Hôm nay,  

Ngọc Đèn Pháp Thiền Tông

08/07/202510:22:00(Xem: 3532)
blank

Ngọc Đèn Pháp Thiền Tông
 

Nguyên Giác
 

Trong ngày Sinh nhật thứ 90 của Đức Đạt Lai Lạt Ma, báo The Times of India ấn bản tiếng Anh ngày 6 tháng 7/2025 có bài do Ban biên tập viết, nhan đề “Dalai Lama turns 90: How is Zen Buddhism different from traditional and Tibetan Buddhism?” -- nghĩa là “Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa tròn 90 tuổi: Phật giáo Thiền tông khác với Phật giáo Tây Tạng và Phật giáo truyền thống như thế nào?” -- đưa ra một giải thích cho các độc giả đọc Anh ngữ hiểu sơ lược về ba truyền thống Phật giáo này. Nơi đây, chúng ta dịch sang tiếng Việt bài viết kia, và sẽ góp thêm vài ý để làm sáng tỏ hơn về Thiền Tông.
 

Nên ghi nhận rằng, bài báo đó sẽ có tác dụng rất lớn, vì The Times of India là nhật báo tiếng Anh lớn thứ ba ở Ấn Độ về lượng phát hành và là tờ báo tiếng Anh hàng ngày bán chạy nhất thế giới. Theo Wikipedia, báo này có lượng phát hành tới 1,872,442 ấn bản (tính vào tháng 4/2023), và có tới 8 tờ báo liên kết (sister newspaper), trong đó nổi tiếng nhất là tờ báo tiếng Anh The Economic Times với 269,882 ấn bản (tính vào năm 2023) mỗi ngày. Đó là chưa kể tới số người không mua bản giấy, mà chỉ đọc qua mạng. Chúng ta vui mừng vì thấy ngày sinh nhật thứ 90 của Đức Đạt Lai Lạt Ma được thế giới xem như một sự kiện lớn, và cũng là một cơ duyên để Chánh Pháp được biết tới nhiều hơn.
 

Bắt đầu bản dịch:

.

Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa tròn 90 tuổi: Phật giáo Thiền tông khác với Phật giáo Tây Tạng và Phật giáo truyền thống như thế nào?

Ban biên tập ETimes.in / ngày 6 tháng 7/2025.
 

Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 đón sinh nhật lần thứ 90 của ngài vào ngày 6 tháng 7 năm 2025, và ngài cũng là vị giữ ngôi lâu nhất trong dòng truyền thừa của tất cả các Đức Đạt Lai Lạt Ma cho đến nay. Cuộc đời của ngài không chỉ làm nổi bật triết lý Phật giáo Tây Tạng nhưng cũng truyền cảm hứng cho sự quan tâm toàn cầu đối với Phật giáo nói chung.

Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo đã phân nhánh thành nhiều tông phái khác nhau trong khi mỗi tông phái đều được định hình bởi văn hóa, khu vực và sự tiến hóa lịch sử. Trong khi Phật giáo Thiền tông, thường được biết đến với sự giản dị và thiền định trong im lặng, và sự lan rộng của Thiền tông ở Đông Á và phương Tây, Phật giáo Theravada truyền thống và Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, và dòng truyền thừa tâm linh của các tông phái có nguồn gốc sâu xa từ những giáo lý Phật giáo sơ kỳ và các nghi lễ thực hành.

Vậy, chính xác thì Thiền tông khác biệt như thế nào? Và Phật giáo Theravada truyền thống và Phật giáo Tây Tạng có thể được đối chiếu như thế nào?

Sau đây là những điểm khác biệt cốt tủy và niềm tin chung giữa ba con đường Phật giáo riêng biệt này.

.

Cội nguồn và phát triển

Phật giáo Theravada là tông phái lâu đời nhất còn tồn tại, có nguồn gốc trực tiếp từ các cộng đồng Phật giáo đầu tiên ở Ấn Độ. Sau đó, được lan truyền sang Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, Lào và Campuchia. Phật giáo Tây Tạng là một phần của truyền thống Mahayana chính, được phát triển ở Tây Tạng sau khi các nhà sư Ấn Độ mang các văn bản Phật giáo vào thế kỷ thứ 7. Trong đó bao gồm nghi lễ, mật tông và một hệ thống tu viện mạnh mẽ. Mặt khác, Thiền tông xuất phát từ Thiền tông Trung Hoa, kết hợp giữa Mahayana với các yếu tố Lão giáo và sau đó phát triển ở Nhật Bản thành Thiền tông mà ngày nay chúng ta gọi là Thiền tông. Mỗi tông phái đưa ra một quan điểm khác nhau, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ giáo lý cốt lõi của Đức Phật về đau khổ, vô thường và con đường đạt đến giải thoát.

Phương pháp thiền định và thực hành

Phật giáo Theravada tập trung vào vipassana (Thiền tuệ) và samatha (Thiền chỉ), khuyến khích người tu quan sát tâm một cách chặt chẽ và đạt đến Niết bàn xuyên qua lối sống đạo đức, kỷ luật và chánh niệm.

Phật giáo Tây Tạng kết hợp thiền định với quán tưởng, tụng thần chú, tay giữ thủ ấn và thực hành với thần linh (deity practices: thấy mình là một với các vị Phật, Bồ Tát, hoặc các đại diện phẩm chất giác ngộ như từ bi, trí tuệ). Nó cung cấp các con đường chi tiết như Lamrim, nghĩa là Con đường Tuần tự Tu học, và cũng dựa trên sự hướng dẫn của một vị thầy giỏi.

Thiền tông đơn giản hóa con đường tu học bằng cách tập trung gần như hoàn toàn vào ngồi thiền, còn gọi là zazen. Thay vì lý luận phân tích chi tiết hoặc nghi lễ sống động, Thiền tông dạy rằng sự giác ngộ đến thông qua trải nghiệm trực tiếp, không lời nói. Nó ít liên quan đến việc học và nhấn mạnh nhiều hơn vào "chỉ ngồi mà thôi" (just sitting).

Trên cơ sở kinh điển và giáo lý

Theravada truyền thống dựa rất nhiều vào Kinh điển Pali, đặc biệt là các bộ Sutta Pitaka, nơi ghi chép những lời dạy đầu tiên của Đức Phật. Các nhà sư và cư sĩ nghiên cứu những văn bản này như một nền tảng cho hành vi đúng đắn và trí tuệ.

Phật giáo Tây Tạng sử dụng nhiều kinh sách được viết bằng tiếng Tây Tạng, có nguồn gốc từ các văn bản tiếng Phạn. Nó bao gồm các kinh Mahayana và các văn bản mật tông. Nghiên cứu là phần rất quan trọng, và các nhà sư có thể tranh luận về triết học trong nhiều năm để phát triển sự thông suốt [giáo lý] và hiểu rõ [Phật pháp].

Thiền tông kính trọng kinh điển nhưng thường xem nhẹ việc học văn bản. Một câu nói nổi tiếng của Thiền tông nói rằng, “Giáo ngoại biệt truyền” (Truyền dạy ngoài kinh điển). Thiền tông khuyến khích người tu trải qua những kinh nghiệm vượt ngoài lời nói, sử dụng công án hoặc các câu đố và trải nghiệm trực tiếp để tìm ra sự thật.

Sử dụng nghi lễ và biểu tượng

Phật giáo Tây Tạng rất phong phú về các biểu tượng, hay tranh thangka, nghĩa là các bức tranh thiêng liêng, mandala, bánh xe cầu nguyện và các nhạc cụ nghi lễ phổ biến. Người ta cho rằng những thực hành này có thể thay đổi tâm và môi trường của người tu thành các biểu hiện của nhận thức giác ngộ.

Theravada đơn giản hơn về nghi lễ nhưng coi trọng việc cúng dường, tụng kinh và những ngày lễ. Tu viện, chùa chủ yếu được sử dụng làm trung tâm cho cộng đồng Phật tử và các hoạt động như bố thí và thiền định.

Thiền tông chuyên giữ mọi thứ cho đơn giản và có ý nghĩa. Thay vì các nghi lễ lớn, nó tập trung vào các hành động nhỏ, tĩnh lặng như cúi chào, thắp hương hoặc tụng kinh. Những điều này có vẻ như cơ bản, nhưng trong Thiền tông, chúng được thực hiện chậm rãi và với sự tập trung cao độ.

Sự khác biệt dựa trên ảnh hưởng văn hóa

Phật giáo Theravada vẫn có nền tảng sâu sắc ở các quốc gia như Thái Lan, Sri Lanka và Myanmar, và cũng đang lan rộng trên toàn cầu vì tập trung vào chánh niệm và thiền định.

Phật giáo Tây Tạng được dẫn dắt bởi các nhân vật nổi tiếng như Đức Đạt Lai Lạt Ma, và đã lan tỏa đến mọi người trên khắp thế giới. Những lời dạy của Phật giáo về lòng từ bi, nghiệp lực và con đường Bồ tát kết nối với những người đang tìm kiếm ý nghĩa ở cả phương Đông và phương Tây.

Thiền tông có cách tiếp cận bình an và chủ yếu tập trung vào sống với cái ở đây và bây giờ. Nó cũng ảnh hưởng nhiều đến văn hóa Nhật Bản, như nghi lễ trà đạo và võ thuật. Ở phương Tây, nó phổ biến hơn đối với những người tìm kiếm sự tĩnh lặng và sáng suốt mà không cần đến tôn giáo chính thức. (Hết trích dịch)

.

Bài viết trên của Ban biên tập báo The Times of India hiển nhiên là được soạn theo hầu hết các sách phổ thông về Phật giáo trong thế giới tiếng Anh. Đối với Thiền tông thì bài viết không sai gì hết, nhưng chỉ là chưa đủ. Cần ghi nhận rằng phương pháp nhấn mạnh vào ngồi thiền là pháp Tào Động của Nhật Bản. Trong Thiền Lâm Tế và trước đó, vào thời của Pháp Bảo Đàn Kinh, lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng và vài thế hệ Thiền sư sau đó chỉ nhấn mạnh chủ yếu là Thấy Tánh, và xem việc ngồi Thiền hoài là kiểu y như mài ngói làm gương.

Trong bài viết trên cũng nhấn mạnh vào ý Thiền Tông là “pháp môn truyền ngoài kinh điển.” Thực ra, câu nói truyền ngoài kinh điển là có ý nói rằng phải đọc Kinh vô tự, Kinh không chữ, và phải đọc thấy Kinh Phật trong tâm, chứ không phải đọc kinh trong văn tự, chữ viết. Do vậy, các chùa Thiền tông thường nhất là tụng Kinh Kim Cang, Kinh Pháp Bảo Đàn. Nghĩa là, vẫn có pháp ghi trong chữ viết, văn tự.

Thêm nữa, không nên nhìn Thiền tông như nhuốm màu Lão giáo, như kiểu nhiều Giáo sư Tiến sĩ phương Tây giải thích. Một số điểm tương đồng bề ngoài dễ gây nhầm lẫn. Thí dụ, Lão giáo thường nói về thái độ vô vi; trong khi Thiền tông thường nói về thái độ vô tâm, vô niệm. Hai phương pháp này có nhiều phần khác nhau, và các phần tương đồng nên hiểu tùy nghe ngữ cảnh.

Vô vi trong Lão giáo là “Không làm mà không gì là không làm” (vô vi nhi vô bất vi). Lão Tử viết trong Đạo Đức Kinh, rằng “vô vi” hiểu theo Lão giáo không đơn giản là “không làm gì cả”, mà là hành động thuận theo tự nhiên, không cưỡng ép, không can thiệp bằng ý chí cá nhân, không dùng tư tâm để điều khiển sự vật, để mọi thứ vận hành theo Đạo. Một vị vua theo “vô vi” sẽ cai trị bằng cách tạo điều kiện cho dân tự phát triển, không áp đặt luật lệ quá mức, không sử dụng nhiều quyền lực.

Trong khi đó, thái độ vô tâm trong Thiền Tông có nghĩa chủ yếu là “Không bị cảnh làm lay động.” Nghĩa là, giữ tâm như thị. Do vậy, ngài Trần Nhân Tông viết rằng đối cảnh mà vô tâm thì không cần gì tới thiền nữa (Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền). Nghĩa là, người tu không khởi niệm phân biệt khi đối cảnh, không thấy tâm mình khởi dậy yêu hay ghét, không khởi tâm níu kéo hay xua đẩy. Lúc đó, tâm người tu sẽ không trụ vào bất kỳ pháp nào, dù là trụ vào thiện/ác, đúng/sai, có/không.

Kinh Kim Cang viết thái độ này là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Khi tâm không chỗ trụ, thì tâm giải thoát hiển lộ). Tâm giải thoát còn được Thiền tông gọi là Phật tánh, biểu hiện của từ bi, trí tuệ và giải thoát, không phải vô cảm. Khi đối chiếu, chúng ta có thể thấy rằng Thiền Vô Tâm, hay Thiền Vô Niệm chính là lời dạy trong Kinh Bahiya Sutta, rằng hãy để cái được thấy chỉ là cái được thấy, và cái được nghe chỉ là cái được nghe.

Nói rằng Thiền tông không dựa vào Kinh điển là không hoàn toàn đúng. Bởi vì bất kỳ kinh nhật tụng nào trong bất kỳ ngôi chùa Thiền tông nào cũng buộc phải tụng Bát Nhã Tâm Kinh và Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Tụng hàng ngày, hàng buổi, và phải sống các lời dạy này trong từng khoảnh khắc.

Bát Nhã Tâm Kinh có thể rút gọn thành Sắc tức thị Không, và Không tức thị sắc.  Nghĩa là, Sắc (những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được suy nghĩ tư lường) chính là Không, tức là không có tự ngã, không có tự tánh, như trò ảo thuật, vô thường, vô ngã, hư ảo như bọt nước, như tia chớp, như ráng nắng chiều. Và thấy ngược lại. Thấy như thế, thì không cần ngồi Thiền, và khi ngồi chỉ là để làm gương cho người ngoài cổng chùa. Ngoài tâm không có pháp. Trong khi Lão giáo phải tìm nơi u tịch luyện công, thì người tu Thiền thõng tay vào chợ vẫn không hề quái ngại.

Trong khi đó, Bốn lời đại nguyện của người tu Thiền đọc hàng ngày trong Kinh nhật tụng là: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.” Thực sự, cũng chỉ gom về tâm thôi. Không làm gì khác ngoài tâm mình.

Lục tổ Huệ Năng từng giảng rằng đó là: “Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, Tự tâm phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Tự tánh Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Nghĩa là: Khi thấy vô lượng niệm sanh khởi trong tâm thì hãy độ vô lượng tâm đó qua bờ, vào nơi an ổn; khi thấy vô lượng phiền não trong tâm thì người tu hãy đưa tất cả phiền não đó vào nơi tịch diệt; khi thấy trong tự tâm mình có vô lượng pháp môn của Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ thì hãy học, hãy tu, hãy trưởng dưỡng không ngừng; và khi thấy trong tự bản tâm mình đã có sẵn các phẩm chất giải thoát (tức Phật đạo) thì hãy hoàn thiện để sẽ không còn rơi vào đâu nữa.

Không phải tuyệt vời sao, khi chúng ta sinh trong thời còn có Phật pháp. Không phải tuyệt vời sao, khi chúng ta được thừa hưởng di sản Thiền tông rất độc đáo. Và không phải tuyệt vời sao, khi đi đứng nằm ngồi trong cõi trần gian đầy mưa bão tham sân si mà đã mặc được bộ áo giáp của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Không tu bây giờ thì để tới bao giờ, và rồi ai sẽ truyền đi ngọn đèn Pháp?
 

THAM KHẢO:

Dalai Lama turns 90: How is Zen Buddhism different from traditional and Tibetan Buddhism?​ | The Times of India

https://timesofindia.indiatimes.com/etimes/trending/dalai-lama-turns-90-how-is-zen-buddhism-different-from-traditional-and-tibetan-buddhism/photostory/122281599.cms

 

Tháng bảy khép lại theo tuần hoàn của thời gian và không gian, chỉ nắng nóng mùa hè là chưa thay đồi, vẫn hơn trăm độ F từng ngày làm đời sống vốn khó thêm khổ cho người lao động. Tan hãng, mở máy lạnh trong xe hết mức vẫn không thấy giảm được cái nóng trong xe như thiêu đốt. Nhưng nhìn những người Mễ đang làm công việc sửa đường dưới cái nắng gay gắt thấy chạnh lòng. Hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, chỉ cầu mong ơn trên thương xót họ, và tạ ơn trên về phần mình. Tuy việc làm có nhiều điều không ưng vì công việc không đúng sở thích nhưng dù sao cũng làm việc nhẹ nhàng trong điều kiện có máy điều hoà không khí, lương bổng và quyền lợi không cao nhưng đủ sống, đủ trả tiền nhà, điện, nước để có một chỗ về sau ngày làm việc…
Thái độ quyết liệt và sự lựa chọn can trường của Lê Anh Hùng, cũng như của những tù nhân lương tâm đồng hành, khiến cho vợ con cùng thân nhân của họ phải chịu rất nhiều thiệt thòi và phiền toái. Nhưng nếu không có sự hy sinh cao cả như thế thì dân Việt biết trông vào đâu để vẫn còn có thể giữ được chút niềm tin về tương lai của dân tộc, và đất nước này!
Đã có người trúng lô độc đắc Mega Millions trị giá hơn 1.3 tỷ đô đêm Thứ Sáu 29/7/2022. Ban đầu ước tính độc đắc là $1.28 tỷ đô, nhưng lượng vé số bán ra tăng vọt, nên độc đắc tới hơn 1.3 tỷ đô. Như thế, kỳ quay xổ số Mega Millions kế tiếp sẽ diễn ra vào thứ Ba và giải độc đắc sẽ là 20 triệu đô la.
một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường, 2 tấm ảnh ghi lại hai cuộc gặp gỡ của họa sĩ Đinh Cường với bằng hữu vào năm 2012 vq2 2015, và 1 bức ảnh họa sĩ Trương Vũ đang vẽ tranh bên dòng Potomac (2016)
EUROPE Vào ngày thứ Sáu 29 tháng 7 năm 2022, Tây Ban Nha đã báo cáo cái chết đầu tiên được xác nhận do bệnh đậu mùa khỉ. Đây cũng là trường hợp tử vong đầu tiên ở châu Âu vì căn bệnh này, và là trường hợp thứ hai ngoài Châu Phi, trước đó cũng vào ngày thứ Sáu, Brazil cũng đã báo cáo một trường hợp tử vong, theo báo DN ngày 29 tháng 7 năm 2022, Thụy điển.
✱ US.ACMH: Hai nhà lãnh đạo tôn giáo Trí Quang và Tâm Châu đều lên tiếng chống tham nhũng, hoạt động kém hiệu quả của chính phủ,và sự tồn tại của chế độ lệ thuộc vào ảnh hưởng của Mỹ. ✱ Các tướng lĩnh TQLC Hoa Kỳ trong Quân đoàn I ca ngợi sự hợp tác của Thi và khen ngợi sự tận tâm của ông ta đối với công cuộc bình định. ✱ Các tướng lĩnh Nam Việt Nam đã thông báo ngắn gọn cho Lodge và Westmoreland trước cuộc hành quân và được họ chấp thuận. Westmoreland cung cấp máy bay không quân Hoa Kỳ chuyên chở quân đội chính phủ ✱ Westmoreland không muốn quân Mỹ can thiệp, Ông ra lệnh tạm thời di tản người Mỹ khỏi Huế và Đà Nẵng, cấm tất cả quân nhân Mỹ rời doanh trại, [và] ngừng tất cả các hoạt động cho đến khi tình hình lắng xuống. ✱ Với sự chấp thuận của Tướng Westmoreland, Walt với một đoàn xe của Lực lượng TQLC Hoa Kỳ đã ngăn chặn lực lượng của Yêu tiến vào căn cứ không quân Mỹ và cử Đại tá Chaisson đứng ra đàm phán…
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình... Một cái nhìn viễn kiến về mối hiểm họa xung đột giữa các quốc gia trên thế giới, của nhà Chính trị học lừng danh Samuel P. Huntington, do Bác sĩ Hồ Văn Hiền chuyển ngữ và chú thích. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Trong vấn đề về dầu mỏ Vs. môi trường cũng cho thấy tính dài hạn và ngắn hạn của các chính đảng Hoa Kỳ. Những vị dân cử chọn dầu mỏ xem nhẹ môi trường là khuynh hướng tầm nhìn ngắn hạn. Ngược lại những chính khách chọn bảo vệ môi trường và hạn chế dầu mỏ cho thấy tầm nhìn dài hạn trong chính sách.
Hồ Xuân Hương có một tập thơ tên gọi Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Năm 1863 đại thần triều đình Huế Trương Đăng Quế, trong bài tựa cho Diệu Liên thi tập của Mai Am nữ sĩ, tức Lại Đức công chúa, đã sánh Mai Am với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh tác giả tập thơ Chiến cổ đường. Hai người thơ hay nhất nước Nam. Theo tôi tập thơ này không phải là tập hợp những bài thơ truyền khẩu do Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại đến làng Nghi Tàm sao chép trước năm 1892, từ những sưu tập của hai người con Tử Minh tức Cả Tân,
Câu chuyện y hệt như cổ tích trong Thiền sử, nhưng là sự thật đã xảy ra tại California. Ba chị em gái cùng đi tìm thầy học Thiền, đi xa ngàn dặm, cùng xuất gia, cùng học một vị Thầy nổi tiếng, người đã từng rời Hoa Kỳ để sang Nhật Bản nhiều năm học Thiền. Rồi ba chị em về mở chùa ở San Diego, mười năm sau dọn về Quận Cam mở chùa, hoằng pháp Thiền Tông. Đó là ba vị Ni sư Chân Như, Chân Thiền và Châu Diệu. Thiền Viện Sùng Nghiêm hôm Chủ Nhật 17/7/2022 đã tổ chức Lễ Tri Ân tại Crystal Restaurant, 12100 Beach Blvd, Stanton, với nội dung: Ni sư Chân Thiền về hưu, và phát hành sách Kỷ Yếu Nén Tâm Hương của Thiền Viện Sùng Nghiêm.
Khi bạn bước vào một căn nhà, điều gì gây ấn tượng? Đối với thế hệ tiền-kỹ thuật số, bước vào phòng sinh hoạt gia đình của họ người ta thường thấy kệ sách cao lên tận trần nhà, đôi khi phải bắt thang mới lấy được sách trên cao. Bây giờ, với thế hệ @ hay thế hệ gmail, điều đầu tiên đập vào mắt là màn ảnh ti-vi to, các trang bị kỹ thuật hiện đại, và tủ sách hình như đã trở thành loài có nguy cơ tuyệt chủng. Thật vậy, với xu hướng các thiết bị điện tử và kỹ thuật số đang lấn chiếm mọi sinh hoạt đời sống, khả năng đọc sách cũng như cách thức đọc gần đây đã thay đổi đáng kể. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng rộng rãi công nghệ kỹ thuật số đang làm xói mòn khả năng đọc sâu, sự chú ý liên tục, trí nhớ cũng như khả năng nhận thức chung của chúng ta. Người đọc thời đại điện tử dường như không còn đủ kiên nhẫn đọc những cuốn sách dày hay đọc bài dài, thiếu khả năng đọc sâu, thiếu tập trung, và thường thích đọc những mẩu vụn lượm lặt trên các trang mạng xã hội.
Nghiên cứu mới nhất cho thấy có bằng chứng rằng trầm cảm không phải là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Trong suốt ba thập niên, mọi người đã bị “nhồi sọ” rằng trầm cảm là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của Joanna Moncrieff (Giáo Sư lâm sàng cao cấp, Khoa tâm thần học xã hội và phê bình, UCL) và Mark Horowitz (Nghiên cứu lâm sàng về Tâm thần học, UCL) cho thấy có bằng chứng không hỗ trợ điều đó. Nghiên cứu được đăng trên trang TheConversation.
Nhớ anh bạn trẻ đã qua đời vì bạo bệnh hôm trước dịch covid-19. Nhớ cứ bước vào tháng bảy, anh thường diễn tả cái nắng và cái nóng của mùa hè Texas với từ “tan chảy”, nắng cũng nắng tan chảy mà nóng cũng nóng tan chảy. Không riêng gì tôi mà nhiều anh em bạn nghe hơi khó chịu với từ tan chảy vì dị ứng với từ ngữ trong nước bây giờ thường nói quá, quá cả phép thậm xưng trong văn học dân gian như “con rận bằng con ba ba/ đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh”. Người trong nước bây giờ ăn ngon cũng ngon tới tan chảy, nghe nhạc cũng nghe tới tan chảy với giọng hát ai đó, ra đường gặp gái đẹp cũng đẹp tan chảy… chỉ có đường cống thoát nước ở Sài gòn là không tan chảy khi trời mưa nên ngập cả Sài gòn. Còn lại thứ gì không tan chảy được theo từ ngữ xã hội chủ nghĩa thì dùng từ khó hiểu, từ ngữ càng âm u càng nổi bật “đẳng cấp” xã hội chủ nghĩa đang thịnh từ “a đù”.
HOA KỲ – Hai nghiên cứu mới cung cấp thêm bằng chứng cho thấy đại dịch COVID-19 thật sự bắt nguồn từ một chợ bán động vật sống ở Vũ Hán, Trung Quốc – củng cố thêm cho giả thuyết rằng vi rút xuất hiện trong tự nhiên chứ không phải thoát ra từ phòng thí nghiệm Trung Quốc, theo trang APnews đưa tin ngày Thứ Ba, 26 tháng 7 năm 2022.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.