Hôm nay,  

Eastern Stories And Legends - Phóng Tác Truyện Bản Sanh - Phần 3

19/02/202514:07:00(Xem: 13759)
blank 
Eastern Stories And Legends - Phóng Tác Truyện Bản Sanh - Phần 3

Tác giả: Marie L. Shedlock
Dịch giả: Nguyên Giác
 
11. The Monkey that saved the Herd / Con khỉ cứu đàn
12. The Mallard that asked for too much / Con vịt trời đòi quá nhiều
13. The Merchant who overcame all Obstacles / Người thương gia vượt qua mọi trở ngại
14. The Elephant that was honored in Old Age / Con voi được tôn vinh khi về già
15. The Faithful Friend / Người bạn trung thành

.... o ....

Truyện 11:
CON KHỈ CỨU ĐÀN
 
Một tiền thân của Đức Phật là Vua của loài khỉ. Ngài sống cùng đàn khỉ 80.000 con trong một khu rừng rậm, gần một hồ nước. Trong hồ này có một con quỷ dữ thường ăn thịt tất cả những ai xuống nước.

Đức Bồ Tát nói với thần dân của mình: "Các bạn của ta ơi, trong khu rừng này có những cây bị đầu độc và những hồ nước bị quỷ dữ ám ảnh. Đừng ăn trái cây và đừng uống nước mà các bạn chưa nếm thử mà không hỏi ý kiến ta".
 
Tất cả đồng ý. Và một ngày nọ, khi đến một nơi mà họ chưa từng đến trước đây, họ tìm thấy một hồ nước lớn. Họ không uống nước mà chờ đợi Đức vua của họ trở về.

Khi đến nơi, ngài đi vòng quanh hồ và thấy rằng tất cả các bước chân đều dẫn xuống hồ, nhưng không có bước chân nào quay trở lên. Và ngài nói: "Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là nơi trú ngụ của một con quỷ dữ".
 
Khi tên thủy quái này thấy rằng đàn khỉ không vào lãnh địa của mình, hắn xuất hiện dưới hình dạng một con quái vật khủng khiếp với bụng xanh, khuôn mặt trắng và bàn tay, bàn chân đỏ tươi. Trong hình dạng này, hắn chui ra khỏi mặt nước và nói với Vua Khỉ: "Tại sao ngươi ngồi đây? Hãy xuống hồ để uống nước."

Nhưng ngài nói: "Ngươi không phải là yêu tinh của vùng nước này sao?"
"Vâng, tôi là", là câu trả lời.
"Ngươi có bắt tất cả những ai xuống vùng nước này làm con mồi không?"
"Có, tôi bắt, từ những con chim nhỏ trở lên. Tôi không bao giờ thả bất cứ thứ gì xuống vùng nước này. Tôi cũng sẽ ăn thịt cả các người."

"Nhưng chúng tôi sẽ không để ngươi ăn thịt chúng tôi."
"Chỉ cần uống nước thôi."
"Vâng, chúng tôi sẽ uống nước, nhưng vẫn không rơi vào quyền lực của ngươi."
"Vậy thì các ngươi định uống nước bằng cách nào?"

"À, ngươi nghĩ rằng chúng tôi sẽ phải xuống nước để uống; trong khi chúng tôi sẽ không xuống nước chút nào, nhưng toàn bộ tám mươi ngàn người chúng tôi mỗi người sẽ cầm một cọng cây rỗng và uống từ hồ của ngươi dễ dàng như qua thân rỗng của một cọng bông sen. Và như vậy người sẽ không thể ăn chúng tôi."
 
Nói xong, nhà vua sai mang đến một cây mía, và với niềm tin chân thành rằng phép màu sẽ xảy ra, ngài thổi dọc theo thân cây mía, ngay lập tức cây mía trở nên rỗng ruột, không còn một nút thắt nào trên chiều dài của nó. Theo cách này, ngài sai mang đến một cây mía khác, rồi một cây mía khác nữa, và thổi cho rỗng ruột chúng.

Sau đó, ngài đi quanh hồ và ra lệnh, "Hãy để tất cả các cây mía mọc ở đây rỗng ruột". Bây giờ, nhờ lòng từ bi và phước lực của Bồ Tát, các mệnh lệnh được thực hiện với thần lực. Và từ đó trở đi, mọi cây mía mọc xung quanh hồ đều rỗng ruột. Sau khi ra lệnh, nhà vua ngồi xuống với một cây mía rỗng ruột trên tay.

Tất cả 80.000 con khỉ khác cũng ngồi quanh hồ, mỗi con cầm một cây mía rỗng ruột trên tay. Cùng lúc đó, khi nhà vua hút nước bằng cây mía của mình, tất cả chúng đều uống theo cùng một cách như khi chúng ngồi trên bờ.
 
Đây là cách đàn khỉ uống, và con quỷ không thể có quyền lực đối với bất kỳ ai trong số họ, vì vậy nó đã tức giận bỏ đi về hang của nó. Nhà vua, cùng với 80.000 con khỉ đi theo, đã quay trở lại khu rừng.
 
.. .. .. ..

Story 11:
THE MONKEY THAT SAVED THE HERD
 
It came to pass that the Buddha was re-born as the King of the monkeys. He lived with his herd of 80,000 monkeys in a thick forest, near a lake. In this lake there lived an ogre who used to devour all those who went down to the water.

The Buddha spoke to his subjects and said: “My friends, in this forest there are trees that are poisoned, and lakes that are haunted by ogres. Eat no fruit and drink no water of which you have not already tasted without consulting me.”

This they agreed to. And one day, having arrived at a spot which they had never visited before, they found a great lake. They did not drink, but awaited the return of their King.

Now when he arrived he went round the lake, and found that all the footsteps led down to the lake, but none came up again. And he said: “Without doubt this is the haunt of an ogre.”

When this water-ogre saw that they were not invading his domain he appeared in the form of a terrible monster with a blue belly, a white face, and bright red hands and feet. In this shape he came out of the water and said to the King: “Why are you seated here? Go down to the lake to drink.” But the King said: “Are you not the ogre of this water?” “Yes, I am,” was the answer. “Do you take as your prey all those who go down into this water?” “Yes, I do, from small birds upwards. I never let anything go which comes down into this water. I will eat the lot of you, too.” “But we shall not let you eat us.” “Just drink the water.” “Yes, we will drink the water, and yet not fall into your power.” “How do you propose to drink the water, then?” “Ah, you think we shall have to go down to the water to drink; whereas we shall not enter the water at all, but the whole eighty thousand of us will take a cane each and drink therewith from your lake as easily as through the hollow stalk of a lotus. And so you will not be able to eat us.”

So saying the King had a cane brought to him, and in true belief that the miracle would take place he blew down the cane, which straightway became hollow throughout, without a single knot being left in its length. In this fashion he had another, and another brought, and blew down them. Then he made the tour of the lake, and commanded, saying, “Let all canes growing here become hollow throughout.” Now, thanks to the saving goodness of their re-born chiefs, their commands are always fulfilled. And henceforth every single cane that grew round that lake became hollow throughout. After giving his commands the King seated himself with a cane in his hand. All the other 80,000 monkeys, too, seated themselves round the lake each with a cane in his hands. At the same moment when the King sucked up the water through his cane, they all drank in the same manner as they sat on the bank. This was the way they drank, and the ogre could get no power over any one of them, so he went off in a rage to his habitation. The King, with his following of 80,000 monkeys, went back into the forest.
 
.... o ....

Truyện 12:
CON VỊT TRỜI BỊ ĐÒI QUÁ NHIỀU
 
Vào một thời rất xa xưa, Bồ Tát, một tiền thân của Đức Phật, sinh ra là một Bà la môn, khi lớn lên đã kết hôn với một cô dâu cùng đẳng cấp, người đã sinh cho ngài ba cô con gái.

Sau khi từ trần, ngài tái sinh thành một con Vịt trời lông vàng, và ngài quyết định tặng từng chiếc lông vàng của mình để vợ và các con gái có thể sống thoải mái. Vì vậy, ngài bay đến nơi họ ở và đậu trên thanh ngang nơi giữa khung mái nhà.
 
Nhìn thấy Bồ tát, vợ và các con gái hỏi ngài đến từ đâu, và ngài nói với họ rằng ngài là cha của họ, người đã chết và sinh ra là một Vịt trời lông vàng, và ngài đến để giúp đỡ họ. "Các người sẽ có từng chiếc lông vàng của ta", ngài nói. Ngài tặng họ một chiếc rồi rời đi. Thỉnh thoảng ngài quay lại để tặng họ một chiếc lông khác, và họ trở nên khá giàu có.
 
Nhưng một ngày nọ, người mẹ nói: “Không có loài vật nào đáng tin cả, các con ạ. Ai mà biết được cha các con có thể sẽ không đi xa một ngày nào đó và không bao giờ trở về? Chúng ta hãy dùng thời gian của mình, và nhổ sạch lông cho ông ta vào lần tới khi ông ta trở về, để đảm bảo rằng ông ta không còn lông nữa.”

Nghĩ rằng điều này sẽ làm ông đau lòng, các cô con gái đã từ chối. Người mẹ với lòng tham đã tự mình nhổ lông vịt trời, và khi bà nhổ chúng trái với ý muốn của ông, chúng không còn màu vàng nữa mà trở nên giống như lông của một con sếu.

Đôi cánh của vịt trời lại mọc ra, nhưng chúng chỉ toàn màu trắng; ngài bay đi đến nơi ở của mình và không bao giờ quay trở lại.

.. .. .. ..

Story 12:
THE MALLARD THAT ASKED FOR TOO MUCH
 
And it came to pass that the Buddha (to be) was born a Brahmin, and growing up was married to a bride of his own rank, who bore him three daughters.

After his death he was born again as a Golden Mallard, and he determined to give his golden feathers one at a time to enable his wife and daughters to live in comfort. So away he flew to where they dwelt, and alighted on the central beam of the roof.

Seeing the Bodisat, the wife and girls asked where he had come from, and he told them that he was their father who had died and been born a Golden Mallard, and that he had come to bring them help. “You shall have my golden feathers, one by one,” he said. He gave them one and departed. From time to time he returned to give them another feather, and they became quite wealthy.

But one day the mother said: “There’s no trusting animals, my children. Who’s to say your father might not go away one of these days and never return? Let us use our time, and pluck him clean the next time he comes, so as to make sure of all his feathers.” Thinking this would pain him, the daughters refused. The mother in her greed plucked the Mallard herself, and as she plucked them against his wish, they ceased to be golden and became like a crane’s feathers. His wings grew again, but they were plain white; he flew away to his own abode and never came back.
 

.... o ....

Truyện 13:
NGƯỜI THƯƠNG GIA VƯỢT QUA MỌI TRỞ NGẠI
 
Ngày xưa, Đức Phật có tiền thân sinh ra trong một gia đình thương gia; khi lớn lên, ngài đi buôn bán khắp nơi với năm trăm chiếc xe kéo.

Một ngày nọ, ngài đến một sa mạc cát rộng hai mươi dặm. Cát ở sa mạc đó mịn đến nỗi khi nắm chặt trong tay thì không thể giữ được. Sau khi mặt trời mọc, nó nóng như một khối than củi, đến nỗi không ai có thể bước đi trên đó.

Do đó, những người phải đi qua đó phải mang theo gỗ, nước, dầu và gạo trong xe ngựa của họ và đi vào ban đêm. Rồi khi bình minh, họ dựng trại, trải một mái hiên lên trên đó, và ăn sáng sớm, họ ngồi trong bóng râm cả ngày. Khi hoàng hôn buông xuống, họ ăn tối; và khi mặt đất trở nên mát mẻ, họ thắng ách cho bò và tiếp tục đi.

Chuyến đi giống như một chuyến đi trên biển: phải chọn một người được gọi là hoa tiêu trên đất liền, và anh ta đã đưa đoàn lữ hành đến bờ bên kia an toàn bằng kiến thức của mình về các vì sao.
 
Vào dịp này, người thương gia trong câu chuyện của chúng ta đã băng qua sa mạc theo cách đó. Và khi đã đi được năm mươi chín dặm, ngài nghĩ: "Bây giờ chỉ còn một đêm nữa là chúng ta sẽ ra khỏi bãi cát". Và sau bữa tối,  ra lệnh vứt gỗ và nước đi, và buộc ách vào xe ngựa, rồi lên đường.

Người lái xe đã sắp xếp đệm trên chiếc xe ngựa đầu tiên, nằm xuống ngắm sao và chỉ đường cho họ lái xe. Nhưng, kiệt sức vì thiếu nghỉ ngơi trong suốt chặng đường dài, người này ngủ thiếp đi, và không nhận ra rằng đàn bò đã quay lại và đi theo cùng con đường mà chúng đã đi.
 
Đàn bò đi suốt đêm. Đến gần rạng sáng, người hoa tiêu đoàn lữ hành thức dậy, và khi nhìn thấy các vì sao, anh ta hét lên: "Dừng xe lại! Dừng xe lại!" Ngày vừa rạng, họ vừa dừng lại, và đang kéo xe thành một hàng.

Thế rồi, những người đàn ông kêu lên: "Ồ, đây chính là trại mà chúng ta đã rời đi ngày hôm qua! Gỗ và nước của chúng ta đã hết sạch! Chúng ta bị lạc rồi!" Và tháo ách cho đàn bò, và trải miếng phủ lên đầu, họ nằm xuống trong tuyệt vọng, mỗi người nằm dưới xe của mình.

Nhưng Bồ  tự nhủ, "Nếu ta xuống tinh thần, tất cả những người này sẽ chết", và ngài đi bộ xung quanh trong khi buổi sáng vẫn còn mát mẻ. Và khi nhìn thấy một búi cỏ Kusa, ngài suy nghĩ: "Nó chắc chắn đã mọc lên bằng cách thu hút một số nước mà chắc chắn phải có bên dưới nó."
 
Và ngài bảo họ mang theo một cái cuốc và đào ở chỗ đó. Và họ đào sâu sáu mươi cubit. Và khi họ đã đào được đến đó, cái xẻng của những người đào đất đập vào một tảng đá, và ngay khi nó đập vào, tất cả họ đều bỏ cuộc trong tuyệt vọng.

Nhưng Bồ Tát nghĩ, "Chắc hẳn có nước dưới tảng đá đó", và cúi xuống, áp tai vào đó và thử âm thanh của nó. Và ngài nghe thấy tiếng nước chảy róc rách bên dưới. Và  bước ra ngoài và gọi người hầu của mình. "Chàng trai của ta, nếu bây giờ con bỏ cuộc, tất cả chúng ta sẽ  mất. Đừng nản lòng. Hãy cầm lấy cái búa sắt này, và xuống hố và đập mạnh vào tảng đá."

Chàng trai vâng lời, và mặc dù tất cả mọi người đều đứng đó trong tuyệt vọng, cậu vẫn quyết tâm đi xuống và đập vào tảng đá. Tảng đá vỡ làm đôi và rơi xuống bên dưới, không còn chặn dòng nước nữa. Nước dâng lên cho đến khi miệng của nó cao bằng một cây cọ trong giếng. Và tất cả mọi người đều uống nước và tắm trong đó.

Sau đó, họ tháo những cái ách và trục xe còn thừa của mình ra, nấu cơm và ăn, và cho bò ăn. Và khi mặt trời lặn, họ dựng một lá cờ bên giếng và đi đến nơi đã định. Ở đó, họ bán hàng hóa của mình với giá gấp đôi và gấp ba, và trở về nhà của mình, sống đến tuổi già, rồi qua đời theo nghiệp của mình.
 
Và Bồ Tát đã tặng quà, làm những việc thiện khác, và qua đời theo những thiện nghiệp của mình.

.. .. .. ..

Story 13:

THE MERCHANT WHO OVERCAME ALL OBSTACLES
 
Once upon a time the Buddha (to be) was born in a merchant’s family; and when he grew up he went about trafficking with five hundred carts.

One day he arrived at a sandy desert twenty leagues across. The sand in that desert was so fine that when taken in the closed fist it could not be kept in the hand. After the sun had risen it became as hot as a mass of charcoal, so that no man could walk on it. Those, therefore, who had to travel over it took wood and water and oil and rice in their carts, and traveled during the night. And at daybreak they formed an encampment, and spread an awning over it, and, taking their meals early, they passed the day sitting in the shade. At sunset they supped; and when the ground had become cool, they yoked their oxen and went on. The traveling was like a voyage over the sea: a so-called land-pilot had to be chosen, and he brought the caravan safe to the other side by his knowledge of the stars.

On this occasion the merchant of our story traversed the desert in that way. And when he had passed over fifty-nine leagues, he thought: “Now in one more night we shall get out of the sand.” And after supper he directed the wood and water to be thrown away, and the wagons to be yoked, and so set out. The pilot had cushions arranged on the foremost cart, and lay down looking at the stars, and directing them where to drive. But, worn out by want of rest during the long march, he fell asleep, and did not perceive that the oxen had turned around and taken the same road by which they had come.

The oxen went on the whole night through. Towards dawn the pilot woke up, and, observing the stars, called out: “Stop the wagons! Stop the wagons!” The day broke just as they had stopped, and were drawing up the carts in a line. Then the men cried out: “Why, this is the very encampment we left yesterday! Our wood and water is all gone! We are lost!” And unyoking the oxen, and spreading the canopy over their heads, they lay down in despondency, each one under his wagon.

But the Bodisat, saying to himself, “If I lose heart, all these will perish,” walked about while the morning was yet cool. And on seeing a tuft of Kusa grass, he thought: “This must have grown by attracting some water which there must be beneath it.”

And he made them bring a hoe and dig in that spot. And they dug sixty cubits deep. And when they had got thus far, the spade of the diggers struck on a rock, and as soon as it struck, they all gave up in despair.

But the Bodisat thought, “There must be water under that rock,” and, stooping down, applied his ear to it and tested the sound of it. And he heard the sound of water gurgling beneath. And he got out and called his page. “My lad, if you give up now, we shall all be lost. Don’t you lose heart. Take this iron hammer, and go down into the pit and give the rock a good blow.”

The lad obeyed, and though they all stood by in despair, he went down full of determination, and struck at the stone. And the rock split in two and fell below, and no longer blocked up the stream. And water rose till its brim was the height of a palm-tree in the well. And they all drank of the water, and bathed in it. Then they split up their extra yokes and axles, and cooked rice and ate it, and fed their oxen with it. And when the sun set, they put up a flag by the well and went to the place appointed. There they sold their merchandise at double and treble profit, and returned to their own home, and lived to a good old age, and then passed away according to their deeds. And the Bodisat gave gifts, and did other virtuous acts, and passed away according to his deeds.
 
.... o ....

Truyện 14:
CON VOI ĐƯỢC TÔN VINH KHI VỀ GIÀ
 
Vào một thời rất xưa, tiền thân Đức Phật là vị Tể tướng phục vụ cho môy Đức Vua. Bấy giờ có một con Voi cái có sức rất mạnh, giúp nó có thể đi được một trăm dặm một ngày. Nó đã làm nhiệm vụ của một sứ giả cho Đức Vua, và trong trận chiến nó đã chiến đấu và đánh bại kẻ thù. Đức Vua nói: "Nó rất có ích cho ta".
 
Ngài đã ban cho voi những đồ trang sức, và ra lệnh cho nó được thể hiện tất cả sự tôn kính. Sau đó, khi nó đã yếu vì tuổi tác, Đức Vua đã tước bỏ tất cả sự tôn kính mà Ngài đã ban tặng. Từ đó, voi không được bảo vệ, và sống bằng cách ăn cỏ và lá trong rừng.
 
Và một ngày nọ, người thợ gốm trưởng không có đủ bò để buộc vào xe để chở vật liệu về làm đất sét. Nhà vua nói: "Con voi cái của chúng ta đâu rồi?"

"Thưa đức vua! Nó đang lang thang trong rừng theo ý muốn của nó."
Và nhà vua nói: "Ngươi hãy buộc nó vào xe đi."
Và người thợ gốm nói: "Tốt, thưa đức vua!" Và ông đã làm theo đúng như nhà vua ra lệnh.
 
Cảm thấy bị xúc phạm, Voi già đã đến gặp Tể tướng và nói: "Ôi Đấng Khôn Ngoan! Tôi cầu xin ngài hãy lắng nghe câu chuyện của tôi. Khi tôi còn trẻ, tôi có sức mạnh to lớn; và tôi đã đi bộ một trăm dặm để mang những thông điệp của Nhà vua, và, với vũ khí buộc chặt trên người, tôi đã tham gia vào trận chiến, nghiền nát kẻ thù dưới chân mình. Và bây giờ tôi đã già, và Nhà vua đã tước bỏ mọi vinh dự mà ông đã ban cho tôi, và không hài lòng với việc để tôi lang thang và ăn cỏ, không được bảo vệ trong tuổi già của mình, ông thậm chí còn bắt tôi phải ách vào xe của Người thợ gốm giống như những con bò vậy."
 
Sau đó, Đức Bồ Tát hứa sẽ biện hộ cho cô, và khi xuất hiện trước mặt Đức Vua, ngài hỏi: “Thưa Đại vương, chẳng phải một con voi cái được trang bị vũ khí đã chiến đấu vì ngài sao; và vào ngày này ngày nọ, với một chữ viết trên cổ, voi kia đã đi một trăm dặm để truyền đạt một thông điệp, có phải không? Ngài đã ban cho nàng voi vinh dự lớn lao. Tôi cầu xin ngài hãy cho tôi biết, voi này hiện đang ở đâu?”

Và Đức Vua, trong sự bối rối, đã trả lời: “Nhìn kìa, voi kia đang bị buộc vào một cỗ xe.”

Sau đó, Bồ Tát đã nói với nhà vua trong cơn buồn bã và khiển trách rằng: "Đức Vua đã buộc con voi này vào một chiếc xe sau tất cả những cống hiến mà nó đã làm. Vậy thì vinh dự chỉ được ban tặng vì mong đợi nhiều phục vụ hơn sao?"

Và tất cả những người ngheđều nhận được lời chỉ dạy, và nhà vua đã khôi phục lại vị trí danh dự trước đây cho con voi cái.
 
.. .. .. ..

Story 14:
THE ELEPHANT THAT WAS HONORED IN OLD AGE
 
And the Buddha as Prime Minister served the King. Now there was a certain She-Elephant endowed with great might which enabled her to go a hundred leagues a day. She did the duties of messenger to the King, and in battle she fought and crushed the enemy. The King said: “She is very serviceable to me.”

He gave her ornaments, and caused all honor to be shown her. Then, when she was weak from age, the King took away all the honor he had bestowed.

From that time she was unprotected, and lived by eating grass and leaves in the forest.

And one day the chief Potter had not enough oxen to yoke to the carts which carried the material for making clay. And the King said: “Where is our She-Elephant?”

“O King! she is wandering at her will in the forest.”

And the King said: “Do thou yoke her to the cart.”

And the Potter said: “Good, O King!” And he did even as the King commanded.

But when this insult was offered to the Elephant, she came to the Prime Minister and said: “O Wise Being! I pray you listen to my tale. When I was young, great strength was mine; and I did walk a hundred leagues to bear the King’s messages, and, with weapons bound upon my body, I did take part in battle, crushing the enemy beneath my feet. And now I am old, and the King hath withdrawn all the honors he bestowed upon me, and not content with allowing me to wander and feed on grass, unprotected in my old age, he has even caused me to be yoked to the Potter’s cart as are the oxen.”

Then the Buddha promised that he would plead her cause, and appearing before the King, he asked: “Great King, did not a She-Elephant covered with weapons do battle for thee; and on such and such a day, with a writing upon her neck, did she not go a hundred leagues on a message? Thou didst bestow upon her great honor. I pray thee tell me, where is she now?”

And the King, in some confusion, made answer: “Behold, she is yoked to a cart.”

Then did the Buddha speak in sorrowful anger to the King, and rebuked him, saying: “Thou hast yoked this Elephant to a cart after all the services she has rendered. Then was the honor only bestowed because of more services expected?”

And all who heard him received his instruction, and the King restored the She-Elephant to her former place of honor.
 
.... o ....

Truyện 15:
NGƯỜI BẠN TRUNG THÀNH
 
Ngày xưa, khi Brahma-datta trị vì ở Benares, Bố Tát là vị Bộ trưởng của ông.

Vào thời điểm đó, một con chó thường đến chuồng voi của nhà nước và ăn những nắm cơm rơi xuống nơi con voi ăn. Bị thu hút bởi thức ăn, nó nhanh chóng trở thành bạn thân của con voi và thường ăn gần con voi. Cuối cùng, không con nào trong số chúng cảm thấy vui vẻ khi xa nhau; và con chó thường tự giải trí bằng cách nắm lấy vòi voi và đu qua đu lại.
 
Nhưng một ngày nọ, có một người nông dân đến, đưa tiền cho người giữ voi để mua con chó và mang nó về làng. Từ đó, con voi, vì nhớ con chó, không ăn, không uống, không tắm. Và người ta báo cho nhà vua biết.

Nhà vua gọi Bồ Tát đến và nói: "Ông hãy đi, hỡi vị trí tuệ, hãy tìm hiểu nguyên nhân khiến con voi có hành vi như vậy."
 
Vì vậy, Bộ trưởng đến xem chuồng, thấy con voi trông rất buồn bã, ngài tự nhủ: "Có vẻ như không có vấn đề gì về thể chất với voi. Mình nghĩ nó hẳn phải quá đau buồn khi mất đi một người nào đó, người đã trở nên gần gũi và thân thiết với nó."
 
Và ngài hỏi những người trông voi: "Có ai mà nó đặc biệt thân thiết không?"
"Chắc chắn rồi, thưa ngài! Có một con chó mà nó thực sự rất yêu quý."
"Bây giờ nó ở đâu?"
 
“Một người đàn ông nào đó đã lấy mất nó.”
“Ông có biết người đàn ông đó sống ở đâu không?”
“Không, thưa ngài!”
 
Sau đó, Bồ Tát đi tới, nói với nhà vua. “Không có vấn đề gì với con voi, thưa bệ hạ; nhưng nó rất thân với một con chó, và tôi cho rằng chính vì nhớ nó nên nó từ chối thức ăn của mình.”
 
Khi nghe những lời ông nói, nhà vua hỏi bây giờ phải làm gì.
“Xin bệ hạ hãy ban hành một bản tuyên cáo như sau: 'Người ta nói rằng có một người đã bắt đi một con chó mà voi của nhà nước chúng ta rất thân thiết. Bất kể con chó đó được tìm thấy trong nhà của ai, người đó sẽ bị phạt rất nặng!'”
 
Nhà vua đã làm như vậy; và ngay khi nghe tin, người đàn ông thả con chó ra. Con chó vội vã quay lại, và đến gần con voi. Con voi dùng vòi của mình để nhấc nó lên và đặt nó lên trán mình, rồi khóc lóc, rồi lại kéo nó xuống, và quan sát nó khi nó ăn. Và rồi voi mới chịu ăn thức ăn của mình.

Sau đó, nhà vua đã dành cho Bồ Tát sự tôn vinh lớn lao vì biết được động cơ của ngay cả các thú vật.

.. .. .. ..

Story 15:
THE FAITHFUL FRIEND

Long ago, when Brahma-datta was reigning in Benares, the Bodisat became his Minister.

At that time a dog used to go to the state elephant’s stable, and feed on the lumps of rice which fell where the elephant fed. Being attracted there by the food, he soon became great friends with the elephant, and used to eat close by him. At last neither of them was happy without the other; and the dog used to amuse himself by catching hold of the elephant’s trunk, and swinging to and fro.

But one day there came a peasant who gave the elephant-keeper money for the dog, and took it back with him to his village. From that time the elephant, missing the dog, would neither eat nor drink nor bathe. And they let the King know about it.

He sent the Bodisat, saying: “Do you go, Pandit, and find out what’s the cause of the elephant’s behavior.”

So he went to the stable, and seeing how sad the elephant looked, said to himself: “There seems to be nothing bodily the matter with him. He must be so overwhelmed with grief by missing some one, I should think, who had become near and dear to him.” And he asked the elephant-keepers: “Is there any one with whom he is particularly intimate?”

“Certainly, Sir! There was a dog of whom he was very fond indeed.”

“Where is it now?”

“Some man or other took it away.”

“Do you know where the man lives?”

“No, Sir!”

Then the Bodisat went and told the King. “There’s nothing the matter with the elephant, your majesty; but he was great friends with a dog, and I fancy it’s through missing it that he refuses his food.”

When the King heard what he said, he asked what was now to be done.

“Have a proclamation made, O King, to this effect: 'A man is said to have taken away a dog of whom our state elephant was fond. In whose house soever that dog shall be found, he shall be fined so much!’”

The King did so; and, as soon as he heard of it, the man turned the dog loose. The dog hastened back, and went close up to the elephant. The elephant took him up in his trunk and placed him on his forehead, and wept and cried, and took him down again, and watched him as he fed. And then he took his own food.

Then the King paid great honor to the Bodisat for knowing the motives even of animals.
 
.
SOURCE: Eastern Stories and Legends, By Marie L. Shedlock
Publisher: E. P. Dutton & Company, 1920
https://www.gutenberg.org/ebooks/57380
.

Theo các nhà chức trách, vào sáng sớm Chủ nhật, một tay súng tại Louisiana đã giết 8 trẻ em—trong đó có 7 người con ruột của hắn—và bắn trọng thương hai người khác trong một vụ bạo lực gia đình kinh hoàng diễn ra tại hai ngôi nhà. Vụ này đã gây chấn động một khu dân cư tại Shreveport và trở thành một trong những vụ xả súng hàng loạt đẫm máu nhất cả nước trong hơn hai năm qua.
Patel từng say rượu tới mức biến mất trong phòng, FBI phải kêu đội SWAT tới phá cửa cứu ra. - Bất kể lệnh tòa, ICE trục xuất 174 người DACA tòa bảo vệ, bắt thêm 270 người DACA. - ICE bắt, sửa soạn trục xuất người thông ngôn duy nhất ở tòa án Texas chuyên về 3 ngôn ngữ Punjabi, Hindi, và Urdu - Bị Trump loại ra vòng ngoài, Giám Đốc Tình Báo vuốt ve Trump bằng cách công bố hồ sơ luận tội Trump vì Trump xin Ukraine truy tố gia đình Biden, nghi do Dân Chủ móc nối CIA.
- Eo biển Hormuz tiếp tục căng thẳng: tàu chở dầu bị tàu vũ trang Iran khai hỏa. - Lốc xoáy tàn phá thị trấn Lena, Illinois. - Ba người bị kết án vì giả gấu để lừa đảo, lấy tiền bảo hiểm. - Trump tham gia đọc Kinh Thánh sau tranh cãi với giới Kitô giáo. - Nga tung tin giả về chuyến thăm Ukraine của Quốc vương Thụy Điển. - California kêu gọi chủng ngừa mpox sau khi phát hiện biến chủng nghiêm trọng hơn tại San Francisco. - Binh sĩ Pháp thiệt mạng tại Lebanon.
Cựu viên chức ngoại giao Hoa Kỳ Lionel Rosenblatt, ân nhân của gần 400 người dân miền Nam Việt Nam, vừa qua đời ngày Thứ Bảy, 11/4, sau thời gian dài chiến đấu với căn bệnh ung thư, thọ 82 tuổi. Tổ chức Refugees International loan tin trên trang nhà. Ông là người đã thực hiện một cuộc sơ tán “không được phép”, đưa hàng trăm người dân Việt Nam rời khỏi Sài Gòn trước ngày 30/4/1975.
Hiện tại đã có 33 tiểu bang có luật yêu cầu các khu học chánh thực hiện lệnh cấm sử dụng điện thoại di động trong các lớp học thuộc các trường phổ thông (K-12). Hầu hết các lệnh này cấm việc sử dụng điện thoại trong toàn bộ thời gian học tập tại trường.
Tôi xúc động vì nghĩ rằng mình là kẻ di dân trôi giạt qua đây, dù nghèo nhưng cũng có một mái ấm gia đình, cuộc sống tương đối bình yên, đâu phải sống đời vô gia cư lang thang như thế này. Còn cô ta, một người Mỹ trắng, quê hương của cô là đây, tổ tiên của cô đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng đất nước này. Tại sao cô lại là người vô gia cư không cửa không nhà? Tôi ngồi xuống và rút tờ giấy 20 đô-la đưa cho cô. Cô ta không nói gì mà chỉ lặng lẽ gật đầu.
Bà Rosa María Carranza nhoài người về phía trước, giữ lưng cho một bé gái 3 tuổi trong lúc cô bé trèo lên một tảng đá trên những ngọn đồi rậm rạp phía đông bắc Oakland. Trong trang phục leo núi và đeo những chuỗi vòng hạt, bà Carranza, 67 tuổi, đi lại linh hoạt giữa những hàng cây và lũ trẻ trong một buổi sáng đầy nắng của Tháng Mười Hai. "Bám chắc vào cành cây đó con," bà nói bằng tiếng Tây Ban Nha. "Con làm được mà, tình yêu của bà!"
Theo cuộc điều tra của Nicholas Nehamas, Allison McCann, Steven Rich, Jazmine Ulloa và Hamed Aleaziz, đăng trên The New York Times ngày 9 tháng 4 năm 2026, chính quyền Trump đã gây sức ép rộng khắp lên hệ thống tòa di trú, sa thải hơn 100 thẩm phán, bổ nhiệm thêm nhiều người mới có khuynh hướng cứng rắn hơn, và dùng cả theo dõi nội bộ lẫn chỉ thị hành chánh để đẩy số lệnh trục xuất lên cao, trong khi tỷ lệ chấp thuận đơn tị nạn rơi xuống mức thấp chưa từng thấy.
Quyền công dân theo nơi sinh tại Hoa Kỳ hiện đang được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét lại một lần nữa. Tổng thống Donald Trump đã đích thân tham dự phiên tranh luận miệng tại Tòa, điều mà nhiều người cho là không phù hợp. Quyền công dân theo nơi sinh có nghĩa là hầu hết các em bé sinh ra tại Hoa Kỳ được tự động trở thành công dân Hoa Kỳ. Luật này xuất phát từ Hiến pháp. Trường hợp ngoại lệ chính là con của các nhà ngoại giao nước ngoài.
Trung Quốc hiện nắm vị trí gần như áp đảo trong việc sản xuất hầu hết những bộ phận then chốt của lưới điện hiện đại, từ tấm pin mặt trời, cáp điện cao thế, máy biến thế cho đến các loại pin dùng để tích điện. Ngay trước khi chiến sự với Iran nổ ra, các công ty Trung Quốc đã đẩy mạnh bước chân ra ngoài nước, giúp nhiều quốc gia xây những hệ thống điện mới để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng lớn, nhất là trong thời đại trí tuệ nhân tạo đang ngốn điện khắp nơi.
Chính quyền Trump đã đạt thỏa thuận với Hiệp Hội Thư Viện Hoa Kỳ và một nghiệp đoàn công nhân văn hóa, chấm dứt nỗ lực kéo dài suốt một năm nhằm giải thể Viện Bảo Tàng Và Dịch Vụ Thư Viện, tức cơ quan liên bang phụ trách cấp ngân khoản cho thư viện, viện bảo tàng và nhiều định chế văn hóa trên toàn quốc. Thỏa thuận, do Bộ Tư pháp đạt được vào tuần trước, xác nhận rằng cơ quan này sẽ tiếp tục cấp trợ khoản và duy trì các chương trình đang có tại mọi tiểu bang và lãnh thổ của Hoa Kỳ. Chính quyền Trump cũng xác nhận đã phục hồi toàn bộ những khoản trợ cấp từng bị hủy bỏ trước đó, đúng theo một phán quyết pháp lý riêng ban hành từ năm ngoái, đồng thời thu hồi các quyết định cắt giảm nhân sự và cam kết sẽ không tiến thêm bước nào để thu nhỏ cơ quan này nữa.
Theo Sonja Anderson, phóng viên thường trực của Smithsonian Magazine, viết ngày 3 tháng 4 năm 2026, một hệ thống thang cuốn ngoài trời dài gần 3.000 foot vừa được đưa vào sử dụng tại huyện Vu Sơn, Trùng Khánh, mở ra một lối đi mới lên vùng cao vốn từ lâu rất khó qua lại. Công trình này mang tên “Nữ Thần”, gồm 21 thang cuốn riêng biệt, 8 thang máy, 4 lối đi chuyển động cùng nhiều cầu bộ hành nối tiếp nhau. Toàn bộ hành trình đưa người đi lên độ cao khoảng 800 foot, tương đương một tòa nhà chừng 80 tầng. Nếu đi trọn hệ thống, hành khách mất khoảng hơn 20 phút.
Jess Reia, giáo sư phụ khảo về khoa học dữ liệu tại Đại học Virginia, viết trên The Conversation ngày 27 tháng 3 năm 2026 rằng hàng ngàn thành phố và thị trấn tại Hoa Kỳ đã âm thầm lắp đặt hệ thống máy ảnh đọc bảng số xe, và nay khi được ghép với trí tuệ nhân tạo, mạng lưới này đang làm dấy lên nhiều lo ngại về quyền riêng tư, tự do dân sự và khả năng bị nhà chức trách dùng để theo dõi dân chúng trên quy mô lớn.
Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Một công trình nghiên cứu dài hạn mới công bố cho thấy việc lớn lên trong cộng đồng có pha chất fluoride vào nước máy không làm giảm chỉ số I.Q. cũng không làm suy yếu chức năng não về sau. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Hoa Kỳ theo dõi mức phơi nhiễm fluoride trong nước sinh hoạt từ thời thơ ấu rồi đối chiếu với khả năng nhận thức cho đến tuổi 80.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.