Hôm nay,  

Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

21/01/202510:31:00(Xem: 6238)
blankBìa sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha.
  
Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

Tạp chí Eurasia Review, ngày 20/1/2025
Tác giả: P. K. Balachandran
Dịch giả: Nguyên Giác
 
(Lời giới thiệu của Nguyên Giác: Phật Giáo chưa bao giờ biến mất khỏi Ấn Độ. Phật Giáo chỉ tàng hình, hội nhập vào văn hóa Ấn Độ. Bài viết nhan đề "Theory That Buddhism Vanished From Its Birthplace, India, Is Being Challenged" [Lý Thuyết Nói Rằng Phật Giáo Biến Mất Khỏi Nơi Xuất Phát, Ấn Độ, Đang Bị Thách Thức] là của P. K. Balachandran, một nhà báo Ấn Độ kỳ cựu làm việc tại Sri Lanka cho các cơ quan truyền thông địa phương và quốc tế và đã viết về các vấn đề Nam Á trong 21 năm qua.  Bài này trên tạp chí Eurasia Review, nhận định về sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" [Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha]. Sau đây là bản Việt dịch.)
   
Sử gia Ấn Độ Shashank Shekhar Sinha đã thách thức lý thuyết được chấp nhận rộng rãi rằng Phật giáo đã biến mất từ thế kỷ 13 ra khỏi Ấn Độ, nơi Phật giáo ra đời. Trong cuốn sách mới nhất của ông, nhan đề "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (NXB Macmillan, New Delhi, 2024), Sinha chỉ ra rằng người Ấn Độ đã có những cuộc tranh luận về giáo lý của Phật giáo và đã đón nhận nhiều giáo lý trong số đó trong nhiều thế kỷ sau khi Phật giáo bị tuyên bố là "đã chết" ở Ấn Độ.
 
Phật giáo chắc chắn đã suy yếu, một phần là do những người cai trị Hồi giáo Ấn Độ bài trừ thần tượng hồi thế kỷ 13, và một phần là do sự tái xuất hiện đồng thời về mặt ý thức hệ của Ấn Độ giáo “Vệ Đà” do các Bà la môn lãnh đạo. Nhưng Phật pháp vẫn là chủ đề chính của cuộc thảo luận ở Ấn Độ và nhiều tín lý của Phật giáo đã được hội nhập vào Ấn Độ giáo. Hiện tượng sau đã đi đến mức mô tả Đức Phật như một tái sinh hoặc hóa thân của Vishnu, và do đó, Đức Phật bị xem như một vị thần Ấn Độ Giáo.
 
Sinha cũng chỉ ra rằng thông qua vai trò của mình trong sự giải phóng xã hội và các phong trào chính trị, Phật giáo đã trở lại vị trí trung tâm trong tư tưởng, chính trị và quan hệ quốc tế của Ấn Độ, đặc biệt là trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20.
 
Sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" chủ yếu nói về các tượng đài Phật giáo và di tích khảo cổ ở Ấn Độ và mối quan hệ của chúng với các văn bản Phật giáo đương thời. Sinha khẳng định rằng các sinh viên học Phật phải đối chiếu những gì họ đọc trong các văn bản với những gì có thể thấy trong các tượng đài di tích và phát hiện khảo cổ, để hiểu rõ và mô tả chính xác các tín ngưỡng, tập tục và văn hóa thịnh hành trong “thời đại Phật giáo” ở Ấn Độ (khi Phật giáo còn thống trị vùng đất rộng lớn).
 
Để tới chủ đề của bài viết này, một sự hồi sinh của Phật giáo đã hiển lộ rõ ràng. Theo những cách quan trọng, Phật giáo đã chiếm vị trí trung tâm trong chính trị Ấn Độ, đặc biệt là trong việc huy động các giai cấp bị áp bức hoặc bị thiệt thòi. Sau đó, trong thời đại Nehruvian (Nehru: Thủ tướng đầu tiên của nước Ấn Độ độc lập), nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ với các quốc gia Phật giáo ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.
 
Nhờ Nehru, các biểu tượng quốc gia của Ấn Độ thực sự là Phật giáo – chẳng hạn như bánh xe Chuyển Pháp Luân và Lion Capital (Tượng đài Sư tử của Vua A Dục) được tìm thấy ở Sarnath. Bánh xe ở trung tâm của lá cờ Ấn Độ, được gọi là Ashoka Chakra (Pháp Luân), đại diện cho Dharmachakra, luật của Pháp, hoặc bánh xe vĩnh cửu của sự công chính. Nó tượng trưng cho quan niệm của Phật giáo về công lý trong xã hội và các nguyên tắc đạo đức nên hướng dẫn các hành động. Pháp Luân cũng đại diện cho cam kết của Ấn Độ trong việc duy trì luật pháp, hòa bình và công lý như một phần bản sắc dân tộc của mình. Một biểu tượng Phật giáo hiện là hiện thân của tầm nhìn về Ấn Độ như một Nhà nước công chính.
 
Các chính phủ Ấn Độ kế tiếp kể từ Nehru đã sử dụng quá khứ Phật giáo của Ấn Độ để thiết lập mối liên kết cộng sinh hoặc văn minh với nhiều quốc gia ở Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á bao gồm Sri Lanka và Myanmar.
 
Đóng góp của phương Tây
Sinha dành nhiều lời khen ngợi cho người phương Tây, chủ yếu là người châu Âu, những người đã tái khám phá Phật giáo và giúp truyền bá nhận thức về Phật giáo trên toàn thế giới. Nhưng ông thách thức quan điểm cho rằng nếu không có người phương Tây, người Ấn Độ sẽ tiếp tục nghĩ rằng Phật giáo đã chết ở đất nước họ hồi thế kỷ 13.
 
Tác phẩm Light of Asia (1879) của Edwin Arnold khẳng định rằng Phật giáo đã được người phương Tây tái khám phá vào thế kỷ 19. Nhưng Sinha lập luận rằng Ấn Độ đã có truyền thống đối thoại với Phật giáo vào thời kỳ tiền Thuộc địa và đầu Thuộc địa. Một văn bản Phật giáo thế kỷ thứ nhất CN bằng tiếng Phạn có tên là Vajrasuchi (Diamond Cutter), được cho là của một Ashwaghosha, chống lại chủ nghĩa giai cấp Bà la môn. Lần đầu tiên nó được xuất bản vào thời hiện đại vào năm 1839, bốn mươi năm trước khi cuốn sách của Edwin Arnold được xuất bản. (1)
 
Sinha cho biết bản dịch tiếng Anh của Vajrasuchi đã gây tiếng vang khắp Ấn Độ và châu Âu trong số những nhà cải cách xã hội và các nhà truyền giáo Cơ đốc giáo. Nó đã được dịch sang tiếng Hindi, tiếng Bengal, tiếng Tamil và tiếng Nepal.
 
Nhờ sự mở rộng của thương mại, vào thế kỷ 12 và 13, phương Tây bắt đầu nghe nói về Phật giáo ở Ấn Độ. Marco Polo (1254–1324) đã đưa ra một báo cáo về nó. Nhưng trọng tâm của người phương Tây là Đông Nam Á hơn là Ấn Độ.
 
Những lữ khách châu Âu và thương gia lưu động đã nhìn thấy các bảo tháp và tu viện, nhưng chúng ở trong tình trạng rất đổ nát và không có mối liên hệ rõ ràng nào với Phật giáo. Ví dụ, ngài Huyền Trang (Xuanzang) đã tìm thấy hình ảnh của Đức Phật trong các ngôi đền Hindu và kết luận rằng Ấn Độ giáo đã hấp thụ Phật giáo. Nhưng thực tế, Bà la môn giáo đã phản đối gay gắt việc pha trộn Phật giáo vào với Ấn Độ giáo. Nhưng dù vậy, việc tiếp nhận các ý tưởng và hình thức thờ cúng của Phật giáo của tín đồ Hindu vẫn tiếp tục.
 
Trong những lần tương tác đầu tiên với Ấn Độ, các học giả và người nhiệt tâm châu Âu đã tranh luận liệu Đức Phật có phải là một nhân vật huyền thoại hay một nhân vật có thật, một "nhân vật lịch sử" như Chúa Jesus hay Mohammad. Một câu hỏi khác là liệu Đức Phật có sinh ra ở Ấn Độ hay Ba Tư (Persia) hay Mông Cổ (Mongolia) không.
 
Các văn bản mà người phương Tây có thể tiếp cận vào thời điểm đó là tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) chứ không phải tiếng Pali, ngôn ngữ mà Đức Phật sử dụng. (2) Và tài liệu liên quan đến trường phái Phật giáo Đại thừa. Nhưng việc nghiên cứu Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau tại Đông Nam Á và Ấn Độ dần dần thuyết phục các nhà nghiên cứu rằng tất cả chúng đều là một phần hoặc là các biến thể của một tôn giáo - Phật giáo và nguồn gốc của nó là ở Ấn Độ.
 
Eugene Burnauf (1801-1852) là người châu Âu đầu tiên viết một cuốn sách về “Phật giáo Ấn Độ” hay Phật giáo như được thực hành ở Ấn Độ. Cuốn sách dựa trên các bản thảo tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) từ Nepal. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng các văn bản từ Tây Tạng và Trung Quốc thực chất là bản dịch các văn bản Ấn Độ.
 
Vào cuối thế kỷ 19, các văn bản tiếng Pali đã được khám phá và dịch. Thomas William Rhys-Davids đã thành lập Hội Văn bản tiếng Pali (Pali Text Society) vào năm 1881 để thu thập, dịch và xuất bản ra.
 
Một nghiên cứu sâu về các văn bản tiếng Pali cho thấy Đức Phật là một nhà cải cách xã hội, thách thức sự thống trị của người Bà la môn và sự nắm giữ các nghi lễ và lễ hiến tế của Vệ Đà. Các học giả cũng cảm nhận được rằng có sự khác biệt giữa những lời dạy ban đầu của Đức Phật và các đệ tử trực tiếp của ngài, cũng như các lời kể và nội dung thêm vào sau này.

 
Khám phá các di tích
Trong khi các học giả đắm chìm trong các bản thảo của họ, các bức tranh về các địa điểm ở Ấn Độ, một số có liên quan đến Phật giáo, đã xuất hiện trên các ấn phẩm của châu Âu. William Daniel đã xuất bản các bản khắc (engravings) của mình vào năm 1830. Các bản in thạch bản (lithographs) của Charles D'Oyly xuất hiện vào năm 1838.
 
Sự ra đời của ngành khảo cổ học ở Ấn Độ vào thế kỷ 19 đã góp phần làm tăng thêm kiến thức về Phật giáo ở Ấn Độ. Nhưng đợt khai quật khảo cổ đầu tiên không phải do các chuyên gia thực hiện mà do các viên chức Anh thực hiện vì tò mò. Một người nghiệp dư, Colin Mackenzie, đã tìm thấy tàn tích của một bảo tháp ở Amaravati ở Andhra Pradesh vào năm 1798. Năm 1800, một bác sĩ đã khai quật một bảo tháp ở Vaishali ở Bihar. Năm 1905, trong quá trình khai quật khác ở Sarnath ở Uttar Pradesh, người ta đã phát hiện ra Tượng đài Sư tử của Vua Ashoka.
 
Các bảo tháp ở Sanchi ở Madhya Pradesh được Tướng Taylor phát hiện vào năm 1818. Sikh Maharaja Ranjit Singh của Punjab đã tiến hành khai quật ở Manikyala ở Tây Bắc Ấn Độ vào năm 1830, và sau đó là các cuộc khai quật tiếp theo ở khu vực Gandhara (nay thuộc Pakistan) của Alexander Burns và Charles Masson. Vì Burns và Massons tìm thấy tiền xu Hy Lạp (Greek coins) trong các bảo tháp, họ nghĩ rằng các bảo tháp là lăng mộ của các vị vua Hy Lạp.
 
Từ năm 1834 đến năm 1837, James Prinsep, một chuyên gia thử nghiệm (một viên chức được bổ nhiệm để thử trọng lượng và độ mịn của kim loại quý) đã có thể giải mã các chữ viết Brahmi và Kharoshthi trên tiền xu và bảo tháp. Điều này là do Prinsep có mối quan hệ ở Phật giáo Ceylon (Tích Lan) như công chức George Turnour và các nhà sư Phật giáo mà Turnour biết trong thời gian ông được bổ nhiệm ở quận Sabragamuwa.
 
Năm 1861, với việc thành lập Cục Khảo cổ học Ấn Độ (ASI: Archaeological Survey of India) và việc bổ nhiệm Tướng Sir Alexander Cunningham làm Tổng giám đốc, các khám phá đã tăng lên gấp bội. Cunningham đã lần theo dấu vết các công trình kiến trúc được các nhà du hành Trung Quốc là Faxian (Pháp Hiển, thế kỷ thứ 4 và thứ 5 sau Công nguyên) và Xuanzang (thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên) đề cập. Năm 1830, các tác phẩm của Faxian và Xuanzang đã được xuất bản, đầu tiên bằng tiếng Pháp trước, rồi sau đó là tiếng Anh.
 
Từ năm 1861 đến 1865, Cunningham đã xác định được 160 địa điểm Phật giáo ở Bắc Ấn Độ. Khu vực Gandhara (nay là Pakistan và Afghanistan) đã được khai quật và tượng Phật Bamiyan đã được phát hiện ở Afghanistan. Đến năm 1884, quần thể đền Mahabodhi ở Bodh Gaya ở Bihar đã được khôi phục. Nó đã trở thành một trong bốn địa điểm linh thiêng liên quan đến cuộc đời của Đức Phật, và đặc biệt là đến sự giác ngộ.
 
Quần thể Đền Mahabodhi được Hoàng đế Asoka xây dựng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Ngôi đền hiện tại (sau đó được tân trang) được xây dựng vào thời kỳ Gupta (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên). Đây là một trong những ngôi đền Phật giáo đầu tiên được xây dựng hoàn toàn bằng gạch, hiện vẫn còn tồn tại. Sinha cho biết ngôi đền này được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của kiến trúc gạch trong nhiều thế kỷ.
 
Tổng giám đốc tiếp theo của Khảo sát Khảo cổ học, Ngài John Marshall (1902-28), quan tâm nhiều hơn đến việc khám phá và phục hồi các bảo tháp và tu viện liên quan đến Hoàng đế Asoka.
 
“Những di tích của bảo tháp được liên hệ với nội dung trong các văn bản viết để có được bức tranh toàn cảnh về các ý tưởng và thực hành của Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau. Các tác phẩm điêu khắc đã đưa ra bằng chứng về các thực hành của Phật giáo. Tiền xu, chữ khắc và hiện vật đã giúp kể câu chuyện chính xác hơn. Marshall đã có thể liên kết các địa điểm của Asoka với văn bản Phật giáo Divyavadana vào thế kỷ thứ 5,” theo Sinha chỉ ra.
 
Sự say mê với các tôn giáo thế giới là một đặc điểm của đời sống trí thức phương Tây vào nửa sau thế kỷ 19. Sự quan tâm đến Phật giáo, Ấn Độ giáo và các giáo phái cải cách ngày càng tăng. Tác phẩm The Light of Asia (1879) của Edwin Arnold là một tác phẩm chuyển thể từ văn bản Phật giáo Lalitavistara, một bài thơ tự sự về cuộc đời, thời đại và triết lý của Đức Phật. The Light of Asia đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ Ấn Độ. Ngay sau đó, nó đã truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo hàng đầu của Ấn Độ như B.R.Ambedkar, Jawaharlal Nehru và Rabindranath Tagore. Hội nghị "World Parliament of Religions" (Quốc hội thế giới về tôn giáo) được tổ chức tại Chicago vào năm 1893, nơi Anagarika Dharmapala của Ceylon đã có bài giảng về "Món nợ của thế giới đối với Phật giáo".
 
Các phong trào cải cách của đạo Hindu như Brahmo Samaj và Prarthana Samaj cũng góp phần tạo nên sự quan tâm đến Phật giáo. Các cộng đồng Phật giáo được thành lập ở nhiều nơi tại Ấn Độ và các cộng đồng này đã sản sinh ra nền văn học Phật giáo. Tagore đã đưa các chủ đề Phật giáo vào các tác phẩm nghệ thuật của mình.
 
Ngay cả Hindu Mahasabha cũng bảo trợ cho Phật giáo mặc dù họ cho rằng Phật giáo chỉ là "Ấn Độ giáo cải cách" chứ không phải là một tôn giáo riêng biệt. Sinha tiết lộ rằng các doanh nghiệp Hindu cũng ủng hộ và truyền bá Phật giáo.
 
Hindu Birlas bảo trợ cho Phật giáo. Jugal Kishore Birla (1883-1967) đã tài trợ cho 15 ngôi chùa Phật giáo lớn. Ông đã tài trợ cho bản dịch tiếng Hindi của các văn bản tiếng Pali. J.K.Birla được hỗ trợ bởi những người theo chủ nghĩa cánh tả và chủ nghĩa Marx như D.N.Kosambi và Rahul Sankritayayan.
 
Do đó, không có tranh chấp nào về việc các ý tưởng và tín ngưỡng Phật giáo vẫn tồn tại, mặc dù nằm ở rìa của tư tưởng tôn giáo ở tiểu lục địa Ấn Độ. Theo diễn tiến đó, không thể nói chỉ nhờ công lao của châu Âu trong việc khám phá hoặc phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ, theo Sinha lý luận.
 
Phật giáo cũng truyền cảm hứng cho các phong trào chống giai cấp và các nỗ lực xây dựng một xã hội bình đẳng thông qua Hiến pháp của Ấn Độ độc lập. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập, Phật giáo đã được đưa vào nghệ thuật cầm quyền, xây dựng quốc gia và quan hệ quốc tế.
 
Các chính trị gia sử dụng Phật giáo để thúc đẩy các ý tưởng bình đẳng. Ngay cả những người theo đạo Ấn Độ chính thống về giai cấp cũng đang lợi dụng Phật giáo để giải thích Ấn Độ giáo Bà la môn như chứa đựng trong chính nó đã có ý tưởng Phật giáo về một xã hội không có giai cấp. Họ nói Đức Phật là hóa thân thứ 9 của Thần Vishnu của Ấn Độ giáo.
 
Ấn Độ đang sử dụng quá khứ Phật giáo của mình để thiết lập các mối liên kết “văn minh” với các quốc gia Phật giáo và đang quảng bá các di tích Phật giáo của mình để thu hút khách hành hương và khách du lịch từ Châu Á. Thật vậy, như Sinha nói: “Đức Phật đã lại chiếm giữ sân khấu trung tâm lần nữa”.
.
NGUỒN: https://www.eurasiareview.com/20012025-theory-that-buddhism-vanished-from-its-birthplace-india-is-being-challenged-book-review/
.
Ghi chú của Nguyên Giác:
(1) Vajrasuchi là tác phẩm thuộc hệ Upanishad (Áo nghĩa thư) của Ấn Độ Giáo lại mang tư tưởng Phật giáo, chống tư tưởng giai cấp của Ấn Độ Giáo, vì nói rằng mọi người ở cả bốn giai cấp đều bình đẳng, đều có khả năng giác ngộ. Ashwaghosha là những người chịu ảnh hưởng của Thiền sư Phật giáo Mã Minh [Aśvaghoṣa]. Lịch sử chỗ này không minh bạch, đầy những giả thuyết. Nhưng văn bản đó hiển nhiên là có ảnh hưởng từ Phật giáo.
(2) Điểm này rất khả vấn. Theo truyền thống Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravada), tiếng Pali được coi là ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng, vì nó liên quan đến "Magadhi", ngôn ngữ được nói ở vương quốc nơi Đức Phật sống; tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học vẫn tranh luận liệu tiếng Pali có chính xác là ngôn ngữ mà Đức Phật nói hay không, vì kinh văn kể  Đức Phật sử dụng nhiều ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ hơn với các ngôn ngữ Prakrit khác ở Tây Ấn Độ.

Hiện có 3.572 công dân Việt Nam làm việc ở Nam Hàn theo diện chuyên gia (như về robot) với thị thực E-7-1, nhiều gấp đôi 4 năm trước. - Trump: chuyển Khải Hoàn Môn 76 mét thành đa dụng, dùng làm pháo đài UAV và lính bắn tỉa // Chỉ có 21% người Mỹ ủng hộ xây Khải Hoàn Môn, 52% phản đối mạnh mẽ.// Trump bị tố phá hoại mỹ thuật: Khải Hoàn Môn sẽ làm ngứa mắt khoảng 37 tượng đài lịch sử chung quanh.// Cần ngọn lửa vĩnh cửu để phi cơ không đụng vào // 3 cựu chiến binh kiện, xin tòa cấm xây // Dân Chủ: luật buộc xây ở thủ đô phải xin phép Quốc Hội // Trump cho đào đất xây móng 20 giờ/ ngày trước khi tòa kịp ngăn cản // Cục Công viên Quốc gia sẽ ý kiến vào tháng 11. - Giá dầu toàn cầu ở mức cao, dao động quanh 100 USD/thùng, vì quân Houthi bắn hư 3 trạm bơm dầu của Saudi Arabia.//
(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)
Tháng Sáu, năm mươi mốt năm trước, bắt đầu bằng một lời hứa ba mươi ngày của Ủy ban Quân Quản TP Sài Gòn. Ba mươi ngày để học tập, để rồi ba mươi ngày trôi qua, tháng nối tháng, năm chồng lên năm của tù đày cải tạo, và có những người đã không bao giờ trở về. Mùa hạ năm ấy, chiến tranh được tuyên bố là đã chấm dứt, nhưng đối với hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam, một cuộc chiến khác vừa mở ra
cơ nguy phòng phiếu sẽ bị Trump đưa lính tới bố ráp, lấy cớ DEI (Diversity, Equity, and Inclusion: Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập). . Bản tin sau đây là từ báo Georgia Recorder hôm Thứ Bảy 19/9/2026 có tựa đề "Three Georgia counties flagged by Trump administration for using non-English election materials" (Ba quận tại Georgia bị chính quyền Trump đưa vào danh sách theo dõi vì sử dụng tài liệu bầu cử không phải tiếng Anh)
- Thỏa thuận an ninh về Greenland giữa Mỹ và Đan Mạch. - Mỹ mở đường cho thương vụ quốc phòng $2,7 tỷ với Ukraine. - Ca sĩ Duncan Sheik qua đời ở tuổi 56. - AI Gemini của Google tự truy cập vào ba công ty. - California thúc đẩy cơ chế “kill switch” cho AI. - Phi trường Luxembourg đóng cửa vì drone. - Saudi Arabia báo động không kích tại thủ đô Riyadh. - Không lực Ba Lan trong tình trạng báo động sau các cuộc tấn công của Nga tại Ukraine. - Khí hậu nóng lên khiến virus West Nile lan rộng.
Camera ALPR của Flock được bán cho các thành phố như một công cụ bảo đảm an toàn công cộng, nhưng cũng có thể được sử dụng để theo dõi và bắt giữ người dân. Mục tiêu có thể là di dân hay các mục tiêu chính trị, không ai lường trước được.
NEW YORK — Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Sáu, 18 tháng Chín, tuyên bố cấm CNN, MS NOW và Politico vào Bạch Ốc vì những cơ quan truyền thông này, theo lời ông, liên tục loan “tin giả.” Ông cũng nói có thể sẽ còn thêm những báo đài khác bị cấm. Ông Trump loan báo trên mạng xã hội rằng lệnh cấm có hiệu lực “ngay lập tức.” Ít phút sau, khi được hỏi tại Phòng Bầu Dục, ông trả lời ngắn gọn: “Vì họ là tin giả.”
Bản tin sau đây của USA Today hôm Thứ Sáu 18/9/2026: "Công tắc ngắt khẩn cấp" (kill switch) cho AI có thể dẫn đến việc ngắt kết nối cả Internet. Trong bối cảnh các nhà lãnh đạo ngành và các nhà hoạch định chính sách đang kêu gọi nhau kiểm soát và làm chậm tốc độ phát triển chóng mặt của trí tuệ nhân tạo (AI), ý tưởng về một "công tắc ngắt khẩn cấp" (kill switch) cho AI đang ngày càng thu hút sự chú ý.
Bản tin sau là của ABC News hôm Thứ Năm, ngày 17/9/2026. Uber bị yêu cầu bồi thường 40 triệu USD cho cha mẹ của người phụ nữ bị xe tông chết sau khi bị bỏ lại trên đường cao tốc ở Quận Cam (Orange County).
• Dân Biểu Cộng Hòa Miami Tung Quảng Cáo Chống Cách Trump Trục Xuất Di Dâ • Bầu cử sớm giữa nhiệm kỳ đã chính thức bắt đầu tại Hoa Kỳ • Cộng Hòa Thượng Viện Bênh Tối Cao Pháp Viện, Fed Bác Lời Công Kích Của Trump • Tòa Buộc Chính Phủ Báo Trước 30 Ngày Nếu Muốn Phá Kennedy Center • Dân Chủ Thượng Viện Đòi Ngũ Giác Đài Công Khai Chi Phí Chiến Tranh Iran • Hai Vụ Kiện Đòi Chặn ICE, Đặc Vụ Liên Bang Khỏi Phòng Phiếu • Trump Nới Lỏng Luật Săn Bắn, Câu Cá; Hứa ‘Outdoors Act 2.0’ • Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Tillis: Hegseth ‘Phải Ra Đi’ • Kennedy Nói Với Nhóm Chống Chủng Ngừa: ‘Quý Vị Có Một Người Bạn Trong Bạch Ốc’ • Tòa Bác Lệnh Trump Cắt $600 Triệu Huấn Luyện Giáo Viên • Interpol Dùng ‘Silver Notice’ Truy Tài Sản Phi Pháp Khắp Thế Giới • Đài Loan Lần Đầu Tập Trận Phối Hợp Drone Tấn Công Trước Cuộc Gặp Trump–Tập • Nga Phản Đối Nhật Cho Mỹ Đặt Hỏa Tiễn Typhon • Nga, Trung Quốc Phủ Quyết Gia Hạn Giám Sát Chế Tài Iran Của LHQ • Iran Tuyên Bố Đánh Tàu Dầu Vượt Eo Biển Hormuz
Định cư vào Hoa Kỳ là một đặc ân, không phải là một quyền. Những người muốn xin chiếu khán định cư Hoa Kỳ phải chứng minh rằng họ sẽ mang lại lợi ích cho đất nước, chứ không trở thành gánh nặng cho xã hội. Bộ Ngoại giao hiện đang triển khai một quy trình cho phép các viên chức lãnh sự yêu cầu một số đương đơn xin chiếu khán định cư phải nộp Ký quỹ Gánh nặng xã hội (Public Charge Bond) thông qua Sở di trú. Quy trình này hiện đang được áp dụng dưới hình thức chương trình thí điểm. Các đương đơn xin chiếu khán định cư có thể tìm cách khắc phục việc bị từ chối vì lý do "gánh nặng xã hội" bằng cách nộp đầy đủ bằng chứng chứng minh rằng họ ít có khả năng trở thành gánh nặng xã hội sau khi được nhập cảnh vào Hoa Kỳ.
Nền dân chủ Hoa Kỳ đã xuống mức thấp nhất trong nửa thế kỷ, với nhiều thước đo căn bản như tự do báo chí, tự do ngôn luận, nền tư pháp độc lập và hiệu năng của Quốc Hội cùng suy giảm, theo phúc trình thường niên công bố ngày 15 tháng Chín của Viện Quốc Tế về Dân Chủ và Hỗ Trợ Bầu Cử (International Institute for Democracy and Electoral Assistance, gọi tắt là International IDEA). Phúc trình The Global State of Democracy 2026, theo dõi 174 quốc gia với dữ kiện từ năm 1975, cho biết gần một nửa trong số 30 thước đo dân chủ của Hoa Kỳ hiện ở mức thấp nhất kể từ khi tổ chức bắt đầu thu thập dữ kiện cách đây 50 năm.
Hơn $130 triệu tiền học bổng CalKIDS hiện dành sẵn cho học sinh đủ điều kiện tại Orange County, nhưng muốn sử dụng số tiền này, gia đình trước hết phải kiểm tra và xác nhận phần học bổng của con em mình. Trong tháng Chín, chương trình California Kids Investment and Development Savings Program (CalKIDS) mở Tháng Học Bổng CalKIDS đầu tiên trên toàn tiểu bang, phối hợp với các sở giáo dục quận hạt và học khu để giúp phụ huynh, học sinh kiểm tra điều kiện và nhận tiền ngay tại trường.
Một phụ nữ 40 tuổi tại Pennsylvania qua đời hôm Thứ Bảy, 12 tháng Chín, vì biến chứng bệnh sởi, giữa lúc dịch sởi tại tiểu bang này đã khiến 676 người mắc bệnh và 124 người phải vào bệnh viện. Greg Furlong, viên chức giảo nghiệm Jefferson County, cho biết người phụ nữ là cư dân trong quận. Văn phòng của ông đang phối hợp với Bộ Y Tế Pennsylvania để xác định rõ nguyên nhân tử vong. “Đây là một mất mát đau lòng cho gia đình và cũng là lời nhắc nhở rằng bệnh sởi có thể trở nên trầm trọng, thậm chí chết người,” Furlong nói.
Hoa Kỳ, quốc gia có Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ quyền tự do báo chí, nay đứng hạng 64 trong số 180 quốc gia và lãnh thổ về tự do báo chí — ngay sau Botswana. Theo bảng Chỉ Số Tự Do Báo Chí Thế Giới 2026 của Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Without Borders, gọi tắt là RSF), Hoa Kỳ tụt bảy bậc, từ hạng 57 năm ngoái xuống hạng 64 năm nay. Botswana đứng thứ 63, Panama thứ 65. RSF nhận định tự do báo chí tại Hoa Kỳ đang trải qua một thời kỳ suy giảm “đáng kể và kéo dài,” và tình trạng này trở nên trầm trọng hơn sau khi Tổng Thống Donald Trump trở lại Bạch Ốc. Hai chỉ số xuống mạnh nhất là chính trị và an toàn. Điểm chính trị của Hoa Kỳ giảm từ 62.38 năm 2025 xuống 53.59 năm nay; điểm an toàn của giới làm báo giảm từ 78.03 xuống 69.68.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.