Hôm nay,  

Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

21/01/202510:31:00(Xem: 6240)
blankBìa sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha.
  
Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

Tạp chí Eurasia Review, ngày 20/1/2025
Tác giả: P. K. Balachandran
Dịch giả: Nguyên Giác
 
(Lời giới thiệu của Nguyên Giác: Phật Giáo chưa bao giờ biến mất khỏi Ấn Độ. Phật Giáo chỉ tàng hình, hội nhập vào văn hóa Ấn Độ. Bài viết nhan đề "Theory That Buddhism Vanished From Its Birthplace, India, Is Being Challenged" [Lý Thuyết Nói Rằng Phật Giáo Biến Mất Khỏi Nơi Xuất Phát, Ấn Độ, Đang Bị Thách Thức] là của P. K. Balachandran, một nhà báo Ấn Độ kỳ cựu làm việc tại Sri Lanka cho các cơ quan truyền thông địa phương và quốc tế và đã viết về các vấn đề Nam Á trong 21 năm qua.  Bài này trên tạp chí Eurasia Review, nhận định về sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" [Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha]. Sau đây là bản Việt dịch.)
   
Sử gia Ấn Độ Shashank Shekhar Sinha đã thách thức lý thuyết được chấp nhận rộng rãi rằng Phật giáo đã biến mất từ thế kỷ 13 ra khỏi Ấn Độ, nơi Phật giáo ra đời. Trong cuốn sách mới nhất của ông, nhan đề "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (NXB Macmillan, New Delhi, 2024), Sinha chỉ ra rằng người Ấn Độ đã có những cuộc tranh luận về giáo lý của Phật giáo và đã đón nhận nhiều giáo lý trong số đó trong nhiều thế kỷ sau khi Phật giáo bị tuyên bố là "đã chết" ở Ấn Độ.
 
Phật giáo chắc chắn đã suy yếu, một phần là do những người cai trị Hồi giáo Ấn Độ bài trừ thần tượng hồi thế kỷ 13, và một phần là do sự tái xuất hiện đồng thời về mặt ý thức hệ của Ấn Độ giáo “Vệ Đà” do các Bà la môn lãnh đạo. Nhưng Phật pháp vẫn là chủ đề chính của cuộc thảo luận ở Ấn Độ và nhiều tín lý của Phật giáo đã được hội nhập vào Ấn Độ giáo. Hiện tượng sau đã đi đến mức mô tả Đức Phật như một tái sinh hoặc hóa thân của Vishnu, và do đó, Đức Phật bị xem như một vị thần Ấn Độ Giáo.
 
Sinha cũng chỉ ra rằng thông qua vai trò của mình trong sự giải phóng xã hội và các phong trào chính trị, Phật giáo đã trở lại vị trí trung tâm trong tư tưởng, chính trị và quan hệ quốc tế của Ấn Độ, đặc biệt là trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20.
 
Sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" chủ yếu nói về các tượng đài Phật giáo và di tích khảo cổ ở Ấn Độ và mối quan hệ của chúng với các văn bản Phật giáo đương thời. Sinha khẳng định rằng các sinh viên học Phật phải đối chiếu những gì họ đọc trong các văn bản với những gì có thể thấy trong các tượng đài di tích và phát hiện khảo cổ, để hiểu rõ và mô tả chính xác các tín ngưỡng, tập tục và văn hóa thịnh hành trong “thời đại Phật giáo” ở Ấn Độ (khi Phật giáo còn thống trị vùng đất rộng lớn).
 
Để tới chủ đề của bài viết này, một sự hồi sinh của Phật giáo đã hiển lộ rõ ràng. Theo những cách quan trọng, Phật giáo đã chiếm vị trí trung tâm trong chính trị Ấn Độ, đặc biệt là trong việc huy động các giai cấp bị áp bức hoặc bị thiệt thòi. Sau đó, trong thời đại Nehruvian (Nehru: Thủ tướng đầu tiên của nước Ấn Độ độc lập), nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ với các quốc gia Phật giáo ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.
 
Nhờ Nehru, các biểu tượng quốc gia của Ấn Độ thực sự là Phật giáo – chẳng hạn như bánh xe Chuyển Pháp Luân và Lion Capital (Tượng đài Sư tử của Vua A Dục) được tìm thấy ở Sarnath. Bánh xe ở trung tâm của lá cờ Ấn Độ, được gọi là Ashoka Chakra (Pháp Luân), đại diện cho Dharmachakra, luật của Pháp, hoặc bánh xe vĩnh cửu của sự công chính. Nó tượng trưng cho quan niệm của Phật giáo về công lý trong xã hội và các nguyên tắc đạo đức nên hướng dẫn các hành động. Pháp Luân cũng đại diện cho cam kết của Ấn Độ trong việc duy trì luật pháp, hòa bình và công lý như một phần bản sắc dân tộc của mình. Một biểu tượng Phật giáo hiện là hiện thân của tầm nhìn về Ấn Độ như một Nhà nước công chính.
 
Các chính phủ Ấn Độ kế tiếp kể từ Nehru đã sử dụng quá khứ Phật giáo của Ấn Độ để thiết lập mối liên kết cộng sinh hoặc văn minh với nhiều quốc gia ở Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á bao gồm Sri Lanka và Myanmar.
 
Đóng góp của phương Tây
Sinha dành nhiều lời khen ngợi cho người phương Tây, chủ yếu là người châu Âu, những người đã tái khám phá Phật giáo và giúp truyền bá nhận thức về Phật giáo trên toàn thế giới. Nhưng ông thách thức quan điểm cho rằng nếu không có người phương Tây, người Ấn Độ sẽ tiếp tục nghĩ rằng Phật giáo đã chết ở đất nước họ hồi thế kỷ 13.
 
Tác phẩm Light of Asia (1879) của Edwin Arnold khẳng định rằng Phật giáo đã được người phương Tây tái khám phá vào thế kỷ 19. Nhưng Sinha lập luận rằng Ấn Độ đã có truyền thống đối thoại với Phật giáo vào thời kỳ tiền Thuộc địa và đầu Thuộc địa. Một văn bản Phật giáo thế kỷ thứ nhất CN bằng tiếng Phạn có tên là Vajrasuchi (Diamond Cutter), được cho là của một Ashwaghosha, chống lại chủ nghĩa giai cấp Bà la môn. Lần đầu tiên nó được xuất bản vào thời hiện đại vào năm 1839, bốn mươi năm trước khi cuốn sách của Edwin Arnold được xuất bản. (1)
 
Sinha cho biết bản dịch tiếng Anh của Vajrasuchi đã gây tiếng vang khắp Ấn Độ và châu Âu trong số những nhà cải cách xã hội và các nhà truyền giáo Cơ đốc giáo. Nó đã được dịch sang tiếng Hindi, tiếng Bengal, tiếng Tamil và tiếng Nepal.
 
Nhờ sự mở rộng của thương mại, vào thế kỷ 12 và 13, phương Tây bắt đầu nghe nói về Phật giáo ở Ấn Độ. Marco Polo (1254–1324) đã đưa ra một báo cáo về nó. Nhưng trọng tâm của người phương Tây là Đông Nam Á hơn là Ấn Độ.
 
Những lữ khách châu Âu và thương gia lưu động đã nhìn thấy các bảo tháp và tu viện, nhưng chúng ở trong tình trạng rất đổ nát và không có mối liên hệ rõ ràng nào với Phật giáo. Ví dụ, ngài Huyền Trang (Xuanzang) đã tìm thấy hình ảnh của Đức Phật trong các ngôi đền Hindu và kết luận rằng Ấn Độ giáo đã hấp thụ Phật giáo. Nhưng thực tế, Bà la môn giáo đã phản đối gay gắt việc pha trộn Phật giáo vào với Ấn Độ giáo. Nhưng dù vậy, việc tiếp nhận các ý tưởng và hình thức thờ cúng của Phật giáo của tín đồ Hindu vẫn tiếp tục.
 
Trong những lần tương tác đầu tiên với Ấn Độ, các học giả và người nhiệt tâm châu Âu đã tranh luận liệu Đức Phật có phải là một nhân vật huyền thoại hay một nhân vật có thật, một "nhân vật lịch sử" như Chúa Jesus hay Mohammad. Một câu hỏi khác là liệu Đức Phật có sinh ra ở Ấn Độ hay Ba Tư (Persia) hay Mông Cổ (Mongolia) không.
 
Các văn bản mà người phương Tây có thể tiếp cận vào thời điểm đó là tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) chứ không phải tiếng Pali, ngôn ngữ mà Đức Phật sử dụng. (2) Và tài liệu liên quan đến trường phái Phật giáo Đại thừa. Nhưng việc nghiên cứu Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau tại Đông Nam Á và Ấn Độ dần dần thuyết phục các nhà nghiên cứu rằng tất cả chúng đều là một phần hoặc là các biến thể của một tôn giáo - Phật giáo và nguồn gốc của nó là ở Ấn Độ.
 
Eugene Burnauf (1801-1852) là người châu Âu đầu tiên viết một cuốn sách về “Phật giáo Ấn Độ” hay Phật giáo như được thực hành ở Ấn Độ. Cuốn sách dựa trên các bản thảo tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) từ Nepal. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng các văn bản từ Tây Tạng và Trung Quốc thực chất là bản dịch các văn bản Ấn Độ.
 
Vào cuối thế kỷ 19, các văn bản tiếng Pali đã được khám phá và dịch. Thomas William Rhys-Davids đã thành lập Hội Văn bản tiếng Pali (Pali Text Society) vào năm 1881 để thu thập, dịch và xuất bản ra.
 
Một nghiên cứu sâu về các văn bản tiếng Pali cho thấy Đức Phật là một nhà cải cách xã hội, thách thức sự thống trị của người Bà la môn và sự nắm giữ các nghi lễ và lễ hiến tế của Vệ Đà. Các học giả cũng cảm nhận được rằng có sự khác biệt giữa những lời dạy ban đầu của Đức Phật và các đệ tử trực tiếp của ngài, cũng như các lời kể và nội dung thêm vào sau này.

 
Khám phá các di tích
Trong khi các học giả đắm chìm trong các bản thảo của họ, các bức tranh về các địa điểm ở Ấn Độ, một số có liên quan đến Phật giáo, đã xuất hiện trên các ấn phẩm của châu Âu. William Daniel đã xuất bản các bản khắc (engravings) của mình vào năm 1830. Các bản in thạch bản (lithographs) của Charles D'Oyly xuất hiện vào năm 1838.
 
Sự ra đời của ngành khảo cổ học ở Ấn Độ vào thế kỷ 19 đã góp phần làm tăng thêm kiến thức về Phật giáo ở Ấn Độ. Nhưng đợt khai quật khảo cổ đầu tiên không phải do các chuyên gia thực hiện mà do các viên chức Anh thực hiện vì tò mò. Một người nghiệp dư, Colin Mackenzie, đã tìm thấy tàn tích của một bảo tháp ở Amaravati ở Andhra Pradesh vào năm 1798. Năm 1800, một bác sĩ đã khai quật một bảo tháp ở Vaishali ở Bihar. Năm 1905, trong quá trình khai quật khác ở Sarnath ở Uttar Pradesh, người ta đã phát hiện ra Tượng đài Sư tử của Vua Ashoka.
 
Các bảo tháp ở Sanchi ở Madhya Pradesh được Tướng Taylor phát hiện vào năm 1818. Sikh Maharaja Ranjit Singh của Punjab đã tiến hành khai quật ở Manikyala ở Tây Bắc Ấn Độ vào năm 1830, và sau đó là các cuộc khai quật tiếp theo ở khu vực Gandhara (nay thuộc Pakistan) của Alexander Burns và Charles Masson. Vì Burns và Massons tìm thấy tiền xu Hy Lạp (Greek coins) trong các bảo tháp, họ nghĩ rằng các bảo tháp là lăng mộ của các vị vua Hy Lạp.
 
Từ năm 1834 đến năm 1837, James Prinsep, một chuyên gia thử nghiệm (một viên chức được bổ nhiệm để thử trọng lượng và độ mịn của kim loại quý) đã có thể giải mã các chữ viết Brahmi và Kharoshthi trên tiền xu và bảo tháp. Điều này là do Prinsep có mối quan hệ ở Phật giáo Ceylon (Tích Lan) như công chức George Turnour và các nhà sư Phật giáo mà Turnour biết trong thời gian ông được bổ nhiệm ở quận Sabragamuwa.
 
Năm 1861, với việc thành lập Cục Khảo cổ học Ấn Độ (ASI: Archaeological Survey of India) và việc bổ nhiệm Tướng Sir Alexander Cunningham làm Tổng giám đốc, các khám phá đã tăng lên gấp bội. Cunningham đã lần theo dấu vết các công trình kiến trúc được các nhà du hành Trung Quốc là Faxian (Pháp Hiển, thế kỷ thứ 4 và thứ 5 sau Công nguyên) và Xuanzang (thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên) đề cập. Năm 1830, các tác phẩm của Faxian và Xuanzang đã được xuất bản, đầu tiên bằng tiếng Pháp trước, rồi sau đó là tiếng Anh.
 
Từ năm 1861 đến 1865, Cunningham đã xác định được 160 địa điểm Phật giáo ở Bắc Ấn Độ. Khu vực Gandhara (nay là Pakistan và Afghanistan) đã được khai quật và tượng Phật Bamiyan đã được phát hiện ở Afghanistan. Đến năm 1884, quần thể đền Mahabodhi ở Bodh Gaya ở Bihar đã được khôi phục. Nó đã trở thành một trong bốn địa điểm linh thiêng liên quan đến cuộc đời của Đức Phật, và đặc biệt là đến sự giác ngộ.
 
Quần thể Đền Mahabodhi được Hoàng đế Asoka xây dựng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Ngôi đền hiện tại (sau đó được tân trang) được xây dựng vào thời kỳ Gupta (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên). Đây là một trong những ngôi đền Phật giáo đầu tiên được xây dựng hoàn toàn bằng gạch, hiện vẫn còn tồn tại. Sinha cho biết ngôi đền này được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của kiến trúc gạch trong nhiều thế kỷ.
 
Tổng giám đốc tiếp theo của Khảo sát Khảo cổ học, Ngài John Marshall (1902-28), quan tâm nhiều hơn đến việc khám phá và phục hồi các bảo tháp và tu viện liên quan đến Hoàng đế Asoka.
 
“Những di tích của bảo tháp được liên hệ với nội dung trong các văn bản viết để có được bức tranh toàn cảnh về các ý tưởng và thực hành của Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau. Các tác phẩm điêu khắc đã đưa ra bằng chứng về các thực hành của Phật giáo. Tiền xu, chữ khắc và hiện vật đã giúp kể câu chuyện chính xác hơn. Marshall đã có thể liên kết các địa điểm của Asoka với văn bản Phật giáo Divyavadana vào thế kỷ thứ 5,” theo Sinha chỉ ra.
 
Sự say mê với các tôn giáo thế giới là một đặc điểm của đời sống trí thức phương Tây vào nửa sau thế kỷ 19. Sự quan tâm đến Phật giáo, Ấn Độ giáo và các giáo phái cải cách ngày càng tăng. Tác phẩm The Light of Asia (1879) của Edwin Arnold là một tác phẩm chuyển thể từ văn bản Phật giáo Lalitavistara, một bài thơ tự sự về cuộc đời, thời đại và triết lý của Đức Phật. The Light of Asia đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ Ấn Độ. Ngay sau đó, nó đã truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo hàng đầu của Ấn Độ như B.R.Ambedkar, Jawaharlal Nehru và Rabindranath Tagore. Hội nghị "World Parliament of Religions" (Quốc hội thế giới về tôn giáo) được tổ chức tại Chicago vào năm 1893, nơi Anagarika Dharmapala của Ceylon đã có bài giảng về "Món nợ của thế giới đối với Phật giáo".
 
Các phong trào cải cách của đạo Hindu như Brahmo Samaj và Prarthana Samaj cũng góp phần tạo nên sự quan tâm đến Phật giáo. Các cộng đồng Phật giáo được thành lập ở nhiều nơi tại Ấn Độ và các cộng đồng này đã sản sinh ra nền văn học Phật giáo. Tagore đã đưa các chủ đề Phật giáo vào các tác phẩm nghệ thuật của mình.
 
Ngay cả Hindu Mahasabha cũng bảo trợ cho Phật giáo mặc dù họ cho rằng Phật giáo chỉ là "Ấn Độ giáo cải cách" chứ không phải là một tôn giáo riêng biệt. Sinha tiết lộ rằng các doanh nghiệp Hindu cũng ủng hộ và truyền bá Phật giáo.
 
Hindu Birlas bảo trợ cho Phật giáo. Jugal Kishore Birla (1883-1967) đã tài trợ cho 15 ngôi chùa Phật giáo lớn. Ông đã tài trợ cho bản dịch tiếng Hindi của các văn bản tiếng Pali. J.K.Birla được hỗ trợ bởi những người theo chủ nghĩa cánh tả và chủ nghĩa Marx như D.N.Kosambi và Rahul Sankritayayan.
 
Do đó, không có tranh chấp nào về việc các ý tưởng và tín ngưỡng Phật giáo vẫn tồn tại, mặc dù nằm ở rìa của tư tưởng tôn giáo ở tiểu lục địa Ấn Độ. Theo diễn tiến đó, không thể nói chỉ nhờ công lao của châu Âu trong việc khám phá hoặc phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ, theo Sinha lý luận.
 
Phật giáo cũng truyền cảm hứng cho các phong trào chống giai cấp và các nỗ lực xây dựng một xã hội bình đẳng thông qua Hiến pháp của Ấn Độ độc lập. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập, Phật giáo đã được đưa vào nghệ thuật cầm quyền, xây dựng quốc gia và quan hệ quốc tế.
 
Các chính trị gia sử dụng Phật giáo để thúc đẩy các ý tưởng bình đẳng. Ngay cả những người theo đạo Ấn Độ chính thống về giai cấp cũng đang lợi dụng Phật giáo để giải thích Ấn Độ giáo Bà la môn như chứa đựng trong chính nó đã có ý tưởng Phật giáo về một xã hội không có giai cấp. Họ nói Đức Phật là hóa thân thứ 9 của Thần Vishnu của Ấn Độ giáo.
 
Ấn Độ đang sử dụng quá khứ Phật giáo của mình để thiết lập các mối liên kết “văn minh” với các quốc gia Phật giáo và đang quảng bá các di tích Phật giáo của mình để thu hút khách hành hương và khách du lịch từ Châu Á. Thật vậy, như Sinha nói: “Đức Phật đã lại chiếm giữ sân khấu trung tâm lần nữa”.
.
NGUỒN: https://www.eurasiareview.com/20012025-theory-that-buddhism-vanished-from-its-birthplace-india-is-being-challenged-book-review/
.
Ghi chú của Nguyên Giác:
(1) Vajrasuchi là tác phẩm thuộc hệ Upanishad (Áo nghĩa thư) của Ấn Độ Giáo lại mang tư tưởng Phật giáo, chống tư tưởng giai cấp của Ấn Độ Giáo, vì nói rằng mọi người ở cả bốn giai cấp đều bình đẳng, đều có khả năng giác ngộ. Ashwaghosha là những người chịu ảnh hưởng của Thiền sư Phật giáo Mã Minh [Aśvaghoṣa]. Lịch sử chỗ này không minh bạch, đầy những giả thuyết. Nhưng văn bản đó hiển nhiên là có ảnh hưởng từ Phật giáo.
(2) Điểm này rất khả vấn. Theo truyền thống Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravada), tiếng Pali được coi là ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng, vì nó liên quan đến "Magadhi", ngôn ngữ được nói ở vương quốc nơi Đức Phật sống; tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học vẫn tranh luận liệu tiếng Pali có chính xác là ngôn ngữ mà Đức Phật nói hay không, vì kinh văn kể  Đức Phật sử dụng nhiều ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ hơn với các ngôn ngữ Prakrit khác ở Tây Ấn Độ.

Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) tê liệt vì không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu (quorum) để ngăn chặn người nước ngoài can thiệp vào bầu cử Mỹ.
Đại học Syracuse: hơn 70% người đang bị giam tại các nhà tù giam người nhập cư không hề có tiền án; trong đó 56% người gốc Á bị bắt không hề có tiền án
• Động Đất 7.7 Độ Tại Indonesia, Ít Nhất 47 Người Chết • Nổ Súng Tại Virginia State University, 5 Người Bị Thương • Iran: Trump “Ảo Tưởng” Khi Muốn Biến Hormuz Thành Lãnh Thổ Mỹ • Dân Định Cư Israel Bao Vây Nhà Người Palestine, Quân Đội Khoanh Tay Đứng Nhìn • Trump Xuống Đường Vận Động, Cộng Hòa Đối Diện Dao Hai Lưỡi • Tòa Cho Phép Chính Quyền Trump Xây 62 Dặm Tường Biên Giới Qua Đất Bộ Lạc Da Đỏ • Hải Quân Mỹ Có Thể Tốn Hàng Tỷ Để Đổi Thiết Kế Hàng Không Mẫu Hạm Theo Ý Trump • FDA Xếp Vụ Thu Hồi Gần 1.6 Triệu Hộp Trứng Vào Mức Nguy Hiểm Cao Nhất • Giáo Sư Da Đen Trẻ Nhất Cambridge Qua Đời Sau Những Cáo Buộc Đạo Văn • Chú Khỉ Mồ Côi Punch Tròn Một Tuổi, Nhận 2,500 Thiệp Mừng Sinh Nhật
Cuộc nghiên cứu của Đại học Utah dùng Thiền chánh niệm để chữa trị người nghiện ma túy hay nghiện thuốc giảm đau opiod đã đưa ra một số kết quả tích cực có thể giúp cho các Bộ y tế trên thế giới trong nỗ lực cai nghiện. Bài sau đây là từ trang nhà của Đại học Y Khoa Utah (University of Utah Health) đăng ngày 7 tháng 8 năm 2026. Bài có tựa đề "Mindfulness offers cost-effective alternative for treating opioid misuse" (Chánh niệm mang lại liệu pháp thay thế hiệu quả về chi phí để điều trị tình trạng lạm dụng opioid). Opioid là thuốc giảm đau và được dân nghiện dùng như ma túy, là một nhóm chất bao gồm các loại thuốc giảm đau kê đơn hợp pháp (như morphine, oxycodone, fentanyl) và các chất bất hợp pháp (như bạch phiến heroin).
Các bạn lao động xuất khẩu từ Việt Nam sang Đài Loan coi chừng, đừng để phạm tội gì. Đài Loan sẽ có 3 cuộc trưng cầu dân ý: sẽ phạt đánh roi bọn tội phạm tình dục, tội phạm lừa đảo; xóa bỏ nhãn hiệu "phi nguyên tử" để sẽ vào kỷ nguyên năng lượng nguyên tử; quy định dùng tiền phạt vi phạm giao thông để an toàn đường bộ.
- Trump đấu tố báo NY Times và Đảng Dân Chủ không chịu nhìn thấy Trump đang chiến thắng Iran - Trump nói sẽ ghim trong bụng rằng NATO không chịu giúp Mỹ trong cuộc chiến Iran - Trump nói thuế quan toàn cầu đang đưa việc làm về Mỹ, Trump vu khống TP New York là hang ổ cộng sản - BBC xin tòa Mỹ triệu tập cậu Donald Trump Jr., cô Ivanka Trump và con rể Jared Kushner của Trump ra khai vì họ có mặt bên Trump ngày bạo loạn 6/1/2021 - Trump trấn an gia đình các lính Hải quân khủng hoảng tới mức nhảy xuống biển tự : sẽ có tàu khác vào thay sớm
• Hàng Không Mẫu Hạm George Washington Hướng Về Trung Đông, Có Thể Thay USS Lincoln • Trump Ra Lệnh Hải Quân Bỏ Hệ Thống Phóng Phi Cơ Tối Tân, Trở Lại Máy Phóng Hơi Nước • Tòa Bác Đơn Chính Quyền Trump Kiện Harvard Về Kỳ Thị Do Thái • Dân Mỹ Bất Ngờ Bớt Mua Sắm, Doanh Số Bán Lẻ Giảm Mạnh Nhất Hơn Một Năm • DHS Theo Dõi Các Nhóm Thiên Tả Trong Đợt Trấn Áp Di Dân Ở Minnesota • Trump Bật Đèn Xanh Cho Công Ty Mỹ Tấn Công Tin Tặc Ngoại Quốc • Bỏ Qua Đại Công Ty, Bộ Tư Pháp Trump Nhắm Vào Tiểu Thương Gian Lận Nhỏ • Trump Xin Tối Cao Pháp Viện Cho Tiếp Tục Xây Phòng Khiêu Vũ $400 Triệu • Phụ Nữ Afghanistan Bị Xóa Khỏi Đời Sống Công Cộng Sau 5 Năm Taliban Cai Trị • Kennedy Center Bỏ Phiếu Gắn Lại Tên Trump, Đóng Cửa Hai Năm Bất Chấp Lệnh Tòa • Giáo Sĩ Truyền Giáo Mỹ Bị Bắt Cóc Ở Niger Được Trả Tự Do • Thẩm Phán Phạt ICE Hơn $16,900 Vì Chuyển Người Bị Giam Qua Hai Tiểu Bang Trong
GKN Aerospace (GKN) đang xem xét một chương trình có khả năng bồi thường dành cho những người bị ảnh hưởng bởi tai nạn liên quan đến vật liệu nguy hiểm (hazmat) xảy ra vào Tháng Năm, 2026, tại cơ sở của công ty ở Garden Grove. Theo GKN, chương trình sẽ cho phép các cá nhân nộp đơn yêu cầu bồi thường cho những tổn thất liên quan đến lệnh sơ tán vào Tháng Năm. Các thông tin chi tiết bổ sung, bao gồm điều kiện đủ để được bồi thường và hướng dẫn nộp đơn, hiện vẫn chưa được công bố.
Trong năm đầu trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Donald Trump thu về khoảng $59.5 triệu từ việc cho phép các nhà phát triển bất động sản ở nước ngoài dùng thương hiệu “Trump” cho cao ốc, sân golf và khu nghỉ mát. Con số này đến từ phân tích hồ sơ tài chính mới nhất của ông, và cao hơn 71% so với năm 2024, gần gấp mười lần so với 2023. Forbes ước tính tài sản cá nhân của ông hiện khoảng $6.4 tỷ, tăng hơn 25% chỉ trong một năm.
Một ngư dân Ý vừa phát hiện xác một chiếc tàu chở rượu có niên đại hơn 2.000 năm dưới đáy biển ngoài khơi Sicily, cùng hàng loạt vò gốm từng được người La Mã sử dụng để vận chuyển rượu và dầu. Người phát hiện là ngư dân Giacomo de Mola. Trong chuyến lặn hôm thứ Bảy, thiết bị quét dưới nước của ông phát hiện một tín hiệu bất thường. Ban đầu, de Mola cho rằng đó có thể chỉ là một tảng đá, nhưng ông quyết định lặn xuống kiểm tra.
Các vụ lừa đảo liên quan đến nhà cho thuê trên mạng đang gia tăng tại California, trong lúc giá nhà cao và nguồn cung khan hiếm khiến nhiều người phải tìm chỗ ở qua mạng xã hội và các trang rao vặt trực tuyến. Thủ đoạn thường thấy là kẻ gian sao chép hình ảnh và nội dung từ một căn nhà có thật, rồi đăng lại như thể chính họ là chủ nhà hoặc người môi giới. Một số còn dùng trí tuệ nhân tạo để làm quảng cáo trông đáng tin hơn, sau đó đòi tiền giữ chỗ, tiền cọc hoặc lệ phí trước khi nạn nhân kịp kiểm chứng.
Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Hai ký một sắc lệnh nhằm thay đổi sâu rộng lịch chủng ngừa dành cho trẻ em tại Hoa Kỳ, trong đó có việc tách thuốc chủng ngừa sởi, quai bị và rubella, thường gọi là MMR, thành ba mũi ring biệt. Sắc lệnh cũng tìm cách vượt qua thẩm quyền chuyên môn của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ, CDC, cơ quan liên bang lâu nay phụ trách đưa ra các khuyến cáo về chủng ngừa.
Hai đại công ty nhà tù tư nhân CoreCivic và GEO Group vừa báo cáo tổng cộng hơn $1.4 tỷ doanh thu trong quý hai năm nay, giữa lúc số di dân bị chính quyền liên bang giam giữ tăng sát mức kỷ lục. CoreCivic thu $684.9 triệu từ Tháng Tư đến hết Tháng Sáu, tăng hơn 27% so với cùng thời kỳ năm ngoái. GEO Group thu $732.1 triệu, tăng gần $96 triệu, tức khoảng 15%. Con số ấy còn chưa kể khoản $1.6 tỷ CoreCivic thu về sau khi bán bốn trung tâm giam giữ cho Bộ Nội An. Patrick Swindle, tổng giám đốc CoreCivic, nói với giới đầu tư rằng thương vụ này tính ra tương đương khoảng $307,000 cho mỗi giường giam.
Một cuộc nghiên cứu quy mô lớn cho thấy nhiều loài bướm trên thế giới đang thay đổi địa bàn sinh sống, phần lớn do nhiệt độ tăng, thời tiết cực đoan, cùng với sự mất mát môi trường thiên nhiên. Công trình, đăng ngày 5 Tháng Tám trên tạp chí Nature Ecology & Evolution, tổng hợp dữ kiện về 1,758 loài bướm tại 105 quốc gia, tương đương khoảng 10% số loài bướm đã được khoa học biết đến. Các nhà nghiên cứu ước tính khoảng một trong mười loài bướm trên toàn cầu đã thay đổi phạm vi phân bố. “Chúng tôi nhận thấy các loài bướm đang dời địa bàn trên mọi lục địa có bướm sinh sống,” Shawan Chowdhury, nhà sinh học chuyên nghiên cứu những biến đổi toàn cầu tại Đại Học Monash, Úc, và là đồng tác giả công trình, cho biết. Theo ông, hiện tượng này không chỉ xảy ra tại Âu Châu và Bắc Mỹ, hai khu vực lâu nay được nghiên cứu nhiều nhất.
Một nữ sinh 18 tuổi tại Ireland vừa đoạt giải thưởng quốc tế với một loại nhựa có nguồn gốc thực vật, không những tự phân hủy mà còn phóng thích enzyme có khả năng phân hủy một số vi nhựa đã có sẵn trong đất và nước. Arya Satheesh, sống tại Letterkenny, County Donegal, đặt tên phát minh của mình là Eco Purge. Sản phẩm đã giúp cô đoạt giải khu vực Âu Châu của Earth Prize 2026, một cuộc thi môi sinh dành cho học sinh, cùng phần thưởng 12,500 Mỹ kim để tiếp tục hoàn chỉnh mẫu thử nghiệm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.