Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Không Phật, Không Người, Không Ta

27/05/202510:00:00(Xem: 2724)
blank 

Đọc Ngô Thì Nhậm: Không Phật, Không Người, Không Ta
 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: qua sông, bỏ bè, thấy thường trực không Phật, không ta, không người. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.
 

Nơi đây, chúng ta ghi lại từ hai trang 331, 332 trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V).
 
blank
Nguyên văn chép lại như sau, trích:
 

“Hoà thượng Hải Âu nói: Cái nơm cái đó dùng để bắt con cá con thỏ, đã bắt được con cá con thỏ rồi thì hãy quên cái nơm cái đó ấy đi. Cái thuyền cái mảng dùng để qua sông, đã qua sông đến bờ rồi thì hãy quên cái thuyền cái mảng đó.

Cái Đạo của Phật là "hư vô tịch diệt," là "minh tâm kiến tính." Biết được Phật thì mình đã đạt đến cái Đạo ấy, đạt đến rồi thì quên người quên ta. Ân oán thù hận là bình đẳng, đến ta còn không biết thì hâm mộ ở chỗ nào? Kẻ đã không biết Phật, dù có đàm kinh thuyết kệ, gắng sức kiếm tìm cũng không thể biết được. Tịnh Thổ, Liên Đài,* chỉ là chăm chỉ ở chỗ không có gì, chép một chữ "mộ" không thôi, thì càng tỏ ra không biết Phật. Cho nên Thiền gia nói 'tuyệt học," Huyền môn nói "tuyệt thánh," đều có cái nghĩa không mộ Phật vậy. Phật không tự mộ, há cầu chúng sinh mộ? Chúng sinh muốn thành Phật, cho nên phải mộ Phật. Kẻ nào mộ Phật tức không phải là Phật. Xương Lê nói: "Bắt tăng nhân trở lại làm dân, gieo sách Phật vào đống lửa, biến chùa chiền thành nhà tranh," đó là sự thể hiện không kính mộ Phật. So với bọn tăng ni chạy trên đàn, hay ngồi lì thiền định thì Xương Lê lại giải thoát được "Kiến trọc."

Nhưng Phật không có người, không có sách, cũng không có chỗ trú, vậy thì nói "người của Phật, sách của Phật, nhà của Phật" là còn mang nặng một tầng chướng ngại. Thế thì mộ Phật cố nhiên là không biết Phật, còn bài Phật cũng sao có thể biết được Phật? Cho nên Thầy bảo Hàn Xương Lê còn ở dưới bậc ba, bậc bốn. Hoặc có người hỏi: Thế nào gọi là Phù đồ bậc nhất? Xin có bài kệ rằng:

Quan Âm là Quan Âm,

Hòà thượng là hòa thượng.

Ta, ngươi đều dửng dưng,

Đều không người biết ta.” (hết trích)
 

Bất kỳ ai ngộ nhập được ý chỉ Thiền Tông nêu trên, sẽ tự biết cách an tâm. Trước tiên là chuyện qua sông, thì không cần vác cái bè nữa. Có nghĩa là, nếu tâm mình tự khế hiệp được, tự tương ưng được, không còn khởi dậy tham sân si nữa, thì không cần tới các phương tiện để làm lắng đọng mặt hồ tâm để không còn dậy bọt sóng. Bởi vì, khi mặt hồ đã tĩnh lặng, mà còn khởi tâm làm gì nữa, thì chỉ tự mình gây ra các đợt sóng mới.
 

Trong Kinh MN 22, Đức Phật dạy rằng bè là để qua sông, lên bờ rồi thì không cần bè, và Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống là phi pháp, trích bản dịch của Thầy Minh Châu:

“Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.”
 

Trong đoạn tiếp theo, sách Tông Chỉ viết rằng Đạo của Phật là "hư vô tịch diệt," là "minh tâm kiến tính"... Chúng ta ghi rõ rằng ý chỉ ở đây rất minh bạch, khi tóm tắt cho dễ hiểu thì: hư vô tịch diệt là nói mặt của Không, minh tâm kiến tính là nói mặt của Có. Người nào sống mà không dính vào Có, không dính vào Không, thì đó là bất nhị, và lìa được nghiệp lực của cõi này.
 

Thiền Tông Việt Nam có bài kệ của Thiền sư Tông Diễn (1640-1711), trích: “Hữu vô câu bất lập, nhật cảnh bổn đương bô” (có và không đều không lập, mặt trời trí tuệ sẽ lên cao).
 

Chúng ta có thể lấy hình ảnh này: mặt gương của tâm vì là Không, nên mới hiện vô lượng ảnh của Có. Nếu khởi tâm chụp lấy Có, thì sẽ làm bể gương; nếu chụp lấy Không, thì vô vọng.
 

Tương tự, chúng ta lấy hình ảnh mặt hồ tĩnh lặng cho tâm: khi tâm bình lặng, thì hồ nước hiện ra ánh trăng. Thò tay chụp cái Có trăng thì tâm sẽ loạn, nếu nghĩ rằng chụp cái Không trăng thì sẽ mất dụng của hồ tâm bình lặng.
 

Tiếp theo, sách Tông Chỉ nói rằng "đạt đến rồi thì quên người quên ta. Ân oán thù hận là bình đẳng, đến ta còn không biết thì hâm mộ ở chỗ nào?" Điều này chỉ đơn giản là thấy được Đạo rồi, tức là, thấy được Pháp rồi, thì quên người, quên ta. Chỗ này nên nhớ rằng các cụ sử dụng văn phong xưa, nên ý chỉ là đã thấy người là vô ngã, đã thấy ta là vô ngã, thì không còn dính vào các  cái nhìn chấp là có ngã, chấp ta với người nữa. Vì thấy vô ngã như thế, nên hiểu được tất cả các pháp đều bình đẳng.
 

Kinh Phật ghi rằng, ai thấy được Pháp, tức là thấy Như Lai. Kinh Kim Cang ghi lời Phật dạy rằng: Nếu lấy sắc mà thấy ta, Lấy âm thanh mà cầu ta, Người đó theo đạo tà, Không thể thấy Như-lai.
 

Chỗ này có thể giải thích nhiều cách để nhận ra pháp ấn vô ngã. Và thấy vô ngã, là sẽ thấy không Phật, thấy không ta, thấy không người. Thấy thường trực như thế là chứng tuệ giải thoát, không cần ngồi tu gì khác (Kinh SN 12.70).
 

Có thể nhìn từ pháp ấn vô thường để nhận ra vô ngã: từ nhỏ tới lớn, chúng ta có vô lượng thân và vô lượng tâm, do vậy y hệt như gương sáng hiện ra vô lượng thân tâm đó, và do vậy là vô ngã, vì nếu có cái ngã nào thì không còn vô thường và gương không còn là gương.
 

Trước tiên, nói về những gì chúng ta nghe (âm thanh) đêu là vô ngã. Kinh SN 35.246 nói rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là vô ngã, thí dụ như tiếng đàn do nhiều duyên, nên cái được nghe là Không, và là vô ngã. Kinh SN 35.246, theo bản dịch Thầy Minh Châu, trích:
 

"Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: “Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy?” Họ nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy nói như sau: “Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta”. Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy bèn nói: “Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta”. Họ thưa với vị ấy: “Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm”. Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nước sông chảy mạnh." (hết trích)
 

Tiếp theo, chúng ta nói về những cái được thấy cũng chính là Không, và là vô ngã. Thí dụ, cỗ xe là cái được thấy, thực sự cũng là Không, và là vô ngã. Kinh Na Tiên Tỳ Kheo ghi rằng, thân tâm người cũng như cỗ xe, không chỉ ra được cái gì là ta, cũng vậy, không chỉ ra được chỗ nào trên xe là xe: gọng xe, trục xe, bánh xe, thùng xe, thanh chống xe, ách xe, dây cương xe, gậy thúc xe đều không gọi là cỗ xe. Do vậy, cỗ xe không phải là cỗ xe.
 

Cái được nghe, cái được thấy đều thấy là vô ngã như thế, tự nhiên tâm sẽ không còn lưu luyến gì, và cũng không có tà kiến nào lôi kéo được người tu nữa. Đó là thấy không Phật, thấy không ta, thấy không người. Thấy trong Tánh Không như thế, là sẽ thấy vạn pháp bình đẳng. Ngay cả ngôi chùa trước mắt, ngọn núi trước mắt... đều hiển lộ trong cái Không mà Có như thế, thì chỗ nào cho tham sân si khởi dậy.
 

Đoạn trên có nói về Tịnh Thổ, chữ bây giờ chúng ta thường gọi là Tịnh Độ, tức là cõi trong sạch, thanh tịnh. Chữ Liên Đài là đài sen, nói ý chỉ là nơi những người tu Tịnh Độ sinh ra nơi đài sen. Nơi đây, quý ngài trong sách Tông Chỉ Nguyên Thanh nói rõ rằng pháp tu Tịnh Độ là "chỉ là chăm chỉ ở chỗ không có gì, chép một chữ "mộ" không thôi, thì càng tỏ ra không biết Phật."
 

Do vậy, ý chỉ Thiền Tông là thấy vô ngã, thấy không Phật, thấy không ta, thấy không người, và vì vậy nên mới là không còn gì để học. Do vậy, người thấu suốt ý chỉ Thiền Tông thì thấy thường trực không có Phật, không có người, không có sách (kinh vô tự), cũng không có chỗ trú (ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm).
 

Trong đoạn văn dẫn trên có nói về Hàn Xương Lê, tức Hàn Dũ (768 - 824) người đời Đường, có chủ trương bài đạo Phật. Nơi đây, chúng ta chỉ bàn về ý chỉ Thiền Tông, không bàn về cuộc tranh luận khi các nhà Nho bài bác Phật giáo.
 

Cón bốn dòng kệ "Quan Âm là Quan Âm / Hòà thượng là hòa thượng / Ta, ngươi đều dửng dưng / Đều không người biết ta" chỉ đơn giản là: Phật là Phật, sư là sư, ta và người đều không thấy có chỗ bận tâm, và người tu chân chính là người sống thường trực với tâm không biết. Vì bất kỳ cái biết nào cũng là có cái được biết, và là những dựng lập về một quá khứ của tôi, ta, người.
 

Do vậy, ngài Bồ Đề Đạt Ma mới nói là "Không biết" và đó là thường trực gương sáng.
 

Hãy đọc lại chỗ Vua Lương Vũ Đế hỏi Bồ Đề Đạt Ma:

- Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?

- Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.

- Ai đang đối diện với trẫm đây?

- Không biết.
 

Do vậy, ý chỉ Thiền Tông là tỉnh thức thường trực với tâm không biết, và tâm tỉnh thức thường trực với không biết chính là gương sáng không bụi. Nơi đó sẽ thấy không ta, không người.
 

THAM KHẢO:

. Kinh MN 22: Ví dụ cái bè, chánh pháp còn phải bỏ, huống nữa là phi pháp.

https://suttacentral.net/mn22/vi/minh_chau

. Kinh SN 12.70: chỉ cần chứng ngộ vô ngã, không cần tu gì khác.

https://suttacentral.net/sn12.70/vi/minh_chau

. Kinh SN 35.246: tiếng đàn do nhiều duyên, nên là vô ngã.

https://suttacentral.net/sn35.246/vi/minh_chau

 

Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020 thời gian 45 năm. Đây là một khoảng thời gia rất dài trong đời người và thời gian đủ để một quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một tập thể hoặc cá nhân sáng suốt, có thể đưa cả một dân tộc đi lên và xoay chuyển vận mệnh như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, Tổng Thống Mustafa Kamal Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Tổng Thống Phác Chính Hy của Nam Hàn.
Cơ Quan FDA của Hoa Kỳ chưa chấp thuận bất cứ loại thuốc nào cho việc điều trị vi khuẩn corona. Nhưng họ dự định sẽ tuyên bố sự ủy quyền sử dụng khẩn cấp đối với thuốc remdesivir, theo báo The New York Times cho biết. Việc ủy quyền có thể đến vào Thứ Tư, theo báo Times tường trình, trích thuật lời một viên chức cao cấp của chính phủ cho biết. Trong một thông báo gửi cho CNN, FDA nói rằng họ đang nói chuyện với Gilead Sciences, nhà bào chế thuốc remdesivir, về việc chế tạo thuốc cho các bệnh nhân.
Tổng Thống Trump nói rằng các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội hiện có mà sẽ hết hạn vào cuối tháng 4 tức Thứ Năm sẽ không được gia hạn thêm, khi ngày càng có nhiều thống đốc bắt đầu thực hiện các bước gỡ bỏ các hạn chế và tái mở cửa kinh tế của họ. Chính phủ Trump cho biết các đề nghị giữ khoảng cách xã hội hiện đang có sẽ không được hợp tác bởi các thống đốc áp dụng vào các kế hoạch tương lai mới của họ. “Chúng sẽ bị bãi bỏ, bởi vì các thống đốc hiện đang làm điều đó,” theo Trump cho biết.
Trung Cộng luôn luôn tìm mọi cách để khẳng định tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông mà cụ thể là họ đã tự đưa ra hình đường lưỡi bò liếm gần hết Biển Đông, thì nay một công ty TQ An Dương tại Hải Phòng đã xây dựng công trình có hình giống như hình đường lưỡi bò của TQ đã bị dẹp bỏ, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 29 tháng 4 năm 2020.
Một khu trục hạm phi đạn dẫn đường của Hải Quân Hoa Kỳ đi qua vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông thách thức yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực, theo tin của AFP tường thuật Hải Quân cho biết hôm Thứ Tư, 29 tháng 4.
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
Ngày 29 tháng 4, năm 2020, nhân tưởng niệm 45 năm tháng Tư Đen, các Dân Biểu Hoa Kỳ Alan Lowenthal, Lou Correa và Harley Rouda đã gửi thư cho Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm tại VN, tiếp tục việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được công khai hoạt động, và bảo vệ các quyền và tự do căn bản của công dân Việt Nam.
Trong tuần lễ này, Dân Biểu Liên Bang Lou Correa (CA-46) đã giới thiệu nghị quyết tưởng niệm về sự hy sinh và can đảm của người tị nạn Việt Nam bỏ chạy khỏi miền nam Việt Nam từ sau ngày Sài Gòn sụp đổ khoảng 45 năm về trước.
ngôi Thiền viện trang nghiêm đang mọc lên nơi Danh thắng Bạch Mã, sống động giữa lòng Hồ Truồi; hay một Thiền phái Trúc Lâm đang được sống dậy trong lòng người dân xứ Huế.
Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Nhiều người Mỹ gốc Việt trên khắp đất nước sẽ tham gia vào lực lượng vận chuyển, phân phát đồ ăn và các dụng cụ cần thiết để hỗ trợ nhân viên y tế chiến đấu với dịch bệnh COVID-19
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.