Hôm nay,  

Trương Hán Siêu: từ chống Phật tới mộ Phật

09/08/202506:45:00(Xem: 2998)
blank 

Trương Hán Siêu: từ chống Phật tới mộ Phật
 

Nguyên Giác

 

Trương Hán Siêu là một trong các nhà Nho nổi tiếng chống phá Phật giáo kịch liệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, ít người biết rằng nhiều năm cuối đời, từ khi còn trong quan trường, cụ Trương Hán Siêu đã trở thành một người sùng mộ Đạo Phật. Lập trường sùng mộ Phật giáo của cụ Trương chưa được ghi rõ ràng vào trang tiểu sử ở Wikipedia, tính tới thời điểm bài này được viết, tức là tuần lễ đầu của tháng 8/2025.
 

Theo tiểu sử trên Wikipedia: Trương Hán Siêu (1274 – 1354, tên tự là Thăng Phủ hoặc Thăng Am, hiệu Đôn Tẩu) là một vị quan dưới 4 đời vua nhà Trần, từng giữ các chức: Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Hữu ty lang trung, Tả ty lang trung, Thượng thư; khi mất ông được 2 vua truy tặng chức Thái bảo rồi Thái phó. Ông là một danh nhân văn hóa lớn đời Trần, kiệt tác văn chương nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông là bài Bạch Đằng giang phú (Phú sông Bạch Đằng) – một áng thiên cổ hùng văn rất được lưu truyền.
 

Trương Hán Siêu quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay là phường Vân Giang, thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Theo chính sử, Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. Lược truyện các tác giả Việt Nam viết: Trương Hán Siêu “lập được nhiều công trạng trong 2 trận đánh giặc Nguyên”; Từ điển văn học ghi: Trương Hán Siêu “có ít nhiều đóng góp trong 2 cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ 2 và thứ 3”.

Như vậy, Trương Hán Siêu tham dự cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 và thứ 3 khi ông còn trẻ và ông cùng với Nguyễn Trung Ngạn là những vị quan thời Trần thọ hơn 80 tuổi.
 

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Phan Phu Tiên nhận xét về việc nhà Trần thờ phụng Trương Hán Siêu và Chu Văn An ở Văn miếu như sau: “Bậc danh nho các đời có bài trừ được dị đoan, truyền giữ được đạo thống thì mới được tòng tự ở Văn Miếu, thế là để tỏ rõ đạo học có ngọn nguồn. Nghệ Tông cho Chu An, Trương Hán Siêu được dự vào đó, thì Hán Siêu là người cứng cỏi, bài xích đạo Phật, An sửa mình trong sạch, bền giữ khí tiết, không cầu hiển đạt.”
 

Trong Wikipedia chỉ ghi một dòng về lập trường Trương Hán Siêu đổi từ chống Phật sang mộ Phật như sau: “Trương Hán Siêu là người rất giỏi võ nghệ, giỏi âm nhạc. Trương Hán Siêu không thích đạo Phật vì ban đầu thấy Trần Ích Tắc cũng mộ đạo Phật nhưng lại không sáng suốt. Sau này thấy các vua quan nhà Trần thích xây chùa hao tốn công quỹ. Mãi về sau ông mới công nhận đạo Phật hay, nhưng theo cách hiểu của ông.”
 

Thế nào là "theo cách hiểu của ông" thì chúng ta không biết. Một điểm ghi nhận rằng Trương Hán Siêu vẫn giữ chức quan cao, trong khi bài bác Phật giáo kịch liệt giữa thời kỳ triểu đình nhà Trần sùng mộ Phật giáo cho thấy các vua nhà Trần không hề kỳ thị tôn giáo, tín ngưỡng.
 

Bài diễn thuyết sau đây của cụ Đinh Gia Thuyết đăng trên báo Đuốc Tuệ, các trang 16 tới trang 25, trên số 50, ấn bản ngày 24/11/1936, kể thêm nhiều chi tiết về cụ Trương Hán Siêu chuyển từ lập trường chống Phật giáo sang sùng mộ Phật giáo. Tuy nhiên, bản PDF số Đuốc Tuệ này lại thiếu hai trang 21 và 22 giữa bài diễn thuyết. Bài của cụ Đinh Gia Thuyết được chép lại nơi đây để các nhà nghiên cứu tham khảo, tuy là thiếu 2 trang giữa bài. Tất cả cách phát âm cổ (như: nhời thay cho lời; trinh phục thay cho chinh phục) sẽ được giữ y hệt, không đổi.
 

Bài diễn thuyết như sau:

blank

CỤ TRƯƠNG HÁN SIÊU VỚI PHẬT GIÁO

Bài diễn thuyết của ông Đinh-Gia-Thuyết diễn ở chùa Sơn-thủy (Ninh-Bình)

Thưa các giáo hữu

Chi hội Phật Giáo Ninh Bình chúng la thành lập đã gần một năm nay, theo chương trình của hội, tuần rằm mồng một, bao giờ cũng có ban đạo-sư giảng kinh, ban cư sĩ diễn thuyết. Tôi cũng đã có cái vinh hạnh được bước lên đàn giảng, hầu chuyện các Giáo hữu rồi. Lần này các Giáo hữu lại quá yêu tôi bảo tôi lên hầu chuyện nữa, cái thịnh tình ấy, tôi rất lấy làm cảm kích Tôi thiết nghĩ: Đạo Phật là đạo rộng, cửa thuyền không hẹp gì ai, nói về bên Tăng thời tu bán thế cũng như tu thanh đồng, miễn là nhất tâm trì giới là có thể tu thành chính quả. Nói về bên tại gia, thời ném bỏ con dao làm tbịt trâu đi, cũng có thể tức khắc thành Phật được. Cũng vì thể mà đã bao ngưòi trước báng nhạo Phật, sau tin ngưỡng Phật, cũng được công nhận là tín đồ của Phật, lọ là cứ phải:
 

Kiếp tu đã nguyện Bồ-đề,

Lòng son bầy mối tóc thề mười phương.
 

ngay từ lúc mới ra đời.
 

Do cái quan niệm ãy, buổi tối hôm nay, tôi xin đem câu chuyện “Cau nhà lá vuờn” cống hiến các giáo hữu, đầu đề là:

“CỤ TRƯƠNG-HÁN- SIÊU VỚI PHẬT-GIÁO”

Nói đến cụ Trương Hán Siêu, tôi không cần phải giới-thiệu, đã có núi Dục thúy, núi Hồi hạc, mà cả núi Cánh diều, là nơi chùa Sơn thủy của chúng la tọa lạc, nhắc cho các giáo hữu biết đến cụ, nhớ đến cụ, là một bậc có văn chương sự nghiệp ở trong tỉinh Ninh bình. Cụ chính quê ở Phúc am, một làng phụ cận ngay ở châu thành, đền cụ còn đó, mộ cụ còn kia, không phải người đâu xa lạ. Cụ đỗ Thái học sinh (tức là tiến sĩ) làm đến ngôi Thái phó triều vua Trần minh Tôn, cách đây đã 600 năm lẻ, kể cái đức thông minh cương trực, cái tài kinh lế, học thức. Thời các bậc văn thân đời ấy, hồ đã mấy ai.

 

Đạo Phật đời bấy giờ, có thể cbo là một thời kỳ toàn thịnh trên lịch sử Việt nam, thịnh đến nổi nhà vua làm Sãi, Hoàng hậu làm vãi, các bậc vương công khanh tướng làm sư, khắp nước chỗ nào cũng có tháp, có chùa, hồi chuông dịp mõ, tiếng kệ câu kinh, cơ hồ đã vang trời rậy đất.
 

Cu Trương hán Siêu nguyên là học trò đạo Khổng, nhưng khốn một nỗi cụ có tính cố chấp là tính mà đức Khổng phu-Tử rất ghét, tôi xin nói nôm là cái tính “gàn.” Tôi sở dĩ đám bạo miệng phê bình một bậc tiên-hiền, cũng là theo ý bài thơ trong Việt-sử- tổng-vịnh của đức Dực-tôn (Tự-Đức), đây xin phép trích 2 câu :
 

Dục chướng đồ lan học vị thuần,

Chấp tiên ưng quí Tố-Vương thần.
 

Hai câu thơ ấy, đại ý vua Tự-Đức chê cụ Trương học chưa chín, chưa đáng là đồ-đệ đức thánh Khổng, ấy cũng bởi thế, nên cụ nhận nhầm 4 chữ “Công hồ dị đoan” của đức thánh Khổng, mà cụ cho Phật-giáo là dị-doan, rồi cụ cứ vin mà công kích. Trong bài văn bia chùa Khai-nghiêm Bắc-giang, cụ viết rằng:
 

“Dựng chùa chẳng có ý gì.

“Khắc bia cũng chẳng việc chi đến minh.

“Thánh-trào đương buổi văn-minh,

“Dị -đoan chớ để dân tình mê say.

“Đạo Nghiêu Thuấn phải bầy cho rõ

“Học Khổng Nhan đương tỏ không mờ,

“Sá gì đạo Phật hư-vô,

“Dổi ai ai đó dễ hồ dối ai?
 

Đọc bài văn bia ấy, ta có thể tưởng tượng được rằng: Thiên-kiến của cụ Trương-Hán Siêu lúc bấy giờ, chỉ biết có Nghiêu, Thuấn, Khổng, Mạnh, còn Phật -giáo cụ cho là tịch-diệt, là hư vô, cũng như phần nhiều người bấy giờ, đã nhận lầm Phật-giáo chỉ là một phương-pháp dành cho những hạng chán đời, những người thất vọng. Điều đó nó đã rõ rệt ở trong những câu Cung-oán sau này:
 

“Này mượn thú tiêu giao cửa Phật

“Mối thất tình quyết dứt cho xong.

“Đa mang chi nữa đèo bòng,

“Vui gì thế sự mà mong nhân tình.
 

Hay là như câu Kiều:

 

“Sớm khuya lá bối phướn mây.

“Thân này gởi với cỏ cây cũng vừa.

“Mùi thuyền đã bén muối dưa

“Áo thuyền ăn mặc đã ưa nâu sông.

“Việc đời đã tắt lửa lòng. ...
 

Nên dù cả triều nhà Trần, từ Thiên-tử đến tbứ dân, đều tôn-sùng đạo Phật mà cụ thời chẳng những không tôn-sùng Phật, lại bài bác Phật. Rồi cũng như những nhà Nho bài Phật, cụ cho đạo Phật là dẫu “hay tám vạn ngàn tư mặc kệ, không quân thần pbụ tử chẳng ra người”.
 

Cải thiên kiến hẹp hòi ấy, cố chấp ấy, nếu nó cử triền miền mãi trong đời cụ, ám ảnh mãi trong tâm cụ, thì dù đối với Phật-giảo, tuy chỉ là một tấc mây che mặt trời, mặt trời cũng vẫn không kém sáng, song nói của đáng, việc gì cũng thế, trong mười người mà có một người khác ý kiến, bao giờ cũug có ảnh-hưởug ít nhiều. Nên tôi dám nói rằng: Ví bằng cụ Trương-hán-Siêu cứ theo đuổi cái thuyết “Bài Phật” cho đến phút cuối cùng, thời gì chả biết, chứ ngay núi Dục-thúy của chúng ta, hãy thiệt mất một áng văn kiệt-tác lưu truyền đến bây giờ, tức là bài ký Linh-tế-tháp vậy.
 

Bài ký Linh-tế-tháp, ngày nay ta còn tbấy trơ trơ nét bút trên vách đá, ta còn thấy phiều nhà thích chơi chữ, có cheo những bức tứ-bình bằng giấy in bài ký ãy, bài ký ấy văn hay chữ tốt, chẳng phải là một tấm bia kỷ - niệm sau khi cụ Trương dã biết sùng đạo Phật đấy ư!
 

Tôi xin trích dịch một đoạn Linh-tế-tháp-ký sau này:

“...Mùa đông năm ấy, ta ở kinh, nhà sư Trí-Nhu đến nói với ta rằng. Công việc dựng lại tòa Bảo-tbáp, từ năm Đinh-Sửu, niên hiệu Khai hựu đến nay đã 6 năm, bây giờ mới xong- xin ông làm cho bài ký. Công đức Phật tổ, không có thể tư nghị, kết quả của sự báo ứng cũng thế, vì lúc mới sắp dựng tháp, sư cụ Đức phủ có nằm mộng thấy hơn một nghìn người tụ họp ở chân núi, trong đó có 3 vị tướng mạo rất kỳ dị, bảo với mọi người rằng: các ngươi nên biết dựng tháp là một việc rất hay của Tăng-đồ nhà Phật. Đến khi khởi công, sư cụ Đức uyên lại nằm mộng, thấy đức Trúc Lâm Pbật Tuệ đứng trấn áp việc dựng tháp. Lúc nhà sư Đức Tĩnh Đức Minh coi thợ xây cửa tháp, vô tình giun đổ một tảng đá lớp, hai nhà sư cũng ngã theo. Mọi người đứng xem ai cũng sợ thay cho hai nhà sư, vì từ đỉnh núi rơi xuống đến chân, thế nào cũng thịt nát xương tan, ấy thế mà không hề xây xát. Khi đã nổi lên 4 tầng Bảo tháp, trời có hào quang suốt đêm sáng rực, xa gần đều trông thấy. Phàm những việc ấy, đều là nhờ sức thần thông của đức Phật Như Lai. Và tôi nghe ngày xưa vua A Dục, dùng sức quỷ thần dựng 8 vạn 4 nghìn cây tháp, người đến chiêm lễ, như trông thấy Phật hiện tbân, những nét kbắc vẽ ở tháp, đều khu trừ được yêu tà quỷ quái. Những việc như thế, há phải là hoang đãn, trước sau đều phù bợp với nhau...»
 

Đoạn này là cụ Trương-hán- Siêu thuật theo nhời nói của nhà sư Trí-Nhu, cụ là một nhà đại học-vấn, khởi hữu lại không biết “những nhời mộng ảo cứ đâu,” mà cũng đem thuật cả vào bài ký. Đó chẳng qua là sau khi cụ đã tỉnh ngộ, đã biết sùng Phật, không bài Phật nữa, thời lẽ tất nhiên là đã biết kính Phật, tất phải trọng Tăng. Cho nên cũng trong bài ký ấy, lại có một đoạn cụ viết rằng:
 

“Nhà sư Trí-Nhu là thị giả của đức Phổ-Tuệ, học được pháp tủy của Trúc-Lâm tôn-tổ, tu hành đắc đạo, nên mới làm nên những công quả lớn lao...”
 

Trong sử không chép rõ cụ Trương-hán-Siêu đổi ý kiến bài Phật ra sùng Phật từ lúc nào, nhưng cứ col bài ký Linh-tế-tháp, khác hẳn với bài bia chùa Khai-nghiêm, và lúc cụ viết bài ký ấy về đời Thiệu phong nhà Trần, chính đương vào lúc cụ làm Nhập nội hành khiển, là chức quan Nội-các nhà Trần, thời đủ rõ sự qui hướng đạo Phật của cụ ngay khi cụ tại Triều, còn đang sốt sắng hăng-hái với tấm lòng hoài-bão trí-quản trạch-dân, chứ không phải sau khi cụ đã về hưu, mới có cái tư tưởng “già vui chùa” như tục ngữ đã nói.
 

Sau khi cụ về hưu, thời đối với Phật-giáo, cụ lại càng, mộ lắm, chẳng những ở cảnh Linh-tế-tháp, Linh-quang-động chẳng có mấy ngày cụ không lui tới, mà các chùa Bàn-long, Địch-lộng, Vân-trìnb, Bích-động, hầu khắp là có dấu vết đăng lâm của cụ.
 

Khi cụ về ẩn cư núi Dục-thủy, cụ đề một bài thơ, đây tôi xin trích lấy 4 câu:

“Trung lưu quang tháp ảnh.

“Thượng giới khải nham phi.

“Phù thế như kim biệt.

“Nhân thân ngộ tạc phi.”
 

Dịch rằng :
 

Long-lanh bóng tháp giữa giòng.

Cửa hang đá hé trên không bao giờ.

.

(Hết trang 20. THIẾU 2 TRANG 21, 22. Từ đây bắt đầu trang 23.)

.

Cứ như Hộ-pháp-luận phân biện Nho-giáo với Phật-giáo, bằng những tính cách tương phản trên kia, thời Nho với Phật có khác nhau, song lấy toàn thể mà nói, thời Nho với Phật cũng có nhiều chỗ giống nhau. Trong bài diễn văn của cụ Thượng Phan đọc tại chùa Cả đã có nói qua về cái vấn đề to tát ấy.
 

Vậy xin phép trở lại câu chuyên buổi tối nay:

Cụ Trương-hán-Siêu với Phật-giáo, trước hết sức công-kích, sau đem lòng tin sùng, chẳng phải là ý kiến của cụ thủy chung bất nhất, mà chính là bởi đạo lý của Phật cảm ứng linh thông, Kinh có câu rằng :

“Bất hữu đại từ-bi, bất túc vi Phật, Phất hữu đại uy lực, diệc bất túc vi pbật, vị kỳ hữu đại từ-bi, đại uy-lực, cố năng thành tế-độ chi công”.

 

Nghĩa là : Chẳng có tấm lòng đại từ đại bi, chẳng đủ làm Phật, cbẳng có uy sức nhớn cũng chẳng đủ làm Phật, bởi vi có đại từ-bi, đại uy-lực, nên mới thành được cái công quả tế-độ chúng-sinh.
 

Đọc câu kinh này, nhân câu chuyện này, đủ biết cái từ tâm của Phật, cái uy-lực của Phật, chẳng những chỉ tế-độ được chúng-sinh, mà Phật còn cảm-hóa dược cả mọi người, người ác có thể cảm-hóa ra thiện, người gian có thể cảm-hóa ra ngay, người hư có thể cảm-hóa ra người tốt, người dở có thể cảm-hóa ra người hay. Ác hóa thiện, gian hóa ngay, hư hóa tốt, dở hóa hay, Pbật có cầm roi hay cả tiếng mà nộ nạt, mà đe đọa ai đâu, chẳng qua cũng chỉ lấy từ-bi bác-ái lân mẫn quảng đại, là những phương-pháp rất nhiệm-mầu mà “khải kỳ trung”, nghĩa là khai tâm khai tính cho chúng-sinh đó mà thôi. Cũng bởi tbế nên Cụ Trương hán-Siêu, theo sử chép, thời là một người “Cốt-ngạnh” nghĩa là cương-quyết giắn-giỏi không chịu ai, mà cũng đến phải quy y hồi-hướng. Đồng thời với cụ Trương còn có một ông bạn rất mực ương gàn, là cụ Trần- kiến. Sử chép Cụ Trần-kiến làm quan Ngự-Sử, giữ chức can ngăn nhà vua trong khi làm điều không chính đáng, và tham hặc các quan văn võ, trong khi có điều gì lầm lỗi. Cả Triều nhà Trần ai cũng sợ cụ, đã tặng cho cụ cái sước-hiệu là “Sư-kiến”. Sư đây là Sư-tử, nghĩa là bảo cụ dữ dội như con sư-tử, chứ không phải sư cụ, sư-ông hay sư bác, sư-chú thuộc về ban đạo-sư chúng ta đâu. Câu chuyện sau này, làm chứng cho cái tính rất ương gàn của cụ.
 

Một hôm có một nhà ở ngoài phố, đem biếu cụ một mâm cỗ, cụ hỏi có việc gì mà đem biếu. Người ấy giả nhời nhà có dỗ, vi là chỗ hàng xóm láng giềng với cụ, nên đem biếu cụ, chớ không có cầu cạnh sự gì. Bấy giờ nhân có cụ Trương đến chơi, cụ liền nhận mâm cỗ ấy mời cụ Trương uống rượu. Đến hôm sau, cái người đem biếu mâm cỗ ấy, vào xin với cụ cho đứa con trai làm môn hạ. Cụ không từ chối mà cũng không nhận hay bảo ban sao cả, chỉ thò ngay tay vào cổ họng, móc cho nôn mửa, cho kỳ mửa đến mật xanh mật đỏ, rồi cụ mới bảo người ấy: đấy, cỗ của nhà anh đem cho tôi hôm qua đấy, tôi xin trả lại anh. Câu chuyện ãy, đồn đi khắp châu thành, từ vua quan cho đến dân, ai nghe cũng phải ôm bụng mà cười, ãy thế mà cụ vẫn tự cao tự đại, trứ cụ Trương ra, thời cụ chẳng hề giao du với một ai. Cụ với cụ Trương, cùng thi nhau mà bài Phật. Trong việc vua Trần-minh-Tôn trùng tu tòa chùa Quỳnh-lâm, phí tổn mất hơn 9 nghin lượng bạc, cụ đã dâng sớ phản đổi rất kịch liệt, nếu không được nhà vua đại-lượng, thời cái nạn “Sáng dâng biểu tấu sân rồng, ban chiều bị biếm nghìn trùng sơn khê” của ông Hàn-Dũ đời nhà Đường, cụ sẽ không tài nào tránh khỏi. Sau chẳng biết thế nào, mà cụ với cụ Trương. lại cùng nhau mộ Phật. Ta đọc câu thơ cụ tặng nhà sư Phổ-minh chùa An-lãng, đủ biết cụ mộ Phật là thể nào.
 

Bài thơ này có chép trong Hoàng- việt -văn-Tuyển, tôi xin trích 4 câu:

Ẩn bất lâm thuyền chân đại ẩn,

Tu ư gia tự tức chân tu,

Thử nhật tham thuyền như mộng giác.

Hưu tương vãng sự quái Trào châu,
 

Xin dịch rằng :

 

Ẩn cư lọ cứ lâm-tuyền,

Chùa nhà tu mới thực niềm chân-tu.

Cửa thuyền nhân buổi tham du.

Thôi đừng ngờ khách Trào-châu nữa mà.
 

Trào-châu tức là cụ-nhắc lại việc ông Hàn-dũ dâng bài Phật cốt biểu mà bị biểm, trên kia tôi đã nói.

Ấy đấy, như những ông cụ ấy, mà Phật-giáo cảm hóa được, trinh phục nổi, thời lọ là ta phải tán-dương, phải cổ-động. Ta chỉ nên thành tâm mộ Phật, góp sức về chấn-hưng Phật-giáo là tôn-chỉ của hội ta vậy.
 

Cho được kết lại câu chuyện tôi cống hiến các ngài, tôi xin cùng liệt vị thính-giả đồng thanh lãng tụng câu kệ này:

Nguyện dĩ thử công đức.

Phả cập ư nhất thiết,

Ngã đẳng giữ chúng sinh.

Giai cộng thành Phật đạo.
 

Xin đem công đức Như lai.

Tu thành đạo Phật cùng loài chúng sinh.

Nam- mô A-di-đà-phật

ĐINH-GIA-THUYẾT

(Hết bài diễn thuyết của cụ Đinh Gia Thuyết)
  

THAM KHẢO:

-- Đuốc Tuệ, số 50, ngày 24/11/1936:

https://tulieuphatgiao.vn/data/uploads/duoctue/TapChiDuocTue-So050.pdf

-- Wikipedia, Trương Hán Siêu:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_H%C3%A1n_Si%C3%AAu

 

Tháng bảy khép lại theo tuần hoàn của thời gian và không gian, chỉ nắng nóng mùa hè là chưa thay đồi, vẫn hơn trăm độ F từng ngày làm đời sống vốn khó thêm khổ cho người lao động. Tan hãng, mở máy lạnh trong xe hết mức vẫn không thấy giảm được cái nóng trong xe như thiêu đốt. Nhưng nhìn những người Mễ đang làm công việc sửa đường dưới cái nắng gay gắt thấy chạnh lòng. Hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, chỉ cầu mong ơn trên thương xót họ, và tạ ơn trên về phần mình. Tuy việc làm có nhiều điều không ưng vì công việc không đúng sở thích nhưng dù sao cũng làm việc nhẹ nhàng trong điều kiện có máy điều hoà không khí, lương bổng và quyền lợi không cao nhưng đủ sống, đủ trả tiền nhà, điện, nước để có một chỗ về sau ngày làm việc…
Thái độ quyết liệt và sự lựa chọn can trường của Lê Anh Hùng, cũng như của những tù nhân lương tâm đồng hành, khiến cho vợ con cùng thân nhân của họ phải chịu rất nhiều thiệt thòi và phiền toái. Nhưng nếu không có sự hy sinh cao cả như thế thì dân Việt biết trông vào đâu để vẫn còn có thể giữ được chút niềm tin về tương lai của dân tộc, và đất nước này!
Đã có người trúng lô độc đắc Mega Millions trị giá hơn 1.3 tỷ đô đêm Thứ Sáu 29/7/2022. Ban đầu ước tính độc đắc là $1.28 tỷ đô, nhưng lượng vé số bán ra tăng vọt, nên độc đắc tới hơn 1.3 tỷ đô. Như thế, kỳ quay xổ số Mega Millions kế tiếp sẽ diễn ra vào thứ Ba và giải độc đắc sẽ là 20 triệu đô la.
một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường, 2 tấm ảnh ghi lại hai cuộc gặp gỡ của họa sĩ Đinh Cường với bằng hữu vào năm 2012 vq2 2015, và 1 bức ảnh họa sĩ Trương Vũ đang vẽ tranh bên dòng Potomac (2016)
EUROPE Vào ngày thứ Sáu 29 tháng 7 năm 2022, Tây Ban Nha đã báo cáo cái chết đầu tiên được xác nhận do bệnh đậu mùa khỉ. Đây cũng là trường hợp tử vong đầu tiên ở châu Âu vì căn bệnh này, và là trường hợp thứ hai ngoài Châu Phi, trước đó cũng vào ngày thứ Sáu, Brazil cũng đã báo cáo một trường hợp tử vong, theo báo DN ngày 29 tháng 7 năm 2022, Thụy điển.
✱ US.ACMH: Hai nhà lãnh đạo tôn giáo Trí Quang và Tâm Châu đều lên tiếng chống tham nhũng, hoạt động kém hiệu quả của chính phủ,và sự tồn tại của chế độ lệ thuộc vào ảnh hưởng của Mỹ. ✱ Các tướng lĩnh TQLC Hoa Kỳ trong Quân đoàn I ca ngợi sự hợp tác của Thi và khen ngợi sự tận tâm của ông ta đối với công cuộc bình định. ✱ Các tướng lĩnh Nam Việt Nam đã thông báo ngắn gọn cho Lodge và Westmoreland trước cuộc hành quân và được họ chấp thuận. Westmoreland cung cấp máy bay không quân Hoa Kỳ chuyên chở quân đội chính phủ ✱ Westmoreland không muốn quân Mỹ can thiệp, Ông ra lệnh tạm thời di tản người Mỹ khỏi Huế và Đà Nẵng, cấm tất cả quân nhân Mỹ rời doanh trại, [và] ngừng tất cả các hoạt động cho đến khi tình hình lắng xuống. ✱ Với sự chấp thuận của Tướng Westmoreland, Walt với một đoàn xe của Lực lượng TQLC Hoa Kỳ đã ngăn chặn lực lượng của Yêu tiến vào căn cứ không quân Mỹ và cử Đại tá Chaisson đứng ra đàm phán…
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình... Một cái nhìn viễn kiến về mối hiểm họa xung đột giữa các quốc gia trên thế giới, của nhà Chính trị học lừng danh Samuel P. Huntington, do Bác sĩ Hồ Văn Hiền chuyển ngữ và chú thích. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Trong vấn đề về dầu mỏ Vs. môi trường cũng cho thấy tính dài hạn và ngắn hạn của các chính đảng Hoa Kỳ. Những vị dân cử chọn dầu mỏ xem nhẹ môi trường là khuynh hướng tầm nhìn ngắn hạn. Ngược lại những chính khách chọn bảo vệ môi trường và hạn chế dầu mỏ cho thấy tầm nhìn dài hạn trong chính sách.
Hồ Xuân Hương có một tập thơ tên gọi Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Năm 1863 đại thần triều đình Huế Trương Đăng Quế, trong bài tựa cho Diệu Liên thi tập của Mai Am nữ sĩ, tức Lại Đức công chúa, đã sánh Mai Am với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh tác giả tập thơ Chiến cổ đường. Hai người thơ hay nhất nước Nam. Theo tôi tập thơ này không phải là tập hợp những bài thơ truyền khẩu do Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại đến làng Nghi Tàm sao chép trước năm 1892, từ những sưu tập của hai người con Tử Minh tức Cả Tân,
Câu chuyện y hệt như cổ tích trong Thiền sử, nhưng là sự thật đã xảy ra tại California. Ba chị em gái cùng đi tìm thầy học Thiền, đi xa ngàn dặm, cùng xuất gia, cùng học một vị Thầy nổi tiếng, người đã từng rời Hoa Kỳ để sang Nhật Bản nhiều năm học Thiền. Rồi ba chị em về mở chùa ở San Diego, mười năm sau dọn về Quận Cam mở chùa, hoằng pháp Thiền Tông. Đó là ba vị Ni sư Chân Như, Chân Thiền và Châu Diệu. Thiền Viện Sùng Nghiêm hôm Chủ Nhật 17/7/2022 đã tổ chức Lễ Tri Ân tại Crystal Restaurant, 12100 Beach Blvd, Stanton, với nội dung: Ni sư Chân Thiền về hưu, và phát hành sách Kỷ Yếu Nén Tâm Hương của Thiền Viện Sùng Nghiêm.
Khi bạn bước vào một căn nhà, điều gì gây ấn tượng? Đối với thế hệ tiền-kỹ thuật số, bước vào phòng sinh hoạt gia đình của họ người ta thường thấy kệ sách cao lên tận trần nhà, đôi khi phải bắt thang mới lấy được sách trên cao. Bây giờ, với thế hệ @ hay thế hệ gmail, điều đầu tiên đập vào mắt là màn ảnh ti-vi to, các trang bị kỹ thuật hiện đại, và tủ sách hình như đã trở thành loài có nguy cơ tuyệt chủng. Thật vậy, với xu hướng các thiết bị điện tử và kỹ thuật số đang lấn chiếm mọi sinh hoạt đời sống, khả năng đọc sách cũng như cách thức đọc gần đây đã thay đổi đáng kể. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng rộng rãi công nghệ kỹ thuật số đang làm xói mòn khả năng đọc sâu, sự chú ý liên tục, trí nhớ cũng như khả năng nhận thức chung của chúng ta. Người đọc thời đại điện tử dường như không còn đủ kiên nhẫn đọc những cuốn sách dày hay đọc bài dài, thiếu khả năng đọc sâu, thiếu tập trung, và thường thích đọc những mẩu vụn lượm lặt trên các trang mạng xã hội.
Nghiên cứu mới nhất cho thấy có bằng chứng rằng trầm cảm không phải là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Trong suốt ba thập niên, mọi người đã bị “nhồi sọ” rằng trầm cảm là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của Joanna Moncrieff (Giáo Sư lâm sàng cao cấp, Khoa tâm thần học xã hội và phê bình, UCL) và Mark Horowitz (Nghiên cứu lâm sàng về Tâm thần học, UCL) cho thấy có bằng chứng không hỗ trợ điều đó. Nghiên cứu được đăng trên trang TheConversation.
Nhớ anh bạn trẻ đã qua đời vì bạo bệnh hôm trước dịch covid-19. Nhớ cứ bước vào tháng bảy, anh thường diễn tả cái nắng và cái nóng của mùa hè Texas với từ “tan chảy”, nắng cũng nắng tan chảy mà nóng cũng nóng tan chảy. Không riêng gì tôi mà nhiều anh em bạn nghe hơi khó chịu với từ tan chảy vì dị ứng với từ ngữ trong nước bây giờ thường nói quá, quá cả phép thậm xưng trong văn học dân gian như “con rận bằng con ba ba/ đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh”. Người trong nước bây giờ ăn ngon cũng ngon tới tan chảy, nghe nhạc cũng nghe tới tan chảy với giọng hát ai đó, ra đường gặp gái đẹp cũng đẹp tan chảy… chỉ có đường cống thoát nước ở Sài gòn là không tan chảy khi trời mưa nên ngập cả Sài gòn. Còn lại thứ gì không tan chảy được theo từ ngữ xã hội chủ nghĩa thì dùng từ khó hiểu, từ ngữ càng âm u càng nổi bật “đẳng cấp” xã hội chủ nghĩa đang thịnh từ “a đù”.
HOA KỲ – Hai nghiên cứu mới cung cấp thêm bằng chứng cho thấy đại dịch COVID-19 thật sự bắt nguồn từ một chợ bán động vật sống ở Vũ Hán, Trung Quốc – củng cố thêm cho giả thuyết rằng vi rút xuất hiện trong tự nhiên chứ không phải thoát ra từ phòng thí nghiệm Trung Quốc, theo trang APnews đưa tin ngày Thứ Ba, 26 tháng 7 năm 2022.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.