Hôm nay,  

Tỉnh tỉnh, lặng lặng

04/08/202407:31:00(Xem: 3509)
blank 

Tỉnh tỉnh, lặng lặng
 

Nguyên Giác

  

Thỉnh thoảng chúng ta nghe rằng bạn này tu theo Thiền Chỉ, và rồi nghe rằng bạn kia tu theo Thiền Quán. Và rồi có bạn nói như dường hai pháp này dị biệt nhau, khi bạn này nói rằng Thiền Chỉ là cách vào Tứ Thiền, trong khi Thiền Quán là theo Tứ Niệm Xứ. Bất chợt, có bạn chợt nhớ lời khuyên quân bình từ Trần Thánh Tông rằng “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng” và từ Vĩnh Gia Huyền Giác rằng “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải…” Bài này sẽ ghi lời Đức Phật dạy rằng quân bình là ưu thắng nhất.
 

Trong Kinh AN 10.54, Đức Phật dạy rằng có nhiều căn cơ khác nhau, sẽ có những vị đạt được tịnh chỉ nội tâm trước, thì nên tăng thượng tuệ pháp quán nếu thấy còn thiếu sót, và ngược lại. Hai cửa này cần bổ túc cho nhau. Bản dịch Thầy Minh Châu nói về ý này trong Kinh AN 10.54 như sau:
 

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.” (1)
 

Trong Kinh Pháp Cú, tinh thần định huệ quân bình được ghi qua bài kệ 372 như sau:
 

372. "Không trí tuệ, không thiền,

Không thiền, không trí tuệ.

Người có thiền có tuệ,

Nhất định gần Niết-Bàn." (Bản dịch Thầy Minh Châu)
 

Các danh từ Hán Việt thường khi có nghĩa mơ hồ, dễ gây nhầm lẫn đối với người không quen đọc. Bởi vì chữ “thiền” trong bài kệ trên có thể làm độc giả liên tưởng tới chữ thiền trong các chữ “Thiền Tông” hay Thiền sư,” trong khi các bản tiếng Anh nói rằng chữ đó là “định” trong nghĩa tịnh chỉ (Ngài Sujato dịch là “absorption” và Ngài Ānandajoti dịch là “concentration.”)
 

Ngài Sujato dịch là: “No absorption for one without wisdom, no wisdom for one without absorption. But one with absorption and wisdom— they have truly drawn near to extinguishment.” (Dịch: Không thể có định đối với người nào không có tuệ, không thể có tuệ đối với người nào không có định. Nhưng vị nào có cả định và tuệ -- họ mới thực sự tới gần giải thoát.)
 

Bản dịch của Ngài Ānandajoti nhấn mạnh hơn, rằng không phải gần giải thoát, mà lúc đó là hiển lộ Niết Bàn rồi: “There is no concentration for one without wisdom, there is no wisdom for one without concentration, the one who has both concentration and wisdom is indeed in the presence of Nibbāna.” (Không có định đối với người nào không có tuệ, không có tuệ đối với người nào không có định. Người nào có cả định và tuệ thì thực sự đã trong hiển lộ của Niết Bàn.)
 

Trong nhiều kinh, Đức Phật dạy rằng phải dựa vào ngũ căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) để giải thoát. Nghĩa là, phải tin chắc thật vào Như Lai và tin Bát Chánh Đạo là con đường giải thoát. Tấn căn là giữ giới và hành trì nghiêm túc, "sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng các thiện pháp"... Niệm căn là chánh niệm, tức là “mindfulness” và định căn là tịnh chỉ (Thanissaro dịch là "concentration" và Sujato dịch là "immersion."). Theo nghĩa này, Thiền Quán là Niệm căn, và Thiền Chỉ là Định căn, cần phải bước tới Tuệ căn để giải thoát.
 

Trong Kinh SN 48.9, Đức Phật dạy về cách hướng niệm và định để tới tuệ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng (satinepakkena), ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, các lời nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.” (2)
 

Thực ra, các chữ  gốc Hán Việt đều khó hiểu. Trong khi, nếu chúng ta thay chữ định bằng “lặng lặng” và quán bằng “tỉnh tỉnh” thì dễ hiểu vô cùng. Nhưng khi gặp chữ khó hiểu, đối chiếu sang các kinh tiếng Anh thì sẽ không nhầm lần. Bất kể là tu pháp nào, dù là vào bằng cửa tỉnh tỉnh, hay vào bằng cửa lặng lặng, hay là cửa quân bình, ly dục  là điều cần thiết. Do vậy, Phật tử tại gia đang có gia đình, cũng phải sống như người độc thân, mới có thể vào được sơ Thiền.
 

Trong Kinh AN 4.162, Đức Phật dạy rằng muốn năm căn mạnh, thì phải ly dục, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bản tánh tham dục không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do sân sanh; bản tánh si không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, người ấy đạt được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh.” (3)
 

Khi tu tập định căn, tức là Thiền Chỉ. Khi tu niệm căn, tức là Thiền Quán. Khi chỉ và quán quân bình, sẽ dễ dàng đắc tuệ giải thoát, tức là kinh nghiệm thực chứng được các pháp ấn vô thường, vô ngã.
 

Đối với người đắc sơ Thiền, từ đây hướng tâm về các pháp quán như lời Đức Phật dạy, thì sẽ giải thoát. Trên mạng Thư Viện Hoa Sen đã có nhiều bài hướng dẫn về cách vào sơ Thiền. Nơi đây xin ghi lời Đức Phật dạy trong Kinh AN 6.73 về điều kiện để đạt được và an trú sơ Thiền, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.” (4)
 

Đức Phật dạy rằng, từ sơ Thiền, tùy quán theo Kinh AN 9.36 thì sẽ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (5)
 

Tới đây, câu hỏi thường gặp rằng thế nào là “chánh niệm, tỉnh giác” hiểu theo lời Đức Phật dạy? Trong Kinh SN 47.2, Đức Phật dạy rằng lìa tham và ưu để quán sát chính là chánh niệm, và thường trực giữ chánh niệm trong các tư thế gọi là tỉnh giác. Kin h này theo bản dịch của Thầy Minh Châu viết:


 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.” (6)
 

Trong khi quán sát như lời dạy trong Tứ Niệm Xứ, sẽ thấy bất kỳ cửa nào cũng có thể giải thoát, dù là quán thân, hay quán thọ, hay quán tâm, hay quán pháp. Không nhất thiết là phải tuần tự quán sát trọn vẹn cả bốn niệm xứ. Trong Kinh SN 47.37, Đức Phật dạy như sau, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, ước muốn đối với thân được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ … Do vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ, ước muốn đối với thọ được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán tâm trên tâm … Do vị ấy trú, quán tâm trên tâm, ước muốn đối với tâm được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp … Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, ước muốn đối với các pháp được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.” (7)
 

Kinh vừa dẫn nói rằng quán thân, thọ, tâm, pháp phải đoạn diệt được “ước muốn” thì mới giải thoát. Tại sao phải đoạn diệt “ước muốn” và điều đó có ý nghĩa gì? Đơn giản, khi còn “ước muốn” là còn thấy có cái “tôi” và cần “cái của tôi” – nghĩa là, khi “ước muốn được đoạn diệt” nghĩa là hoàn toàn không còn chút gì cái “tôi” hay “cái của tôi” và đó là giải thoát. Đó là Thiền Quán theo lời Phật dạy. Nơi đây, chúng ta không bàn vế các pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán trong các luận thư đời sau.
 

Có một Kinh, cho thấy có tương thông giữa tỉnh tỉnh và lặng lặng. Từ quán sát thân tâm vô thường, dẫn tới ly tham, khi “hỷ và tham đoạn tận” thì là giải thoát. Nói đoạn tận “hỷ và tham” bởi vì hỷ là vui với thân tâm mình trong cõi này, và tham là muốn có những gì với thân tâm mình trong cõi này, tức là hỷ và tham sẽ làm chúng at lún sâu hơn vao sinh tử luân hồi.
 

Kinh SN 22.51 ghi lời dạy, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường … tưởng vô thường … các hành vô thường …

Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.” (8)
 

Trong Kinh Ud 3.5, Đức Phật dạy ngài Mahāmoggallāna rằng với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu căn, luôn luôn giữ tâm trong định thì sẽ giải thoát. Bản Anh dịch của ngài Sujato ghi lời dạy của Đức Phật về thường trực trong tương thông cả chỉ (tĩnh chỉ tâm) và quán (niệm thân) như sau:
 

“With mindfulness of the body established, restrained in the six fields of contact, a mendicant always immersed in samādhi would know quenching in themselves.” (9)

Nơi đây, xin dịch như sau: “Với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu lĩnh vực tiếp xúc của sáu căn, một vị tu sĩ luôn luôn giữ tâm trong định sẽ biết tịch lặng giải thoát trong chính vị này.”
 

Có một cách đơn giản nhưng cực kỳ khó. Những người tâm hồn cực kỳ ngây thơ sẽ dễ vào. Tới đây, chúng ta sẽ nói về Đốn giáo. Tức là giải thoát tức khắc.
 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Thiền Tông, bản dịch của Thầy Thích Duy Lực, nơi Phẩm Tựa Thứ Nhất có ghi như sau:
 

“…Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói: Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.

Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ, lại hỏi rằng: Ngoài lời mật ý kể trên, còn có ý nào bí mật chăng? Huệ Năng nói: Đã nói với ông thì chẳng phải mật rồi, nếu ông phản chiếu thì mật tại bên ông.” (10)
 

Lời của Lục Tổ Huệ Năng cũng là nói một phiên bản khác từ lời Đức Phật dạy. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Có nghĩa là trong khi thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm thọ từ xúc chạm, suy nghĩ tư lường… thì tâm không chệch theo bất kỳ những gì trong quá khứ hay mơ mộng tương lai, cũng không dính tới bất kỳ ưa thích hay ghét bỏ nào, nghĩa là để cho cái biết trực tiếp hiển lộ mà không can thiệp. Ngay khi cái biết trực tiếp hiển lộ, sẽ không có tham sân si nơi đó.
 

Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.80, bản dịch của Thầy Minh Châu như sau (chữ “thắng tri” -- directly know -- là biết trực tiếp, chữ “liễu tri” là biết trong chứng nghiệm vô ngã, ly tham):
 

“Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: “Các pháp không nên thiên chấp”. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: “Tất cả các pháp không nên thiên chấp”, vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi … Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi … các sắc … nhãn thức … nhãn xúc … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.” (11)
 

Cái biết trực tiếp đó hiển nhiên là cái biết của “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Cái biết trực tiếp đó không trải qua bất kỳ níu kéo, xua đầy, giằng co, vướng víu… nào cũng là lời dạy trong Kinh Bahiya Sutta, khi Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng hãy để cái được thấy là cái được thấy, hãy để cái được nghe là cái được nghe… và đó là giải thoát.
 

Chính ngay trong cái biết trực tiếp đó, chính là cảnh giới siêu xuất cả chỉ và quán, và với thời gian, từ cái biết trực tiếp (thắng tri) là rất gần với cái biết của giải thoát (liễu tri). Nơi đây, không cần khởi tâm tu chỉ hay tu quán, mà tất cả các thiện pháp đều hiển lộ. Đó cũng chính là nơi vua Trần Thánh Tông  đã nói là “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng…”
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 10.54: https://suttacentral.net/an10.54/vi/minh_chau

(2) Kinh SN 48.9: https://suttacentral.net/sn48.9/vi/minh_chau

(3) Kinh AN 4.162: https://suttacentral.net/an4.162/vi/minh_chau

(4) Kinh AN 6.73: https://suttacentral.net/an6.73/vi/minh_chau

(5) Kinh AN 9.36: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(6) Kinh SN 47.2: https://suttacentral.net/sn47.2/vi/minh_chau

(7) Kinh SN 47.37: https://suttacentral.net/sn47.37/vi/minh_chau

(8) Kinh SN 22.51: https://suttacentral.net/sn22.51/vi/minh_chau

(9) Kinh Ud 3.5: https://suttacentral.net/ud3.5/en/sujato

(10) Kinh Pháp Bảo Đàn: https://thuvienhoasen.org/p16a681/pham-tua-thu-nhat  

(11) Kinh SN 35.80: https://suttacentral.net/sn35.80/vi/minh_chau

 

 

 

Phạm trù thi ca văn học vốn dĩ không dễ cụ thể miêu tả một cách luận lý (reasonably) nhưng vẫn là nơi chốn mà con người biểu hiện xúc cảm đặc thù mang tính nghệ thuật. Một cách phổ quát, sáng tác nghệ thuật bắt nguồn từ cảm hứng. Nguồn xúc cảm này tự nhiên vô cầu cho dù sau đó công trình nghệ thuật ấy cho ra kết quả mang tính thẩm định hữu dụng. Bản chất tác phẩm văn thơ tồn tại trong cõi người ta, do đó nó phản ánh trọn vẹn mùi vị cuộc đời. Cũng vì thế mà tôi nôm na xem văn chương chữ nghĩa là cõi bất hạnh do tính biểu hiện phản diện bền vững của nó. Văn học nghệ thuật cống hiến cho con người vô số tác phẩm xuất phát từ bản chất bi đát, phản diện của cuộc đời để rồi được tôn thờ sùng bái hoặc say mê ca ngợi. Nhưng đó chỉ là một mặt trong vô số khuôn mặt của tác phẩm nghệ thuật mà định mệnh của nó, hay nét bi kịch gắn liền với thân phận tác giả một cách tiêu biểu mà không mấy ai xem nó như nghiệp dĩ có thể tránh khỏi.
• Newsom Dẫn Trước Harris Trong Cuộc Thăm Dò Ứng Cử Viên Tổng Thống • Iran Mở Đường Qua Eo Biển Hormuz Nhưng Đóng Với Kẻ Thù • Trump Đùa Cợt So Sánh Pearl Harbor Với Các Cuộc Không Kích Iran • Đơn Xin Trợ Cấp Giảm, Dù Thị Trường Lao Động Vẫn Ảm Đạm • Áp Lực Lên Nhân Viên TSA Ngày Càng Lớn • Pam Bondi Từ Chối Điều Trần Trước Hạ Viện Vụ Epstein • Ngũ Giác Đài Muốn Khai Triển Vệ Binh Quốc Gia Ở DC Đến 2029 • Người Mỹ Ngày Càng Lo Ngại Về Giá Xăng • Israel Dội Thêm Nhiều Cuộc Không Kích Vào Tehran • Tài Tử Meryl Streep Quyên Góp Số Tiền ‘Bảy Con Số’ Cho Bảo Tàng Lịch Sử Phụ Nữ Quốc Gia
Trước khi bị Tổng thống Donald Trump cho rời chức, Bộ trưởng An ninh Nội địa Kristi Noem đã kịp để lại một dự án gây nhiều tranh cãi: mua 11 nhà kho lớn trên khắp nước Mỹ để sửa sang thành trại giam di dân. Các nhà kho này, có nơi đủ sức chứa tới 10.000 người, là phần đầu của một kế hoạch rộng lớn hơn, trị giá khoảng 38 tỉ đô‑la, nhằm gom hệ thống giam giữ di dân về những trung tâm thật lớn do chính phủ trực tiếp làm chủ. Tiền cho kế hoạch đến từ đạo luật One Big Beautiful Bill mà Quốc hội đã thông qua năm ngoái, dành thêm hơn 170 tỉ đô‑la cho Bộ An ninh Nội địa và cơ quan Di trú và Hải quan (ICE). Từ trước tới nay, ICE vẫn chủ yếu thuê chỗ giam từ nhà tù quận, nhà giam địa phương hoặc cơ sở do các hãng tư nhân điều hành. Với kế hoạch mới, ICE muốn tự mua lấy nhà kho, sửa lại thành trại giam kiểu “công nghiệp”, giống như các trung tâm phân phối hàng hóa, để phục vụ mục tiêu trục xuất tới một triệu người mỗi năm theo chủ trương của ông Trump.
Vào ngày 01 tháng 01 năm 2026, Sở Di trú đã ban hành một chính sách hạn chế mới (lệnh cấm) áp dụng đối với người nộp đơn xin chiếu khán di dân và các quyền lợi di trú đến từ 75 quốc gia. Trong hai tháng qua, Sở Di Trú chưa loại bỏ bất kỳ quốc gia nào khỏi danh sách này, do đó lệnh tạm dừng vẫn tiếp tục áp dụng đối với tất cả các quốc gia nêu trên.
Trong những thời điểm bất an, vào những lúc tin tức thời sự tạo cảm giác choáng ngợp, sự hài hước và nghệ thuật trào phúng giúp con người giải tỏa nỗi sợ hãi. Nó cũng là công cụ thách thức quyền lực của kẻ mạnh và tạo ra sự đoàn kết của những người dân yếm thế. Sự hài hước mang lại sức mạnh to lớn, giúp con người vẫn cười trước những tình thế tồi tệ. Chính sức mạnh ấy khiến các nghệ sĩ hài thường xuyên trở thành mục tiêu của những chính trị gia độc đoán; khiến các chế độ độc tài tìm cách kiểm duyệt nghệ thuật trào phúng.
Cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu do chiến tranh Iran bùng nổ từ ngày 28.2 đang trực tiếp đẩy giá xăng tại Mỹ tăng trung bình khoảng 60 xu/gallon. Theo giới chuyên môn, giá dầu thô là yếu tố biến động lớn nhất quyết định giá bán lẻ nhiên liệu, song nó chỉ chiếm khoảng một nửa tổng giá thành mỗi gallon xăng. Hoa Kỳ hiện là nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, song giá xăng nội địa vẫn biến động theo chuẩn giá Brent quốc tế, do các nhà máy lọc dầu vùng Vịnh thường mua theo mức giá này thay vì giá dầu WTI trong nước. Tính đến thứ Sáu vừa rồi, dầu Brent giao dịch quanh 100 USD/thùng, tăng 38% so với trước khi xung đột nổ ra (dữ liệu FactSet).
Các nhà khoa học vừa cảnh báo: quần thể chim ở Bắc Mỹ không chỉ giảm sút, mà tại nhiều nơi tốc độ suy giảm còn đang gia tốc, trùng với những vùng nông nghiệp thâm canh và khí hậu ấm lên nhanh. Công trình mới đăng trên tạp chí Science cho thấy mối tương quan rõ giữa đà suy giảm chim với khu vực dùng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và có diện tích canh tác lớn, song tác giả nhấn mạnh đây là tương quan thống kê chứ chưa chứng minh được quan hệ nhân quả.
Một bản khảo cứu mới công bố cho thấy người dân Hoa Kỳ hiện đang mất hơn 119 tỉ đô-la mỗi năm vì các vụ lừa đảo đủ loại – từ đầu tư tiền điện tử đến giả mạo tình cảm, từ chiêu dụ đầu tư sang nhắn tin “số nhầm” – nhiều gấp bảy lần con số được chính quyền chính thức ghi nhận. Báo cáo do Hội Liên hiệp Bảo vệ Người Tiêu Dùng Mỹ (Consumer Federation of America – CFA) thực hiện, dựa vào nhiều nguồn dữ kiện, trong đó có nghiên cứu năm 2017 của Cục Thống kê Tư pháp Hoa Kỳ. Theo tài liệu ấy, chỉ có khoảng 14 phần trăm các vụ lừa đảo được người bị hại báo cáo đến cơ quan hữu trách. Phần còn lại – 86 phần trăm – trôi vào im lặng. Khi nhân các con số hiện có của FBI lên theo tỉ lệ đó, hội CFA kết luận: tổng thiệt hại thật sự có thể lên tới ít nhất 119 tỉ đô-la hằng năm.
Một quả bom còn sót lại từ thời Thế chiến II vừa được vô hiệu hoá an toàn tại thành phố Dresden (Đức), sau khi buộc chính quyền phải di tản 18.000 cư dân ở khu trung tâm. Quả bom nặng khoảng 550 pound (chừng 250 ký), được phát hiện chiều 10-3 vừa qua trong lúc công nhân đang thi công tái thiết cầu Carola bắc ngang sông Elbe; chiếc cầu này bị sập một phần hồi năm 2024. Ngay sau khi phát hiện, cảnh sát dựng vòng phong toả bán kính khoảng 150 mét quanh hiện trường, sau đó mở rộng lên tới gần 1 cây số rưỡi và lệnh cho dân trong vùng phải rời khỏi nhà. Theo lực lượng cứu hoả, đây là cuộc di tản lớn nhất loại này trong lịch sử Dresden. Hơn 400 cảnh sát và nhân viên cấp cứu được huy động; trực thăng và máy bay không người lái bay rà soát để bảo đảm trường học, nhà cửa, cửa hiệu, văn phòng… chung quanh đều trống người.
Hai tàu dầu Nga sẽ cập bến Cuba ngày 23/3/2026, thách thức lệnh Mỹ phong tỏa. Cuba nói sắp đủ ăn nhờ VN dạy Cuba trồng lúa sản lượng cao. TQ xây hàng chục trại năng lượng mặt trời ở Cuba. Nhiều hội đoàn quốc tế rủ nhau gửi viện trợ nhân đạo cho Cuba trong khi Trump siết cấm vận. Mexico đã gửi Cuba hơn 2.000 tấn hàng viện trợ. Dân Cuba lưu vong chia hai: phe đòi lật đổ chính quyền Cuba, phe đòi cứu đói trước.
Gia đình chúng tôi thành kính cảm tạ và tri ân: Quý Mục Sư và Hội Thánh Tin Lành: Quý Hội Đoàn và Thân Hữu Bắc California: Quý Hội Đoàn và Thân Hữu Nam California: Quý Thân hữu từ các nơi khác, và cùng tất cả Thân bằng Quyến thuộcđã phân ưu, cầu nguyện, thăm viếng, tiễn đưa Chồng, Cha, Ông của chúng tôi là Ông LÊ THÀNH LONG đến nơi an nghĩ cuối cùng. Trong lúc tang gia bối rối, nếu có điều chi thiếu sót, kính xin quý vị niệm tình tha thứ. Tổng cộng tiền phúng điếu là $10,200 đã gửi cho Hội H.O. Cứu Tợ TPB & QP VNCH Bà Quả Phụ Nguyễn Thanh Thủy cùng các con và cháu
Úc: cô giáo Monique Kieuoanh Nguyen thú tội trước tòa đã 9 lần xâm hại sex nam sinh 17 tuổi. Mỹ: cô Jenniha T. Le, 24 tuổi, dự lễ hội nhạc, chết vì phê ma túy, công tố truy tố 4 người bạn cấp ma túy
• Thẩm Phán Chấm Dứt Hồ Sơ Tị Nạn Của Bé Liam Conejo Ramos, Ra Lệnh Trục Xuất Cả Gia Đình Về Ecuador • Con Trai Và Anh Của Người Afghanistan Chết Trong Trại ICE Đòi Câu Trả Lời: “Tôi Muốn Biết Vì Sao Ông Ấy Chết” • Máy Bay Không Người Lái Bay Trên Căn Cứ Có Rubio Và Hegseth Cư Trú, Dấy Lo Ngại An Ninh • Israel, Iran Đánh Vào Cơ Sở Khí Đốt, Thị Trường Năng Lượng Chấn Động • Trump Tạm Miễn Luật Jones Act, Giá Xăng Chưa Chắc Hạ • FBI Điều Tra Joe Kent - Người Vừa Từ Chức Vì Chiến Tranh Iran - Về Việc Làm Lộ Tin Mật • Apple Báo Động Người Dùng iPhone Cập Nhật Phần Mềm Sau Khi Hai Chiến Dịch Tin Tặc Bị Phanh Phui • Gabbard Né Xác Nhận Iran Là Mối Đe Dọa Trước Mắt • Dân Biểu Dân Chủ Bỏ Ra Khỏi Buổi Họp Về Hồ Sơ Epstein, Gọi Đó Là “Buổi Điều Trần Giả” • Nợ Công Hoa Kỳ Vượt Mức 39 Ngàn Tỉ Mỹ Kim, Giữa Lúc Chiến Sự Lan Rộng Tại Iran • Hoa Kỳ Buộc Thêm 12 Nước Ký Quỹ Đặc Cọc Tới 15.000 Mỹ Kim Khi Xin Chiếu Khán • Thượng Viện Chặn Nghị Quyết Buộc Trump Xin Chuẩn Thuận Quốc Hội Về Iran
DB Derek Trần đang phải đối mặt với một dàn đối thủ gốc Việt đông đảo, trong đó bao gồm một số thành viên Đảng Cộng hòa vốn đã khá nổi tiếng tại một số khu vực nhất định trong địa hạt bầu cử này. Các ứng cử viên khác bao gồm cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam Tom Võ, Thị trưởng thành phố Westminster Chi Charlie Nguyễn, Nghị viên Hội đồng Thành phố Westminster Amy Phan West, cùng cựu Thị trưởng thành phố Cerritos kiêm cựu sĩ quan cảnh sát Chương Võ.
Tổng Thống Cuba chọc quê Trump: Mỹ đừng hòng xâm lược, lật đổ, chiếm đoạt tài nguyên vì Cuba mở cửa kinh tế nhưng không đầu hàng. Dân biểu Cộng Hòa Carlos Gimenez: Cuba phải thay đổi chính trị trước, đầu tư sẽ tới sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.