Hôm nay,  

Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

21/01/202510:31:00(Xem: 6299)
blankBìa sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha.
  
Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

Tạp chí Eurasia Review, ngày 20/1/2025
Tác giả: P. K. Balachandran
Dịch giả: Nguyên Giác
 
(Lời giới thiệu của Nguyên Giác: Phật Giáo chưa bao giờ biến mất khỏi Ấn Độ. Phật Giáo chỉ tàng hình, hội nhập vào văn hóa Ấn Độ. Bài viết nhan đề "Theory That Buddhism Vanished From Its Birthplace, India, Is Being Challenged" [Lý Thuyết Nói Rằng Phật Giáo Biến Mất Khỏi Nơi Xuất Phát, Ấn Độ, Đang Bị Thách Thức] là của P. K. Balachandran, một nhà báo Ấn Độ kỳ cựu làm việc tại Sri Lanka cho các cơ quan truyền thông địa phương và quốc tế và đã viết về các vấn đề Nam Á trong 21 năm qua.  Bài này trên tạp chí Eurasia Review, nhận định về sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" [Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha]. Sau đây là bản Việt dịch.)
   
Sử gia Ấn Độ Shashank Shekhar Sinha đã thách thức lý thuyết được chấp nhận rộng rãi rằng Phật giáo đã biến mất từ thế kỷ 13 ra khỏi Ấn Độ, nơi Phật giáo ra đời. Trong cuốn sách mới nhất của ông, nhan đề "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (NXB Macmillan, New Delhi, 2024), Sinha chỉ ra rằng người Ấn Độ đã có những cuộc tranh luận về giáo lý của Phật giáo và đã đón nhận nhiều giáo lý trong số đó trong nhiều thế kỷ sau khi Phật giáo bị tuyên bố là "đã chết" ở Ấn Độ.
 
Phật giáo chắc chắn đã suy yếu, một phần là do những người cai trị Hồi giáo Ấn Độ bài trừ thần tượng hồi thế kỷ 13, và một phần là do sự tái xuất hiện đồng thời về mặt ý thức hệ của Ấn Độ giáo “Vệ Đà” do các Bà la môn lãnh đạo. Nhưng Phật pháp vẫn là chủ đề chính của cuộc thảo luận ở Ấn Độ và nhiều tín lý của Phật giáo đã được hội nhập vào Ấn Độ giáo. Hiện tượng sau đã đi đến mức mô tả Đức Phật như một tái sinh hoặc hóa thân của Vishnu, và do đó, Đức Phật bị xem như một vị thần Ấn Độ Giáo.
 
Sinha cũng chỉ ra rằng thông qua vai trò của mình trong sự giải phóng xã hội và các phong trào chính trị, Phật giáo đã trở lại vị trí trung tâm trong tư tưởng, chính trị và quan hệ quốc tế của Ấn Độ, đặc biệt là trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20.
 
Sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" chủ yếu nói về các tượng đài Phật giáo và di tích khảo cổ ở Ấn Độ và mối quan hệ của chúng với các văn bản Phật giáo đương thời. Sinha khẳng định rằng các sinh viên học Phật phải đối chiếu những gì họ đọc trong các văn bản với những gì có thể thấy trong các tượng đài di tích và phát hiện khảo cổ, để hiểu rõ và mô tả chính xác các tín ngưỡng, tập tục và văn hóa thịnh hành trong “thời đại Phật giáo” ở Ấn Độ (khi Phật giáo còn thống trị vùng đất rộng lớn).
 
Để tới chủ đề của bài viết này, một sự hồi sinh của Phật giáo đã hiển lộ rõ ràng. Theo những cách quan trọng, Phật giáo đã chiếm vị trí trung tâm trong chính trị Ấn Độ, đặc biệt là trong việc huy động các giai cấp bị áp bức hoặc bị thiệt thòi. Sau đó, trong thời đại Nehruvian (Nehru: Thủ tướng đầu tiên của nước Ấn Độ độc lập), nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ với các quốc gia Phật giáo ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.
 
Nhờ Nehru, các biểu tượng quốc gia của Ấn Độ thực sự là Phật giáo – chẳng hạn như bánh xe Chuyển Pháp Luân và Lion Capital (Tượng đài Sư tử của Vua A Dục) được tìm thấy ở Sarnath. Bánh xe ở trung tâm của lá cờ Ấn Độ, được gọi là Ashoka Chakra (Pháp Luân), đại diện cho Dharmachakra, luật của Pháp, hoặc bánh xe vĩnh cửu của sự công chính. Nó tượng trưng cho quan niệm của Phật giáo về công lý trong xã hội và các nguyên tắc đạo đức nên hướng dẫn các hành động. Pháp Luân cũng đại diện cho cam kết của Ấn Độ trong việc duy trì luật pháp, hòa bình và công lý như một phần bản sắc dân tộc của mình. Một biểu tượng Phật giáo hiện là hiện thân của tầm nhìn về Ấn Độ như một Nhà nước công chính.
 
Các chính phủ Ấn Độ kế tiếp kể từ Nehru đã sử dụng quá khứ Phật giáo của Ấn Độ để thiết lập mối liên kết cộng sinh hoặc văn minh với nhiều quốc gia ở Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á bao gồm Sri Lanka và Myanmar.
 
Đóng góp của phương Tây
Sinha dành nhiều lời khen ngợi cho người phương Tây, chủ yếu là người châu Âu, những người đã tái khám phá Phật giáo và giúp truyền bá nhận thức về Phật giáo trên toàn thế giới. Nhưng ông thách thức quan điểm cho rằng nếu không có người phương Tây, người Ấn Độ sẽ tiếp tục nghĩ rằng Phật giáo đã chết ở đất nước họ hồi thế kỷ 13.
 
Tác phẩm Light of Asia (1879) của Edwin Arnold khẳng định rằng Phật giáo đã được người phương Tây tái khám phá vào thế kỷ 19. Nhưng Sinha lập luận rằng Ấn Độ đã có truyền thống đối thoại với Phật giáo vào thời kỳ tiền Thuộc địa và đầu Thuộc địa. Một văn bản Phật giáo thế kỷ thứ nhất CN bằng tiếng Phạn có tên là Vajrasuchi (Diamond Cutter), được cho là của một Ashwaghosha, chống lại chủ nghĩa giai cấp Bà la môn. Lần đầu tiên nó được xuất bản vào thời hiện đại vào năm 1839, bốn mươi năm trước khi cuốn sách của Edwin Arnold được xuất bản. (1)
 
Sinha cho biết bản dịch tiếng Anh của Vajrasuchi đã gây tiếng vang khắp Ấn Độ và châu Âu trong số những nhà cải cách xã hội và các nhà truyền giáo Cơ đốc giáo. Nó đã được dịch sang tiếng Hindi, tiếng Bengal, tiếng Tamil và tiếng Nepal.
 
Nhờ sự mở rộng của thương mại, vào thế kỷ 12 và 13, phương Tây bắt đầu nghe nói về Phật giáo ở Ấn Độ. Marco Polo (1254–1324) đã đưa ra một báo cáo về nó. Nhưng trọng tâm của người phương Tây là Đông Nam Á hơn là Ấn Độ.
 
Những lữ khách châu Âu và thương gia lưu động đã nhìn thấy các bảo tháp và tu viện, nhưng chúng ở trong tình trạng rất đổ nát và không có mối liên hệ rõ ràng nào với Phật giáo. Ví dụ, ngài Huyền Trang (Xuanzang) đã tìm thấy hình ảnh của Đức Phật trong các ngôi đền Hindu và kết luận rằng Ấn Độ giáo đã hấp thụ Phật giáo. Nhưng thực tế, Bà la môn giáo đã phản đối gay gắt việc pha trộn Phật giáo vào với Ấn Độ giáo. Nhưng dù vậy, việc tiếp nhận các ý tưởng và hình thức thờ cúng của Phật giáo của tín đồ Hindu vẫn tiếp tục.
 
Trong những lần tương tác đầu tiên với Ấn Độ, các học giả và người nhiệt tâm châu Âu đã tranh luận liệu Đức Phật có phải là một nhân vật huyền thoại hay một nhân vật có thật, một "nhân vật lịch sử" như Chúa Jesus hay Mohammad. Một câu hỏi khác là liệu Đức Phật có sinh ra ở Ấn Độ hay Ba Tư (Persia) hay Mông Cổ (Mongolia) không.
 
Các văn bản mà người phương Tây có thể tiếp cận vào thời điểm đó là tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) chứ không phải tiếng Pali, ngôn ngữ mà Đức Phật sử dụng. (2) Và tài liệu liên quan đến trường phái Phật giáo Đại thừa. Nhưng việc nghiên cứu Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau tại Đông Nam Á và Ấn Độ dần dần thuyết phục các nhà nghiên cứu rằng tất cả chúng đều là một phần hoặc là các biến thể của một tôn giáo - Phật giáo và nguồn gốc của nó là ở Ấn Độ.
 
Eugene Burnauf (1801-1852) là người châu Âu đầu tiên viết một cuốn sách về “Phật giáo Ấn Độ” hay Phật giáo như được thực hành ở Ấn Độ. Cuốn sách dựa trên các bản thảo tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) từ Nepal. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng các văn bản từ Tây Tạng và Trung Quốc thực chất là bản dịch các văn bản Ấn Độ.
 
Vào cuối thế kỷ 19, các văn bản tiếng Pali đã được khám phá và dịch. Thomas William Rhys-Davids đã thành lập Hội Văn bản tiếng Pali (Pali Text Society) vào năm 1881 để thu thập, dịch và xuất bản ra.
 
Một nghiên cứu sâu về các văn bản tiếng Pali cho thấy Đức Phật là một nhà cải cách xã hội, thách thức sự thống trị của người Bà la môn và sự nắm giữ các nghi lễ và lễ hiến tế của Vệ Đà. Các học giả cũng cảm nhận được rằng có sự khác biệt giữa những lời dạy ban đầu của Đức Phật và các đệ tử trực tiếp của ngài, cũng như các lời kể và nội dung thêm vào sau này.

 
Khám phá các di tích
Trong khi các học giả đắm chìm trong các bản thảo của họ, các bức tranh về các địa điểm ở Ấn Độ, một số có liên quan đến Phật giáo, đã xuất hiện trên các ấn phẩm của châu Âu. William Daniel đã xuất bản các bản khắc (engravings) của mình vào năm 1830. Các bản in thạch bản (lithographs) của Charles D'Oyly xuất hiện vào năm 1838.
 
Sự ra đời của ngành khảo cổ học ở Ấn Độ vào thế kỷ 19 đã góp phần làm tăng thêm kiến thức về Phật giáo ở Ấn Độ. Nhưng đợt khai quật khảo cổ đầu tiên không phải do các chuyên gia thực hiện mà do các viên chức Anh thực hiện vì tò mò. Một người nghiệp dư, Colin Mackenzie, đã tìm thấy tàn tích của một bảo tháp ở Amaravati ở Andhra Pradesh vào năm 1798. Năm 1800, một bác sĩ đã khai quật một bảo tháp ở Vaishali ở Bihar. Năm 1905, trong quá trình khai quật khác ở Sarnath ở Uttar Pradesh, người ta đã phát hiện ra Tượng đài Sư tử của Vua Ashoka.
 
Các bảo tháp ở Sanchi ở Madhya Pradesh được Tướng Taylor phát hiện vào năm 1818. Sikh Maharaja Ranjit Singh của Punjab đã tiến hành khai quật ở Manikyala ở Tây Bắc Ấn Độ vào năm 1830, và sau đó là các cuộc khai quật tiếp theo ở khu vực Gandhara (nay thuộc Pakistan) của Alexander Burns và Charles Masson. Vì Burns và Massons tìm thấy tiền xu Hy Lạp (Greek coins) trong các bảo tháp, họ nghĩ rằng các bảo tháp là lăng mộ của các vị vua Hy Lạp.
 
Từ năm 1834 đến năm 1837, James Prinsep, một chuyên gia thử nghiệm (một viên chức được bổ nhiệm để thử trọng lượng và độ mịn của kim loại quý) đã có thể giải mã các chữ viết Brahmi và Kharoshthi trên tiền xu và bảo tháp. Điều này là do Prinsep có mối quan hệ ở Phật giáo Ceylon (Tích Lan) như công chức George Turnour và các nhà sư Phật giáo mà Turnour biết trong thời gian ông được bổ nhiệm ở quận Sabragamuwa.
 
Năm 1861, với việc thành lập Cục Khảo cổ học Ấn Độ (ASI: Archaeological Survey of India) và việc bổ nhiệm Tướng Sir Alexander Cunningham làm Tổng giám đốc, các khám phá đã tăng lên gấp bội. Cunningham đã lần theo dấu vết các công trình kiến trúc được các nhà du hành Trung Quốc là Faxian (Pháp Hiển, thế kỷ thứ 4 và thứ 5 sau Công nguyên) và Xuanzang (thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên) đề cập. Năm 1830, các tác phẩm của Faxian và Xuanzang đã được xuất bản, đầu tiên bằng tiếng Pháp trước, rồi sau đó là tiếng Anh.
 
Từ năm 1861 đến 1865, Cunningham đã xác định được 160 địa điểm Phật giáo ở Bắc Ấn Độ. Khu vực Gandhara (nay là Pakistan và Afghanistan) đã được khai quật và tượng Phật Bamiyan đã được phát hiện ở Afghanistan. Đến năm 1884, quần thể đền Mahabodhi ở Bodh Gaya ở Bihar đã được khôi phục. Nó đã trở thành một trong bốn địa điểm linh thiêng liên quan đến cuộc đời của Đức Phật, và đặc biệt là đến sự giác ngộ.
 
Quần thể Đền Mahabodhi được Hoàng đế Asoka xây dựng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Ngôi đền hiện tại (sau đó được tân trang) được xây dựng vào thời kỳ Gupta (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên). Đây là một trong những ngôi đền Phật giáo đầu tiên được xây dựng hoàn toàn bằng gạch, hiện vẫn còn tồn tại. Sinha cho biết ngôi đền này được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của kiến trúc gạch trong nhiều thế kỷ.
 
Tổng giám đốc tiếp theo của Khảo sát Khảo cổ học, Ngài John Marshall (1902-28), quan tâm nhiều hơn đến việc khám phá và phục hồi các bảo tháp và tu viện liên quan đến Hoàng đế Asoka.
 
“Những di tích của bảo tháp được liên hệ với nội dung trong các văn bản viết để có được bức tranh toàn cảnh về các ý tưởng và thực hành của Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau. Các tác phẩm điêu khắc đã đưa ra bằng chứng về các thực hành của Phật giáo. Tiền xu, chữ khắc và hiện vật đã giúp kể câu chuyện chính xác hơn. Marshall đã có thể liên kết các địa điểm của Asoka với văn bản Phật giáo Divyavadana vào thế kỷ thứ 5,” theo Sinha chỉ ra.
 
Sự say mê với các tôn giáo thế giới là một đặc điểm của đời sống trí thức phương Tây vào nửa sau thế kỷ 19. Sự quan tâm đến Phật giáo, Ấn Độ giáo và các giáo phái cải cách ngày càng tăng. Tác phẩm The Light of Asia (1879) của Edwin Arnold là một tác phẩm chuyển thể từ văn bản Phật giáo Lalitavistara, một bài thơ tự sự về cuộc đời, thời đại và triết lý của Đức Phật. The Light of Asia đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ Ấn Độ. Ngay sau đó, nó đã truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo hàng đầu của Ấn Độ như B.R.Ambedkar, Jawaharlal Nehru và Rabindranath Tagore. Hội nghị "World Parliament of Religions" (Quốc hội thế giới về tôn giáo) được tổ chức tại Chicago vào năm 1893, nơi Anagarika Dharmapala của Ceylon đã có bài giảng về "Món nợ của thế giới đối với Phật giáo".
 
Các phong trào cải cách của đạo Hindu như Brahmo Samaj và Prarthana Samaj cũng góp phần tạo nên sự quan tâm đến Phật giáo. Các cộng đồng Phật giáo được thành lập ở nhiều nơi tại Ấn Độ và các cộng đồng này đã sản sinh ra nền văn học Phật giáo. Tagore đã đưa các chủ đề Phật giáo vào các tác phẩm nghệ thuật của mình.
 
Ngay cả Hindu Mahasabha cũng bảo trợ cho Phật giáo mặc dù họ cho rằng Phật giáo chỉ là "Ấn Độ giáo cải cách" chứ không phải là một tôn giáo riêng biệt. Sinha tiết lộ rằng các doanh nghiệp Hindu cũng ủng hộ và truyền bá Phật giáo.
 
Hindu Birlas bảo trợ cho Phật giáo. Jugal Kishore Birla (1883-1967) đã tài trợ cho 15 ngôi chùa Phật giáo lớn. Ông đã tài trợ cho bản dịch tiếng Hindi của các văn bản tiếng Pali. J.K.Birla được hỗ trợ bởi những người theo chủ nghĩa cánh tả và chủ nghĩa Marx như D.N.Kosambi và Rahul Sankritayayan.
 
Do đó, không có tranh chấp nào về việc các ý tưởng và tín ngưỡng Phật giáo vẫn tồn tại, mặc dù nằm ở rìa của tư tưởng tôn giáo ở tiểu lục địa Ấn Độ. Theo diễn tiến đó, không thể nói chỉ nhờ công lao của châu Âu trong việc khám phá hoặc phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ, theo Sinha lý luận.
 
Phật giáo cũng truyền cảm hứng cho các phong trào chống giai cấp và các nỗ lực xây dựng một xã hội bình đẳng thông qua Hiến pháp của Ấn Độ độc lập. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập, Phật giáo đã được đưa vào nghệ thuật cầm quyền, xây dựng quốc gia và quan hệ quốc tế.
 
Các chính trị gia sử dụng Phật giáo để thúc đẩy các ý tưởng bình đẳng. Ngay cả những người theo đạo Ấn Độ chính thống về giai cấp cũng đang lợi dụng Phật giáo để giải thích Ấn Độ giáo Bà la môn như chứa đựng trong chính nó đã có ý tưởng Phật giáo về một xã hội không có giai cấp. Họ nói Đức Phật là hóa thân thứ 9 của Thần Vishnu của Ấn Độ giáo.
 
Ấn Độ đang sử dụng quá khứ Phật giáo của mình để thiết lập các mối liên kết “văn minh” với các quốc gia Phật giáo và đang quảng bá các di tích Phật giáo của mình để thu hút khách hành hương và khách du lịch từ Châu Á. Thật vậy, như Sinha nói: “Đức Phật đã lại chiếm giữ sân khấu trung tâm lần nữa”.
.
NGUỒN: https://www.eurasiareview.com/20012025-theory-that-buddhism-vanished-from-its-birthplace-india-is-being-challenged-book-review/
.
Ghi chú của Nguyên Giác:
(1) Vajrasuchi là tác phẩm thuộc hệ Upanishad (Áo nghĩa thư) của Ấn Độ Giáo lại mang tư tưởng Phật giáo, chống tư tưởng giai cấp của Ấn Độ Giáo, vì nói rằng mọi người ở cả bốn giai cấp đều bình đẳng, đều có khả năng giác ngộ. Ashwaghosha là những người chịu ảnh hưởng của Thiền sư Phật giáo Mã Minh [Aśvaghoṣa]. Lịch sử chỗ này không minh bạch, đầy những giả thuyết. Nhưng văn bản đó hiển nhiên là có ảnh hưởng từ Phật giáo.
(2) Điểm này rất khả vấn. Theo truyền thống Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravada), tiếng Pali được coi là ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng, vì nó liên quan đến "Magadhi", ngôn ngữ được nói ở vương quốc nơi Đức Phật sống; tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học vẫn tranh luận liệu tiếng Pali có chính xác là ngôn ngữ mà Đức Phật nói hay không, vì kinh văn kể  Đức Phật sử dụng nhiều ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ hơn với các ngôn ngữ Prakrit khác ở Tây Ấn Độ.

Angela Merkel được biết đến với việc thúc đẩy mạnh mẽ việc bảo vệ mũi - miệng trong cuộc chiến chống khủng hoảng corona - nhưng liệu thủ tướng có tự đeo mặt nạ không? Hay bà ấy đang cố tình tránh những bức ảnh với mặt nạ như Tổng thống Mỹ Donald Trump, chỉ để không cho thấy một bức tranh về sự yếu đuối? Nữ Thủ tướng Đức Merkel đã có một câu trả lời rất đơn giản và thực dụng vào thứ Hai 29.06.2020 khi bà xuất hiện tại Lâu đài Meseberg với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. "Nếu tôi tuân thủ các quy tắc về khoảng cách, tôi không cần phải đeo mặt nạ. Và nếu tôi không tuân thủ nó và tôi đi mua sắm, chẳng hạn, thì chúng ta rõ ràng sẽ không gặp nhau," bà nói với một nhà báo muốn biết tại sao không bao giờ nhìn thấy Merkel với một mặt nạ. "Nếu không bạn cũng có thể đã nhìn thấy tôi với mặt nạ. Nhưng tôi sẽ không tiết lộ cho bạn khi nào tôi sẽ đi mua sắm ở đâu," Merkel nói thêm.
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Why do men have nipples? “Tại sao đàn ông có núm vú” là tựa đề tác phẩm do Billy Goldberg biên soạn và xuất bản năm 2005 tại Hoa Kỳ. Quyển sách này đã đạt số bán kỷ lục. Tác giả là bác sĩ làm việc tại Emergency room của một bệnh viện New York. Trong sinh hoạt hằng ngày Bs Goldberg đã chịu khó ghi nhận lại tất cả những câu hỏi ngộ nghĩnh đôi khi rất hốc búa của mọi người. Theo lời Ông ta thì đây là những câu mà mình bệnh nhân chỉ dám hỏi bác sĩ khi đầu óc họ đã ba xứa hơi men mà thôi(Hundred of questions you’d only ask a doctor after your third Martini). Sau đây là một số câu hỏi tiêu biểu đã được người gõ chọn lựa ra, và biết đâu trong số này há chẳng có những thắc mắc của chính các bạn nữa.
Cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ chính thức mở màn. Ô. Trump sẽ tổ chức lễ nhận đề cử của Đảng Cộng Hòa tại Jacksonville, Florida dự trù có sự hiện diện của cử tri. Còn Ô. Joe Biden sẽ tổ chức tại Milwaukee, Wisconsin qua hệ thống máy điện tử và không có cử tri hiện diện. Tới nay, hầu hết các cuộc thăm dò đều nói Ô. Joe Biden thắng Ô. Trump tới hai hàng số. Ngay cả đài Fox New cũng thưa nhận Ô. Biden hơn Ô. Trump 14 điểm (Poll puts Trump down 14 points to Biden in general election showdown). Thế nhưng từ nay tới ngày bầu cử còn bốn tháng nữa, biết bao biến cố có thể xảy ra khiến tác động đến cử tri. Cho nên chúng ta chưa biết ai thắng ai.
Donald Trump có thể bỏ cuộc tranh cử tổng thống năm 2020 nếu ông ấy tin là ông không có cơ hội để thắng, theo một thám tử Đảng Cộng Hòa nói với Fox News, theo bản tin của Yahoo News cho biết hôm 29 tháng 6 năm 2020. Tin này đến trong một báo cáo trong cơ quan truyền thông yêu thích của tổng thống đã trích thuật nhiều nguồn tin nội bộ của Đảng Cộng Hòa là những người quan tâm về viễn tượng tái đắc cử của Ông Trump giữa những con số thăm dò xuống dốc. Joe Biden, người nắm chắc sự đề cử của Dân Chủ, hiện dẫn đầu 9 điểm trước Trump, theo một nhà theo dõi các thăm dò năm 2020 bởi RealClearPolitics, cho biết.
Đại dịch vi khuẩn corona đang leo thang trên toàn thế giới khi nhiều quốc gia đã tái mở cửa các nền kinh tế của họ đang chứng kiến sự gia tăng trong các trường hợp bị lây, theo Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho biết hôm Thứ Hai, 29 tháng 6 năm 2020. “Dù nhiều quốc gia đã có một số tiến bộ, trên toàn cầu, đại dịch thực sự đang tăng tốc,” theo ông cho biết trong cuộc họp báo mới từ tổng hành dinh tại Geneva của tổ chức này. “Tất cả chúng ta đều muốn đại dịch qua đi. Tất cả chúng ta đều muốn tiếp tục cuộc sống, nhưng thực tế khó khăn rằng điều này không đến gần chỗ chấm dứt.”
Mục tiêu được liệt kê của Công Ty Dầu Quốc Doanh TQ (CNOOC0 cho biết hôm Thứ Hai, 29 tháng 6 năm 2020 rằng họ đã khám phá dầu và khí đốt thiên nhiên tại vùng phía đông của Biển Đông, theo bản tin của https://oilprice.com cho biết. Mỏ dầu được khám phá tại Huizhou hôm 26 tháng 6 nằm ở Pearl River Mouth Basin thuộc phía Đông Biển Đông được thử để sản xuất khoảng 2,020 thùng dầu và 15.36 triệu feet khối khí đốt mỗi ngày. CNOOC dự đoán mỏ dầu mới sẽ trở thành mỏ dầu khí ngưng tụ cỡ trung đến cỡ lớn đầu tiên ở khu vực nước cạn của Pearl River Mouth Basin.
Trong hàng trăm cú điện thoại được xếp hạng bí mật với các lãnh đạo quốc gia ngoại quốc, Tổng Thống Donald Trump đã thường xuyên bất ngờ đề cập đến những vấn đề nghiêm trọng, quá thường xuyên xuất hiện trong các cuộc trò chuyện với các nhà lãnh đạo đầy quyền lực như TT Vladimir Putin và TT Thổ Nhĩ Kỳ Recep Erdogan, và để mắng nhiếc các lãnh đạo của những đồng minh chính của Mỹ, mà những cú điện thoại giúp thuyết phục một số viên chức cao cấp Hoa Kỳ - gồm các cựu bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng, 2 cố vấn an ninh quốc gia và đổng lý văn phòng phục vụ lâu năm của ông – rằng chính Tổng Thống đã phô bày nguy hiểm đối với an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, theo các viên chức Bạch Ốc và tình báo thông thạo với các nội dung của những cuộc trao đổi cho biết, theo CNN tường trình hôm Thứ Hai, 29 tháng 6.
Chánh Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện John Roberts đã đứng về phía các thẩm phán tự do tại Tối Cao Pháp Viện hôm Thứ Hai, 29 tháng 6 năm 2020 để chận đứng luật phá thai gây nhiều tranh cãi tại Louisiana mà các chỉ trích nói là sẽ đóng cửa mọi phòng mạch trong tiểu bang, theo bản tin CNN cho biết.
Bắt đầu từ thứ Hai, ngày 13 tháng 7 năm 2020, Thành phố Garden Grove sẽ chấp nhận các đề cử cho Thị trưởng và ba ghế Thành viên Hội đồng tại Quận 2, 5 và 6, cho cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11 năm 2020. Hạn chót để nộp giấy tờ đã hoàn tất là Thứ Sáu, ngày 7 tháng 8 năm 2020, lúc 5:00 giờ chiều. Giấy tờ Đề cử Ứng viên phải được nộp cùng Văn phòng Thư ký Thành phố.
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Chủ Nhật, 28 tháng 6 năm 2020 đã ra lệnh đóng cửa các quán bars tại nhiều quận gồm Los Angeles, trong khi đề nghị đóng cửa tại một số quận khác, vì sự lây lan của vi khuẩn corona. Lệnh từ Newsom đã ảnh hưởng các quận Fresno, Imperial, Kern, Kings, San Joaquin, Tulare, và Los Angeles – dân số đông nhất Hoa Kỳ. Các viên chức tiểu bang đã yêu cầu ít nhất 8 quận khác đưa ra các lệnh sức khỏe địa phương để đóng cửa các quán bars. Các viên chức tại Texas và Florida cũng đã có hành động tương tự, chủ yếu ngưng vùng tái mở cửa kinh tế các tiểu bang vì các trường hợp lây dịch bệnh tăng cao. “Covid-19 vẫn hoành hành tại California, và một số vùng của tiểu bang, gia tăng mạnh hơn,” theo Newsom tuyên bố trong văn bản viết sẵn. “Đó là lý do tại sao rất quan trọng để chúng tôi thực hiện bước đi này để hạn chế sự lây lan của vi khuẩn tại nhiều quận đang chứng kiến sự gia tăng lớn nhất.”
Số trường hợp bị truyền nhiễm vi khuẩn corona được xác nhận trên toàn thế giới đã vượt quá 10 triệu hôm Chủ Nhật, 28 tháng 6 năm 2020, với Hoa Kỳ dẫn đầu, theo dữ liệu được thu thập bởi Đại Học Johns Hopkins cho biết. - Trên toàn cầu hiện có 10,072,616 trường hợp bị lây, với 500,882 người thiệt mạng. - Hoa Kỳ hiện có 2,593,169 trường hợp bị lây, với 127,693 người thiệt mạng. - Brazil hiện có 1,345,254 trường hợp bị lây, với 57,658 người thiệt mạng. - Nga hiện có 634,437 trường hợp bị lây, với 9,073 người thiệt mạng. - Ấn Độ hiện có 528,859 trường hợp bị lây, với 16,095 người thiệt mạng. Trong khi đó Trung Quốc đã ra lệnh phong tỏa nghiêm ngặt gần nửa triệu người tại một tỉnh lân cận với thủ đô Bắc Kinh để kềm chế một nhóm người bị lây vi khuẩn corona mới hôm Chủ Nhật, khi các viên chức thẩm quyền cảnh báo sự lây lan vẫn còn “nghiêm trọng và phức tạp.”
Một nhà lập pháp Cộng Hòa nổi tiếng đã thúc giục Tổng Thống Donald Trump đeo khẩu trang để không chính trị hóa vấn đề, theo báo Newsmax cho biết hôm Chủ Nhật, 28 tháng 6. Thượng Nghị Sĩ Lamar Alexander, Cộng Hòa-Tennessee, chủ tịch Ủy Ban Y Tế, Giáo Dục, Lao Động và Hưu Bổng Thượng Viện, nói với CNN hôm Chủ Nhật rằng Trump có thể làm gương tốt hơn cho người Mỹ và ông ấy có thể giúp chấm dứt tranh luận chính trị về việc đeo khẩu trang để giúp hạ thấp sự lây lan của COVID-19.
Nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa đã đòi hỏi câu trả lời từ Bạch Ốc về các tường trình rằng Tổng Thống Nga Putin đã đặt tiền thưởng để lấy mạng lính Mỹ tại Afghanistn, và rằng Hoa Kỳ đã không có hành động gì để đáp trả, theo bản tin của Newsmax cho biết hôm Chủ Nhật, 28 tháng 6 năm 2020. Trong bình luận đầu tiên về vấn đề này, TT Trump đã viết twitter hôm Chủ Nhật rằng “không ai báo cáo hay nói với tôi” về “các vụ gọi là tấn công,” một bình luận mà cựu cố vấn an ninh quốc gia của ông gọi là “đáng chú ý.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.