiếp tục việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được công khai hoạt động, và bảo vệ các quyền và tự do căn bản của công dân Việt Nam.
Trong tuần lễ này, Dân Biểu Liên Bang Lou Correa (CA-46) đã giới thiệu nghị quyết tưởng niệm về sự hy sinh và can đảm của người tị nạn Việt Nam bỏ chạy khỏi miền nam Việt Nam từ sau ngày Sài Gòn sụp đổ khoảng 45 năm về trước.
ngôi Thiền viện trang nghiêm đang mọc lên nơi Danh thắng Bạch Mã, sống động giữa lòng Hồ Truồi; hay một Thiền phái Trúc Lâm đang được sống dậy trong lòng người dân xứ Huế.
Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Nhiều người Mỹ gốc Việt trên khắp đất nước sẽ tham gia vào lực lượng vận chuyển, phân phát đồ ăn và các dụng cụ cần thiết để hỗ trợ nhân viên y tế chiến đấu với dịch bệnh COVID-19
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.