Hôm nay,  

Ai có thể làm chói sáng cõi này? / Who can illuminate this world?

01/03/202520:47:00(Xem: 12084)
blank
 
Ai có thể làm chói sáng cõi này?
   
Nguyên Giác

   
Khi chúng ta đọc Kinh Phật, thường gặp những hình ảnh nói về sự chói sáng. Có Kinh nói rằng, nguồn của ánh sáng là Đức Phật, sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng. Đó là Kinh SN 1.26 Sutta. Trong khi đó, Kinh AN 1.41-50 Sutta nói rằng nguồn của ánh sáng là tâm vốn có sẵn tánh sáng chói, nhưng bị bụi cấu uế bám vào, và tâm này sẽ chói sáng sau khi gột rửa bụi.
   
Trong một hình ảnh khác, chúng ta đọc thấy Kinh AN 4.7 Sutta ghi rằng, ngay cả người nam cữ sĩ và nữ cư sĩ, giữ năm giới và hành trì Chánh pháp là cũng đủ để hiển lộ ánh sáng trong tứ chúng. Nghĩa là, chưa phải là bậc giải thoát, chúng ta cũng có thể làm chói sáng những nơi chúng ta bước vào. Thực vậy, rất nhiều Kinh ghi rằng, một vị cõi thiên khi hiện ra đều làm chói sáng một góc rừng. Chúng ta đều biết rằng, các vị thiên chủ yếu là có phước đức, nhưng chưa hẳn là họ có đủ trí tuệ giải thoát.
   
Có một kinh rất đặc biệt nói về ánh sáng: Kinh MN 32 Sutta ghi câu hỏi của ngài Sāriputta rằng hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Điều lý thú là, có nhiều câu trả lời.
   
. Ngài Ananda trả lời rằng nhà sư học nhiều sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Revata trả lời rằng nhà sư ưa nơi u tịch, thiền định thường trực trong chỉ và quán sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Anuruddha nói rằng nhà sư nào đắc thiên nhãn thần thông sẽ có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga.
. Ngài Kassapa nói rằng vị sư nào sống hạnh đầu đà, giới hạnh viên mãn, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga. Điều chú ý: hạnh đầu đà mà Ngài Kassapa nói nơi đây là ẩn cư trong núi rừng, không nói về du hành đường xa.
. Ngài Moggallāna nói rằng các vị sư giỏi về luận thuyết, xuất sắc tranh biện, nắm vững các pháp A Tỳ Đàm, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Sāriputta nói rằng nhà sư nào điều phục được tâm dễ dàng trong sáng, trưa, chiều, tối là sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Như thế là sáu câu trả lời từ sáu vị tăng nổi bật của Thế Tôn. Quý ngài thắc mắc, nên tới kể lại cho Đức Phật. Câu trả lời của Đức Phật đơn giản rằng, cả sáu câu trả lời đều đúng, rằng sáu khuynh hướng tu hánh tinh tấn như thế đều có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Rồi Đức Phật cho câu trả lời thứ bảy, rằng bất kỳ vị sư nào tinh tấn thiền định đều có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Nơi đây, chúng ta sẽ tuần tự nói về các Kinh vừa dẫn. Tất cả phần tiếng Việt là từ bản dịch của Thầy Minh Châu.
   
Trong Kinh SN 1.26 Sutta, Đức Phật nói rằng ngài là nguồn sáng tối thắng, sáng hôn mặt trời, mặt trăng, lửa cháy. Kinh SN 1.26 Sutta ghi như sau:
   
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Đêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
   
Trong Kinh AN 1.41-50 Sutta, Đức Phật nói về tâm sáng chói khi gột sạch cấu uế. Kinh AN 1.41-50 Sutta ghi như sau.
   
"Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào."
   
Trong khi đó, Kinh AN 4.7 Sutta ghi lời Đức Phật dạy rằng bất kỳ vị sư, vị ni, vị nam cư sĩ, và vị nữ cư sĩ nào cũng có thể làm chói sáng được. Kinh AN 4.7 Sutta ghi như sau:
   
"Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, … , nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng."
   
Trong khi đó, trong Kinh MN 32 Sutta Tôn giả Sāriputta nêu câu hỏi: Hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
   
Ngài Ananda đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Revata đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Anuruddha đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Kassapa đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Moggallāna đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
   
Ngài Sāriputta đáp: "Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Thế rồi các vị sư tới hỏi Đức Phật, và được trả lời như sau: "Này Sāriputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sāriputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Tất cả các Kinh vừa dẫn trên, cho thấy rằng bất kỳ Phật tử nào, dù là tu sĩ hay cư sĩ, khi giữ giới hạnh và tu hành tinh tấn, đều có thể làm chói sáng một khu rừng. Và hình ảnh khu rừng nơi đây có thể hiểu là một khu rừng trong thiên nhiên, và cũng có thể hiểu là khu rừng trong tâm.
   
.... o ....
.... o ....
 
Who can illuminate this world?
   
Written and translated by Nguyên Giác

 
When we read the Buddhist scriptures, we frequently encounter imagery of radiance. One sutra states that the source of light is the Buddha, who is brighter than both the sun and the moon; this statement is found in the SN 1.26 Sutta. In contrast, the AN 1.41-50 Sutta asserts that the source of light is the mind, which is inherently luminous but obscured by defilements. This mind will shine once it has been purified of those impurities.
 
In another image, we read in the AN 4.7 Sutta that even male and female lay followers who observe the five precepts and practice the Dharma are capable of manifesting light within the four groups. This means that even if we have not yet attained liberation, we can still illuminate the spaces we enter. Indeed, many Suttas document that when a deva appears, he illuminates a corner of the forest. We all understand that devas are primarily endowed with virtue, but they do not necessarily possess liberating wisdom.

 
There is an exceptional sutta that discusses radiance: the MN 32 Sutta records Sāriputta's inquiry regarding what type of bhikkhu could illuminate the Gosinga forest. Interestingly, there are numerous answers provided.
 
. Venerable Ananda replied that a knowledgeable monk would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Venerable Revata replied that a monk who embraces solitude and consistently meditates in both samatha and vipassana would be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Anuruddha stated that a monk who has attained the supernatural power of the divine eye would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Kassapa stated that any monk who embraces the Dhutanga life—a life of asceticism and perfect morality—will be able to illuminate the Gosinga forest. It is important to note that the Dhutanga life Kassapa refers to involves living in seclusion in the mountains and forests rather than traveling great distances.
. Venerable Moggallāna stated that monks who excel in argumentation, are skilled in debate, and possess a profound understanding of the Abhidharma will be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Sāriputta stated that monks who can easily control their minds throughout the morning, noon, afternoon, and night will be able to illuminate the Gosinga forest.
 
These were the six responses from the six esteemed monks of the Buddha. The monks were perplexed, so they approached the Buddha to seek clarification. The Buddha's response was straightforward: all six answers were correct, as these six tendencies of diligent practice could illuminate the Gosinga forest. He then provided a seventh insight, stating that any monk who meditates diligently could also illuminate the Gosinga forest.
 
Here, we will sequentially quote from the previously cited Suttas.
 
In the SN 1.26 Sutta, the Buddha states that he is the supreme light, brighter than the sun, the moon, and fire. The SN 1.26 Sutta is presented as follows, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
 
“There are four sources of light in the world;
A fifth one is not found here.
The sun shines by day,
The moon glows at night,
And fire flares up here and there
Both by day and at night.
But the Buddha is the best of those that shine:
He is the light unsurpassed.”
 
In the AN 1.41-50 Sutta, the Buddha spoke of the mind being clear and bright when it is free from defilements. The AN 1.41-50 Sutta reads as follows, according to Thanissaro Bhikkhu's translation.
 
“Luminous, monks, is the mind. And it is defiled by incoming defilements.”
“Luminous, monks, is the mind. And it is freed from incoming defilements.”
 
Meanwhile, the AN 4.7 Sutta records the Buddha's teaching that any monk, nun, male lay follower, or female lay follower can shine. The AN 4.7 Sutta states the following, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
   
“Bhikkhus, these four kinds of persons who are competent, disciplined, self-confident, learned, experts on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorn the Saṅgha. What four?
(1) “A bhikkhu who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha. (2) A bhikkhunī who is competent … (3) A male lay follower who is competent … (4) A female lay follower who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha."
 
Meanwhile, in the MN 32 Sutta, Venerable Sāriputta asks, "What kind of monastic can illuminate the Gosinga forest?" The following answers are according to the translation by I.B. Horner.
 
Venerable Ananda replied: “In this case, reverend Sāriputta, a monk comes to be one who has heard much, who masters what he has heard, who stores what he has heard; those teachings which are lovely at the beginning, lovely in the middle, lovely at the end, which with the spirit and the letter declare the Brahma-faring which is completely fulfilled, utterly pure-such teachings come to be much heard by him, borne in mind, repeated out loud, pondered over in the mind, well comprehended by view; he teaches Dhamma to the four assemblies with correct and fluent lines and sentences for the rooting out of (latent) propensities. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Revata replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk delights in solitary meditation, he is delighted by solitary meditation, he is intent on mental tranquillity within, his meditation is uninterrupted, he is endowed with vision, a cultivator of empty places. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Anuruddha replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk surveys the thousand worlds with purified deva-vision surpassing that of men. Reverend Sāriputta, as a man with vision might survey a thousand concentric circles from the top of a long house, so, reverend Sāriputta, does a monk survey the thousand worlds with purified deva-vision, surpassing that of men. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Kassapa replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk is both a forest-dweller himself and one who praises forest-dwelling; he is an almsman himself and one who praises being an almsman; he is a rag-robe wearer himself and one who praises the wearing of rag-robes; he wears three robes himself and is one who praises the wearing of three robes; he is of few wishes himself and is one who praises being of few wishes; he is contented himself and is one who praises contentment; he is aloof himself and is one who praises aloofness; he is ungregarious himself and is one who praises ungregariousness; he is of stirred up energy himself and is one who praises stirring up energy; he is possessed of moral habit himself and is one who praises success in moral habit; he is possessed of concentration himself and is one who praises success in concentration; he is possessed of intuitive wisdom himself and is one who praises success in intuitive wisdom; he is possessed of freedom himself and is one who praises success in freedom; he is possessed of the knowledge and vision of freedom himself and is one who praises success in the knowledge and vision of freedom. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Moggallāna replied: “In this connection, reverend Sāriputta, two monks are talking on Further Dhamma; they ask one another questions; in answering one another's questions they respond and do not fail, and their talk on Dhamma goes forward. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Sāriputta replied: "Reverend Moggallāna, as a king or a king's chief minister might have a chest for clothes filled with differently dyed cloths, so that no matter which pair of cloths he wished to put on in the morning, he could put on that self-same pair of cloths in the morning; no matter which pair of cloths he wished to put on at midday, he could put on that self-same pair of cloths at midday; no matter which pair of cloths he wished to put on in the evening, he could put on that self-same pair of cloths in the evening-even so, reverend Moggallāna, a monk rules over mind, is not under mind's rule; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the morning, in that attainment of abiding he abides in the morning; whatever attainment of abiding he wishes to abide in at midday, in that attainment of abiding he abides at midday; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the evening, in that attainment of abiding he abides in the evening. By a monk of such a type, reverend Moggallāna, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Then the monks approached the Buddha and received the following response: “It was well spoken by you all in turn, Sāriputta. But now hear from me by what type of monk the Gosiṅga sāl-wood would be illumined. In this connection, Sāriputta, a monk, returning from alms-gathering after the meal, sits down cross-legged, the back erect, having raised up mindfulness in front of him, and thinking: ‘I will not quit this cross-legged (position) until my mind is freed from the cankers without any residuum (for rebirth) remaining.’ By such a type of monk, Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
All the aforementioned Suttas demonstrate that any Buddhist, whether a monastic or a layperson, can illuminate a forest by adhering to the precepts and practicing diligently. We can interpret this image of the forest as both a natural forest and a mental forest.
 
THAM KHẢO / REFERENCE:
 
- SN 1.26 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/sn1.26/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/sn1.26/en/bodhi
 
- AN 1.41-50 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an1.41-50/vi/minh_chau
Thanissaro Bhikkhu: https://suttacentral.net/an1.41-50/en/thanissaro
 
- AN 4.7 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an4.7/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/an4.7/en/bodhi
 
- MN 32 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/mn32/vi/minh_chau
I.B. Horner: https://suttacentral.net/mn32/en/horner

 

Không biết Trần Bình Trọng nhưng lại thờ Quan Công tên mã phu kiêu mạn làm Thục Hán tiêu vong Sử Tàu thuộc như cháo không thuộc sử cha ông khóc Nhạc Phi, Hàn Tín mà khinh nhờn tổ tông
Bản tin sau đây của Newsweek, cho biết hàng chục lãnh đạo các tôn giáo, trong đó có 3 nhà sư đã bị đặc vụ ICE bắt giam. Bản tin tựa đề "ICE Detains Dozens of Faith Leaders Under Trump’s Crackdown" (ICE bắt giam hàng chục chức sắc tôn giáo trong chiến dịch trấn áp của ông Trump). Bản tin do phóng viên Billal Rahman thực hiện.
Bài này là pháp tu dưỡng tâm từ. Thanissaro Bhikkhu là vị sư Hoa Kỳ đã sang Thái Lan tu học theo truyền thống Thai Forest Tradition, đã dịch các Tang Kinh Pali sang tiếng Anh trước khi về Hoa kỳ sáng lập và trụ trì tu viện Metta Forest Monastery ở Valley Center, quận San Diego, California. Bài nơi đây có tựa đề "Goodwill for Safety" nằm trong nhóm bài thuyết pháp "Evening Dhamma Talks" của năm 2021. Chữ "goodwill" trong đời thường quen dịch là thiện ý hay thiện tâm, nhưng trong nhà Phật thường dịch là "Tâm từ" -- một phẩm chất của tâm trong Tứ Vô Lượng Tâm. Trong bài có kể chuyện một "spirit" nhập vào một người, nơi đây chúng ta dịch là "vong linh" cho quen thuộc, nhưng thực ra đó là một chúng sinh đang ở một cõi rất đau khổ do các duyên xưa trở về quậy phá một người nào đó. Bài thuyết pháp của ngài Thanissaro Bhikkhu sẽ được dịch như sau.
- Samsung bơm thêm tiền vào VN, sẽ chạy các dây chuyền sản xuất chip bộ nhớ giá trị cao tại VN từ 2027 và từ 2028, chip cho máy chủ AI từ 2030 - Nhật Bản: bắt Nguyễn Thị Huyền, nghi môi giới việc làm bất hợp pháp cho khoảng 250 công dân Việt. - Tranh ghế Thượng nghị sĩ liên bang đại diện Texas đang ngang ngửa, nhưng: Tỷ lệ cá cược: 63-65% Talarico (Dân Chủ) sẽ thắng; 37% Paxton (Cộng Hòa) sẽ thắng. Paxton tự nói là tín đồ Cơ Đốc giáo sùng đạo (nhưng tai tiếng quá khứ ngoại tình), ủng hộ treo bảng 10 Điểu Răn trong lớp học, chống kịch liệt thuyết Big Bang. - Trump: sẽ đổi tên thêm 1 con sông và 1 đại dương trước khi rời ghế; dự kiến Đại Tây Dương hoặc Thái Bình Dương có thể đổi tên là "Trump Ocean" hoặc "Ocean of the Americas". - Trump và các con kiếm được 2 tỷ USD từ khi Trump nắm quyền trở lại bằng nhiều cách, Tòa Tối Cao bảo vệ Trump về mặt hình sự, nhưng về mặt luật dân sự Trump có thể bị buộc trả lại tiền tham nhũng. - Houthi bắn vào sân bay quốc tế Saudi Arabia: 12 người ch
Giáo Hoàng Leo XIV tuyên bố án tử hình “không thể chấp nhận được,” phản đối kế hoạch truyền hình trực tiếp vụ hành quyết tại Mỹ
Bản tin cho biết rằng phiên tòa xét xử liên bang về các cáo buộc hối lộ và tham nhũng đối với cựu Thị trưởng Oakland Sheng Thao dự kiến ​​sẽ bắt đầu vào thứ Ba, hơn hai năm sau khi FBI khám xét nhà riêng của bà. Những người khác cũng bị buộc tội trong vụ án này bao gồm bạn đời của bà Thao là Andre Jones, cùng các lãnh đạo của công ty California Waste Solutions là ông David Duong và con trai ông, Andy Duong.
TOKYO (Kyodo) -- Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi đang cân nhắc việc gặp Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm tại Tokyo vào đầu tháng tới để thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực năng lượng và an ninh, theo các nguồn tin am hiểu vấn đề cho biết hôm thứ Sáu.
- Trump Thỏa Thuận Mua Dầu Nga, Đồng Minh Tây Phương Phẫn Nộ. - Cựu Thẩm Phán Tòa Án Hình Sự Quốc Tế Navi Pillay Đọa Giải Nobel Hòa Bình 2026. - Hoa Kỳ Sẽ Trừng Phạt Tòa Án Hình Sự Quốc Tế - Âu Châu Và Nhiều Quốc Gia Phản Đối. - Bão ISAIAS Đổ Bộ FLORIDA, Hơn 664.000 Gia Đình Mất Điện. - Tòa Án Liên Bang Bác Chương Trình Thu Thập Hồ Sơ Cử Tri Của Chính Quyền Trump. - Na Uy Dự Tính Cấm Mắt Kính Thông Minh Tại Nơi Công Cộng. - Tổng Thống Đài Loan Kêu Gọi Các Quốc Gia Trong Vùng Bảo Vệ Hòa Bình. - Động Đất Với Cường Độ 7,6 Ở Panama.
Theo thông báo, bà Navi Pillay được trao Giải Nobel Hòa bình năm 2026 vì những nỗ lực thúc đẩy hòa bình và luật pháp quốc tế. Ủy ban Nobel ghi nhận đóng góp lâu dài của bà đối với nhân quyền, công lý quốc tế và việc truy cứu trách nhiệm về tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại và diệt chủng. Bà nhận tin khi đang tham dự một hội nghị pháp lý quốc tế tại Nuremberg, Đức. Và bà chỉ biết tin sau khi giải thưởng được công bố vì Ủy Ban Nobel không thể liên lạc với bà.
Vùng Appalachia: số người xin cứu đói tăng 25%, thực phẩm liên bang cấp giảm 1/3 - Có hơn 5 triệu người, trong đó có ít nhất 1 triệu trẻ em, đã bị cắt trợ cấp thực phẩm
- Nhân Viên ICE Bắn Ít Nhất Bảy Phát Đạn Vào Xe Giữa Phố New York, Một Người Bị Thương, Bé Trai 5 Tuổi Thoát Nạn - Thủ Tướng Canada Bác Bỏ Lời Kêu Gọi Ly Khai Của Elon Musk: Tương Lai Canada Do Dân Canada Quyết Định - Iran Gia Tăng Tấn Công Tàu Dầu Tại Eo Biển Hormuz, Gây Thêm Áp Lực Lên Trump Trước Bầu Cử Giữa Nhiệm Kỳ - Trump Tuyên Bố Ai Còn Gọi AI Là “Trí Tuệ Nhân Tạo” Đều Là “Kẻ Thù” - Mạnh Thường Quân Của Trump Tố Gia Đình Tổng Thống Làm Giàu, Chê Thế Giới Của Họ Đầy Trò Bẩn Thỉu - Hoa Kỳ Sẽ Truyền Hình Trực Tiếp Cuộc Hành Quyết Bằng Đội Súng, Lần Đầu Tiên Trong Lịch Sử - Chính Quyền Trump Điều Tra 9 Đại Học Hàng Đầu Hoa Kỳ Về Visa Sinh Viên Và Nhà Nghiên Cứu Ngoại Quốc - Đà Nẵng Quyết Dẹp Nạn Ăn Xin Trước Cuối Năm 2026 Để Thu Hút Du Khách - Nobel Hòa Bình 2026 Sắp Có Chủ Nhân: 287 Ứng Viên, Trump Và Thủ Tướng Canada Được Nhắc Tên
Tôi không thức dậy mỗi sáng, pha một tách cà phê rồi mở báo ra xem thế giới hôm nay có chuyện gì. Chúng ta không còn một tờ báo lớn, vững vàng và đáng tin cậy đến mức chỉ cần đọc nó là đủ biết những gì cần biết. Chúng ta cũng không có một hệ thống truyền hình tin tức lớn nào đưa tin mà không khiến người xem, ít nhất đôi lúc, cảm thấy mình ngu đi một chút. Thay vào đó là những công ty truyền thông đang vật lộn tìm lợi tức, đem tin tức bọc trong lớp áo giải trí để bán cho độc giả. Mạng xã hội lại buộc ngay cả những nguồn tin tốt phải chẻ nội dung thành từng mẩu nhỏ mới mong có người đọc, trong khi những nguồn tệ nhất thì liên tục tung ra tin câu người đọc, tin kích giận dữ và tin sai lạc.
Tuần trước, chính quyền Tổng thống Trump đã nối lại việc duyệt xét hồ sơ xin chiếu khán di dân cho Hungary và Ba Lan, nhưng tiếp tục tạm thời đình chỉ các cuộc hẹn chiếu khán di dân tại tất cả các quốc gia khác. Bộ Ngoại giao không trả lời các câu hỏi về lý do tại sao họ chỉ nối lại việc duyệt xét chiếu khán di dân cho Hungary và Ba Lan. Ông Trump từ lâu luôn phản đối di dân bất hợp pháp, nhưng trong nhiệm kỳ thứ hai tại Nhà Trắng, ông cũng tích cực thực hiện các biện pháp nhằm làm giảm di dân hợp pháp. Hoa Kỳ đã áp đặt lệnh cấm đi lại đối với hàng chục quốc gia, đưa ra các khoản phí mới đắt đỏ đối với một số loại chiếu khán làm việc và yêu cầu tất cả đương đơn xin chiếu khán phải trải qua quá trình kiểm tra lịch sử hoạt động trên mạng xã hội.
Ba nhà khoa học Karl Deisseroth, Peter Hegemann và Georg Nagel vừa đoạt Giải Nobel Y Khoa 2026 nhờ công trình giúp con người dùng ánh sáng để điều khiển hoạt động của tế bào thần kinh. Điều đáng chú ý là câu chuyện ấy bắt đầu không phải từ não người, mà từ một loài tảo đơn bào rất nhỏ có tên Chlamydomonas. Peter Hegemann, thuộc Humboldt University of Berlin, và Georg Nagel, thuộc University of Würzburg, ban đầu chỉ muốn biết một câu hỏi căn bản: làm sao loài tảo này nhận ra ánh sáng và bơi về phía có ánh sáng?
Một thiết bị cấy trên não vừa giúp hai người bị liệt điều khiển một hình đại diện ảo để vừa “nói” vừa làm cử chỉ cùng lúc — điều mà phần lớn các giao diện não–máy tính trước đây chưa làm được. Công trình, công bố trên tạp chí Nature Neuroscience ngày 14 tháng 9, 2026, vẫn còn ở giai đoạn thử nghiệm rất sớm. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật này một ngày nào đó có thể giúp người bị liệt giao tiếp tự nhiên hơn, hoặc điều khiển tay chân giả bằng ý nghĩ. Trong đời sống hằng ngày, lời nói và cử chỉ thường đi chung với nhau. Một người nói “có lẽ” trong khi gật đầu sẽ truyền đạt ý nghĩa khác hẳn với khi vừa nói vừa lắc đầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.