Hôm nay,  

Thấy Phật, Thấy Pháp

10/06/202510:11:00(Xem: 4455)
blank 

Thấy Phật, Thấy Pháp
 

Nguyên Giác
 

Có một lời Đức Phật nói thường được nhắc tới. Đó là câu, “Ai thấy Pháp, là thấy Ta.” Nghĩa là, thấy Pháp, là thấy Phật. Câu nói này không có nghĩa là, thấy thân xác ngũ uẩn của Đức Phật. Pháp nơi đây có thể hiểu theo nhiều nghĩa, có thể là lời Đức Phật dạy, là con đường giải thoát, là nhận diện ra vạn pháp vô ngã trong lý nhân duyên, nguyên tắc vận hành của vạn pháp, và cả của thân tâm ta. Như thế, có thể hiểu là pháp vô vi nằm sẵn trong các pháp hữu vi, tức là Niết bàn đã có sẵn trong pháp ấn vô thường của sinh và tử.
 

Trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ 381, bản dịch của Thầy Minh Châu là:

381. “Tỷ kheo nhiều hân hoan,

Tịnh tín giáo pháp Phật,

Chứng cảnh giới tịch tịnh,

Các hạnh an tịnh lạc.”
 

Trong bản dịch của Daw Mya Tin về tích truyện Pháp Cú 381, chúng ta sẽ thấy về chuyện một nhà sư say mê nhìn Phật, không chịu tu, bị rầy, nhà sư buồn, có ý muốn tự tử, thế rồi Đức Phật dùng thần thông hiện ra, vị sư này liền chứng quả thánh. Câu chuyện kỳ là này là về Tỳ kheo Vakkali.
 

Trong khi cư trú tại tu viện Veluvana, Đức Phật đã nói Bài kệ 381 trong Kinh Pháp Cú, là về nhà sư Vakkali. Ngài Vakkali là một bà la môn sống ở Savatthi. Một ngày nọ, khi nhìn thấy Đức Phật đi khất thực trong thành phố, ông rất xúc động trước vẻ ngoài cao quý của Đức Phật. Đồng thời, ông cảm thấy rất yêu mến và tôn kính Đức Phật và xin phép gia nhập Tăng đoàn chỉ để được ở gần Đức Phật. Là một nhà sư, Vakkali luôn gần với Đức Phật; ông không quan tâm nhiều đến các nhiệm vụ khác của một tỳ kheo và hoàn toàn không thực hành thiền định. Chỗ đáng chú ý là, vị sư này hoàn toàn không thực hành thiền định.
 

Vì vậy, Đức Phật nói với nhà sư, “Vakkali, sẽ vô ích cho ông khi cứ luôn ở gần ta, cứ nhìn vào mặt ta. Ông nên thực hành thiền định; vì thực sự, chỉ có người thấy Pháp mới thấy ta. Người không thấy Pháp thì không thấy ta. Vì vậy, ông phải rời khỏi sự hiện diện của ta.”

Khi nghe những lời đó, Vakkali cảm thấy rất chán nản. Ông rời khỏi Đức Phật theo lệnh, và leo lên đồi Gijjhakuta với ý định tự tử bằng cách nhảy xuống từ đỉnh đồi. Lại thêm một điểm tiêu cực để chú ý nữa: Chưa chứng quả gì hết, lại sống với tâm sầu muộn, khởi tâm muốn tự sát. Đức Phật, biết rõ mức độ đau buồn và tuyệt vọng của Vakkali, đã suy nghĩ rằng vì nỗi buồn và sự chán nản lớn lao của mình, Vakkali có thể bỏ lỡ cơ hội chứng quả thánh. Do vậy, Đức Phật đã phát ra ánh sáng của mình tới Vakkali, khiến nhà sư này cảm thấy sự hiện diện của Đức Phật và xuất hiện như thể trực tiếp gặp với Vakkali. Với Đức Phật ở gần, Vakkali nhanh chóng quên hết mọi nỗi buồn của mình; ông trở nên vui vẻ và rất phấn khởi.
 

Đức Phật đã nói với nhà sư này bằng bài kệ như sau:

Bài kệ 381: Vị tỳ khưu thường trực cảm thấy vui mừng và tận tụy với Lời dạy của Đức Phật sẽ chứng ngộ Niết bàn — Tịch lặng, Vô vi, An lạc.
 

Nghe xong, nhà sư Vakkali liền đạt được quả vị A la hán.

Chỗ này cũng cần suy nghĩ thêm. Hiển nhiên, không phải vì nhìn thấy khuôn mặt hay nhìn thấy bước đi của Đức Phật mà nhà sư chứng quả A la hán. Cũng không phải vì nhìn thấy vùng ánh sáng Đức Phật chiếu tới. Nhà sư này trước giờ không chịu ngồi thiền (nên mới bị Phật rầy), và trước giờ liên tục chỉ muốn nhìn thấy khuôn mặt của Đức Phật. Trường hợp này có thể suy đoán rằng, trong nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, nhà sư nhìn ngắm Đức Phật. Cũng giống như chúng ta bây giờ nhìn ngắm tượng Phật. Khi nhìn khuôn mặt Phật, nhà sư dứt bặt mọi suy nghĩ tư lường. Trong Thiền Tông gọi là trạng thái vô niệm, cũng có thể dùng chữ kiểu sách vở rằng công án của nhà sư này là nhìn ngắm Đức Phật và rơi vào trạng thái tỉnh thức của vô niệm. Thế rồi bị rầy, thế nên buồn, mới nghĩ là muốn tự tử, rồi Phật hiện ra, nói bài Kệ, thì chính bài Kệ này làm nhà sư tình thức, mới thấy rằng chính lời Đức Phật dạy mới chỉ ra Niết bàn, chứ không phải vẻ đẹp khuôn mặt Đức Phật. Nhà sư sực tỉnh, rơi vào trạng thái Tịch lặng, Vô vi, An lạc.
 

Vô vi, tức là xa lìa các duyên. Khuôn mặt Đức Phật là pháp hữu vi, sẽ già, sẽ bệnh, sẽ biến đổi. Nhưng lời Phật dạy là chỉ ra con đường tới Vô vi, xa lìa các duyên, tức là Pháp. Đó mới thực sự là: Thấy vô vi, là thấy Pháp, là thấy Phật, nơi đó là tịch lặng và hạnh phúc.
 

Trong Kinh Kim Cang, bản dịch của Thầy Thích Duy Lực, nơi Phẩm “26. Pháp Thân Phi Tướng” có đoạn đối thoại như sau:

“- Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Có thể dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai chăng?

Tu Bồ Đề đáp: Đúng thế! Đúng thế! Có thể dùng ba mươi hai tướng quán Như Lai.

Phật bảo Tu Bồ Đề: Nếu dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai sao? (Chuyển Luân Thánh Vương cũng có ba mươi hai tướng)

 Tu Bồ Đề thưa rằng: Bạch Thế Tôn, như con hiểu ý nghĩa lời Phật, thì chẳng nên dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ rằng: Nhược dĩ sắc kiến ngã, Dĩ âm thanh cầu ngã, Thị nhơn hành tà đạo, Bất năng kiến Như Lai.

Dịch nghĩa: Nếu dùng sắc thấy ta, Dùng âm thanh cầu ta. Là người hành tà đạo, Chẳng thể thấy Như Lai.” (ngưng trích)
 

Trong phần Lược Giải, Thầy Duy Lực viết:  “Chữ Ta ở đây là tự tánh Phật. Tự tánh bất nhị, chẳng có năng sở, nên chẳng phải sở thấy sở cầu. Nếu đuổi theo căn trần để thấy để cầu là hành theo tà đạo, chẳng thể đạt đến kiến tánh. (Lược giải hết)”
 

Như thế, muốn thấy Phật, là phải thấy Pháp. Và Pháp không thể là cái màu sắc xanh đỏ tím vàng, cũng không phải các hình vuông tròn đủ thứ. Không dựa vào cái được thấy, và không dựa vào cái được nghe. Đức Phật từng dạy rằng tất cả những gì được thấy và được nghe đều bất khả đắc, cũng như hình hiển lộ trong gương (tâm) và cũng như những âm thanh chúng ta nghe được như tiếng đàn, tiếng chim kêu, tiếng mưa rơi. Không thể níu giữ hình được thấy và không thể níu giữ các âm thanh được nghe.


 

Tới đây, chúng ta sẽ thấy rằng, khi thấy được cái không được thấy và nghe được cái không được nghe, thì toàn bộ thân tâm chúng ta rơi vào một cảnh giới xa lìa cả quá khứ, hiện tại và vị lai. Bởi vì cả ba khuôn thời gian quá, hiện, vị lại đều định hình từ cái được thấy và cái được nghe của quá, hiện, vị lại. Xa lìa cả ba thời, nghĩa là, một bước nhảy qua bờ bên kia.
 

Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ 348, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: 

348. “Bỏ quá, hiện, vị lai,

Đến bờ kia cuộc đời,

Ý giải thoát tất cả,

Chớ vướng lại sanh già.”
 

Tích truyện kể rằng, trong khi trú ngụ tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã đọc bài Kệ 348 của Kinh Pháp Cú, liên quan đến Uggasena, con trai của một người đàn ông giàu có đã yêu thương một cô vũ công. Một lần, một đoàn kịch lưu động gồm năm trăm vũ công và một số diễn viên nhào lộn đã đến Rajagaha và biểu diễn trên khuôn viên cung điện của Vua Bimbisara trong bảy ngày. Ở đó, một nữ vũ công trẻ tuổi là con gái của một diễn viên nhào lộn đã hát và nhảy trên đỉnh một cây sào tre dài.
 

Chàng Uggasena, con trai của một người đàn ông giàu có, đã yêu cô vũ công này một cách tuyệt vọng và cha mẹ anh không thể ngăn cản anh kết hôn với cô. Chàng kết hôn với cô vũ công trẻ tuổi và đi theo đoàn kịch. Vì anh không phải là vũ công cũng không phải là diễn viên nhào lộn, nên anh không có nhiều ích lợi cho đoàn kịch. Vì vậy, khi đoàn kịch di chuyển từ nơi này sang nơi khác, anh phải giúp khiêng thùng, lái xe, v.v.
 

Với thời gian, một bé trai chào đời từ mối tình giữa Uggasena và vợ anh, cô vũ công. Đối với em bé này, cô vũ công thường hát bài hát như thế này: "Hỡi con trai của người đàn ông trông giữ xe ngựa; người đàn ông khiêng thùng và gói đồ đạc! Ôi, con trai của người vụng về không thể làm gì cả!" Uggasena nghe bài hát; anh biết rằng vợ anh đang ám chỉ anh và anh rất đau khổ và chán nản. Vì vậy, anh đã đến gặp cha vợ, một diễn viên nhào lộn, và xin ông dạy anh nhào lộn. Sau một năm đào tạo, Uggasena đã trở thành một diễn viên nhào lộn khéo léo.
 

Sau đó, Uggasena trở về Rajagaha, và người ta tuyên bố rằng Uggasena sẽ công khai biểu diễn kỹ năng của mình trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, một cây sào dài được dựng lên và Uggasena đứng trên đỉnh. Theo một tín hiệu được đưa ra từ bên dưới, anh lộn nhào bảy lần trên cây sào. Vào khoảng thời gian này, Đức Phật nhìn thấy Uggasena trong tầm nhìn của mình và biết rằng thời điểm đã chín muồi để Uggasena đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài vào Rajagaha và mong muốn khán giả hướng sự chú ý của họ vào ngài thay vì vỗ tay cho Uggasena. Khi Uggasena thấy rằng mình bị bỏ rơi và không được ai chú ý, chàng chỉ ngồi trên đỉnh cột, cảm thấy rất bất mãn và chán nản. Sau đó, Đức Phật nói với Uggasena, "Uggasena, một người trí tuệ nên từ bỏ mọi sự dính mắc vào các uẩn và hãy ra sức để đạt được sự giải thoát khỏi vòng luân hồi."
 

Sau đó, Đức Phật nói bài kệ như sau.

Câu 348: Hãy buông bỏ quá khứ, buông bỏ tương lai, buông bỏ hiện tại. Khi đã đến sự kết thúc của các kiếp sống, với tâm được giải thoát khỏi vạn duyên, ngươi sẽ không còn phải sinh và già nữa.
 

Nghe xong, Uggasena, chàng vẫn còn ngồi trên đỉnh cột, liền chứng quả vị A-la-hán. Chàng đã xuống và sớm được Đức Phật chấp nhận vào Tăng đoàn.

Tại sao như thế? Đó là người đã thấy và nghe, trong khi không còn thấy mình dính vào bất kỳ những cái được thấy và những cái được nghe của ba thời.

Để làm cho dễ hiểu hơn, chúng ta có thể dẫn ra Kinh SA 288, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng. Trích Kinh như sau:
 

“Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi: Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, trước đây Hiền giả nói danh sắc chẳng phải tự tác, chẳng phải tha tác, chẳng phải tự và tha tác, chẳng phải chẳng tự và tha, vô nhân tác, nhưng danh sắc này duyên thức mà sanh ra. Bây giờ, lại nói danh sắc duyên thức, vậy nghĩa này là thế nào?

Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la đáp: Nay tôi sẽ nói thí dụ, nếu là người trí thì nhờ thí dụ sẽ hiểu được. Thí như ba cây lau được dựng lên nơi đất trống, nhờ nương tựa vào nhau mà có thể đứng vững; nếu lấy ra một cây thì hai cây kia cũng không đứng được; nếu lấy đi hai cây thì một cây cũng không đứng vững, vì chúng phải nương vào nhau mới có thể đứng được. Thức duyên danh sắc lại cũng như vậy, phải nương tựa lẫn nhau mới sanh trưởng được.”(ngưng trích)
 

Đơn giản nghĩa là, không hề dựng lập bất kỳ cây lau nào nữa, thì tìm đâu ra ba cây lau cho các pháp hiện tiền. Ba cây lau đó là căn, trần và thức. Không dựng lập bất kỳ cây lau nào hết, thì làm sao mà bị buộc nữa. Hãy mặc kệ tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc và được tư lường.
 

Hãy nói câu nói của Bồ Đề Đạt Ma cuối buổi nói chuyện với Lương Vũ Đế. Bạn hãy liên tục nói, rằng “Không biết.” Thì tâm hồn của bạn sẽ trở thành một em bé thơ dại, thì tham sân si nào dựa vào đâu mà khởi dậy. Hãy thường trực thấy tâm mình trong trẻo và rỗng rang, như gương không dính ảnh. Thường trực như thế, là giải thoát, vì không còn tìm thấy cái gì để chấp là có ngã, hệt như tánh phản chiếu của gương luôn luôn là vô ngã. Đó cũng là thấy Phật, thấy Pháp.

 

THAM KHẢO

. The Dhammapada: Kệ và truyện 381 và 348:

https://www.tipitaka.net/tipitaka/dhp/index.php

. Kinh Pháp Cú, bản dịch Thầy Minh Châu:

https://thuvienhoasen.org/p15a7964/pham-21-26

. Kinh Kim Cang. Bản dịch Thầy Duy Lực:

https://thuvienhoasen.org/a1875/kinh-kim-cang-phan-3

. Kinh SA 288, bản dịch 2 Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng

https://suttacentral.net/sa288/vi/tue_sy-thang

 

Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Chuyện lạ chỉ xảy ra theo lệnh Trump: Cộng Hòa dọa xử bắn Cộng Hòa. Geoff Duncan, Phó Thống Đốc Georgia, nói rằng ông sẽ không ra tái ứng cử vào năm 2022. Duncan nói rằng ông rất buồn và lo sợ khi bị các bạn Cộng Hòa hăm dọa từ khi ông từ chối lời Trump yêu cầu lật ngược kết quả bầu cử 2020 tại tiểu bang Georgia.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
Để thúc đẩy việc tiếp cận thuốc chích ngừa Covid-19 cho các thành viên của CalOptima và những gia đình của họ, CalOptima và Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam (OCHCA) phối hợp để cung cấp các buổi chích thuốc ngừa địa phương tại văn phòng của CalOptima tại Quận Cam, theo bản tin của Giám Sát Viên Andrew Đỗ cho biết hôm Thứ Hai, 17 tháng 5 năm 2021.
Nghiên cứu toàn cầu, mà WHO gọi là lần đầu tiên thuộc loại này, cho thấy rằng trong năm 2016, có 488 triệu người đã gặp nguy cơ của làm việc nhiều giờ. Tổng cộng, hơn 745,000 người chết vào năm đó vì làm việc quá nhiều mà đưa tới bị tai biến và bệnh tim, theo WHO. “Từ năm 2000 tới 2016, số tử vong từ bệnh tim vì làm việc nhiều giờ đã tăng 42% và từ tai biến tăng 19%, theo WHO cho biết vào lúc tổ chức này công bố nghiên cứu, mà đã thực hiện với Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO).
California sẽ không gỡ bỏ lệnh đeo khẩu trang để phù hợp với các khuyến nghị mới của liên bang cho đến sau ngày 15 tháng 6, là ngày để tiểu bang tái mở cửa hoàn toàn các cơ sở kinh doanh, theo các viên chức y tế tiểu bang cho biết hôm Thứ Hai, 17 tháng 5 năm 2021 qua tường thuật của Báo Politico hôm Thứ Hai.
Một gia đình người Mỹ gốc Việt tại thành phố St. Pete Beach thuộc tiểu bang Florida, đã mất một người thân sau khi một chiếc xe lao vào họ vào tối Thứ Năm vừa qua, theo bản tin của Yahoo News tường thuật hôm Thứ Hai, 17 tháng 5 năm 2021. Lúc đó gia đình Việt Nam này đang đi bộ băng qua đường tại khúc đường có số nhà 4700 của Đại Lộ Gulf Boulevard khi một chiếc xe Nissan Juke màu đỏ tông vào họ và bỏ chạy.
GS-TS Nguyễn Mạnh Hùng: ”Nó (bài viết) không giải thich rõ được làm sao có nhà nươc pháp quyền khi tư pháp không độc lập; làm sao có dân chủ nếu chỉ có một đảng, không có cạnh tranh chính trị và dân không có quyền chọn lưa người đại diện…”
Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Và khi từng gia đình con người chịu khổ đau do ảnh hưởng cơn đại dịch COVID-19, thì bài kinh Phật nhắc nhở chúng ta rằng: “Vì muôn loài chúng sinh bị bệnh, nên ta cũng bệnh.”
Các Kinh sách mới (có tiếng Anh và Việt) do Chùa Hương Sen xuất bản đã in xong năm 2021. Ni sư Trụ trì Thích Nữ Giới Hương cùng quý sư cô đang gói sách để tặng Chư Tôn Thiền đức Tăng Ni ở các Chùa.
Hoa Hậu Miến Điện đã dùng cơ hội chung kết Hoa Hậu Hoàn Vũ (Miss Universe) đêm Chủ Nhật 16/5/2021 kêu gọi hỗ trợ cuộc chiến vì dân chủ của dân tộc Miến Điện, chống lại nhà nước quân sự lên nắm quyền sau cuộc đảo chánh hồi tháng 2/2021.
Theo báo India Today, người phụ nữ đã bị cách ly tại nhà khi sức khỏe của bà tồi tệ hơn vào ngày 10 tháng 5. Gia đình của bà đã chở bài tới một bệnh viện địa phương khi bà rơi vào bất tỉnh. Gia đình, cho rằng bà đã chết, trở về nhà và chuẩn bị thiêu bà. Bà đã bắt đầu “khóc” và “mở mắt” giây lát trước khi gia đình dự định bắt đầu thiêu bà, theo Santosh Gaikwad, cảnh sát viên tại Baramati, cho biết. Người phụ này hiện đang được điều trị tại một bệnh viện địa phương.
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres hôm Chủ Nhật, 16 tháng 5 năm 2021, đã gọi vụ xung đột giữa Do Thái và dân quân Dải Gaza là “hoàn toàn kinh khủng” và thúc giục một cuộc ngưng bắn tức thì, khi sự bùng nổ tồi tệ nhất của cuộc chiến kéo dài nhiều năm trong bảy ngày và gây tổn thất nặng nề cho thường dân, theo CNBC tường thuật hôm Chủ Nhật.
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.