Hôm nay,  

Bản Sanh: truyện 201 tới 210 / Jataka Tales: Stories 201–210

26/09/202507:47:00(Xem: 8461)
blank
 

Bản Sanh: truyện 201 tới 210 / Jataka Tales: Stories 201–210

Nguyên bản: Pali

Anh dịch: W.H.D. Rouse và Ānandajoti Bhikkhu

Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác
 

J201. Bandhanagara Jātaka -- Những Xiềng Xích Mạnh Nhất

Tóm tắt: Một số nhà sư quan sát tù nhân bị trói chặt trong tù và hỏi Đức Phật về xiềng xích. Đức Phật giải thích rằng đây không phải là những xiềng xích mạnh nhất; sự luyến ái gia đình và dục vọng còn mạnh hơn. Ngài kể thêm rằng, trong quá khứ, một số người đã thành công trong việc phá vỡ những xiềng xích này và chia sẻ một câu chuyện về một kiếp trước của Ngài.

.

Một ngày nọ, khi Đức Phật đang ở tại Tu viện Kỳ Viên, một nhóm tăng sĩ đến thăm Ngài. Sáng hôm sau, khi họ đi bộ qua thành phố để khất thực, họ đi ngang qua nhà tù. Bên trong, họ thấy những tên tội phạm - trộm cắp và giết người - bị trói bằng dây thừng và xích nặng. Trông những người đàn ông này thật khốn khổ và bất lực.

Chiều hôm đó, các tăng sĩ trở về và hỏi Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay chúng con thấy những tù nhân bị trói bằng xích. Họ đau khổ và không thể thoát ra. Có xiềng xích nào mạnh hơn những xiềng xích đó không?”

Đức Phật đáp: “Vâng, đó là những xiềng xích mạnh mẽ. Nhưng còn có những xiềng xích mạnh mẽ hơn nữa - ham muốn tiền bạc, thức ăn, con cái, vợ chồng và tài sản. Những xiềng xích vô hình này khó phá vỡ hơn. Vậy mà những bậc hiền triết trong quá khứ đã phá vỡ chúng và tìm thấy sự tự do bằng cách sống ẩn dật.”

Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện xảy ra từ rất lâu rồi.

Ngày xưa, tại thành Benares, có một người đàn ông tốt bụng và thông thái sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Khi cha mất, ông đã làm việc chăm chỉ để chăm sóc mẹ. Một ngày nọ, mẹ anh sắp đặt một cuộc hôn nhân cho anh, mặc dù anh không muốn. Không lâu sau, mẹ anh qua đời.

Vợ anh mang thai, nhưng anh không hề hay biết. Anh nói với nàng: "Tôi muốn từ bỏ thế gian và sống như một ẩn sĩ. Nàng phải tự chăm sóc bản thân." Vợ anh đáp: "Em đang mang thai. Xin hãy đợi đến khi đứa bé chào đời." Anh đồng ý.

Sau khi đứa bé chào đời, anh nói: "Giờ tôi sẽ đi." Vợ anh nói: "Chờ đến khi đứa bé đủ lớn để cai sữa." Anh lại chờ đợi. Rồi nàng lại mang thai lần thứ hai.

Người đàn ông nghĩ: "Nếu cứ chờ đợi, tôi sẽ không bao giờ được tự do. Tôi phải lặng lẽ rời đi." Thế là một đêm nọ, không nói với ai, anh lẻn đi.

Bọn lính bắt gặp anh và hỏi anh đi đâu. Anh nói: "Tôi phải chăm sóc mẹ tôi." Họ thả anh ra. Anh đã đi rất xa, cuối cùng đến dãy Himalaya. Ở đó, anh sống một mình, thiền định sâu sắc và thức tỉnh những năng lực tâm linh vĩ đại.

Trong niềm vui, Ngài nói:

"Xiềng xích sắt, dây thừng và song sắt có thể trói buộc thân xác, Nhưng dục vọng - gia đình, tiền bạc và vàng bạc - còn trói buộc trái tim chặt hơn. Đây mới là những ràng buộc chân chính. Chỉ có bậc trí tuệ mới có thể phá vỡ chúng và tìm thấy tự do đích thực."

Và với điều đó, Ngài đạt đến trạng thái an lạc của cõi trời.

Sau khi kể câu chuyện, Đức Phật giải thích rằng các nhân vật đều đến từ quá khứ của chính Ngài:

- Người mẹ là Mahamaya, mẹ của Ngài.

- Người cha là Vua Suddhodana.

- Người vợ là mẹ của Rahula.

- Đứa con là Rahula.

Và người đàn ông đã từ bỏ tất cả để trở thành một ẩn sĩ - chính là Đức Phật.

.... o ....

201. Bandhanagara Jātaka -- The Strongest Chains

Summary: Some monks observe prisoners tightly bound in prison and ask the Buddha about fetters. The Buddha explains that these are not the strongest fetters; attachment to family and sensual desire are even stronger. He further recounts that, in the past, some have managed to break even these bonds and shares a story about a previous life he had.

.

One day, while the Buddha was staying at Jetavana Monastery, a group of monks came to visit him. The next morning, as they walked through the city to collect alms, they passed by the prison. Inside, they saw criminals—thieves and murderers—tied up with heavy chains and ropes. The men looked miserable and helpless.

That evening, the monks returned and asked the Buddha, “Master, today we saw prisoners bound in chains. They were suffering and couldn’t escape. Are there any chains stronger than those?”

The Buddha replied, “Yes, those are strong chains. But there are even stronger ones—desires for money, food, children, spouses, and possessions. These invisible chains are harder to break. Yet wise people in the past have broken them and found freedom by living in solitude.”

Then the Buddha told a story from long ago.

Long ago, in the city of Benares, a kind and wise man was born into a poor family. When his father died, he worked hard to care for his mother. One day, his mother arranged a marriage for him, even though he didn’t want it. Soon after, she passed away.

His wife became pregnant, but he didn’t know. He told her, “I want to leave the world behind and live as a hermit. You must take care of yourself.” She replied, “I’m carrying a child. Please wait until the baby is born.” He agreed.

After the baby was born, he said, “Now I will go.” She said, “Wait until the child is old enough to stop nursing.” He waited again. Then she became pregnant a second time.

The man thought, “If I keep waiting, I’ll never be free. I must leave quietly.” So one night, without telling anyone, he slipped away.

Guards caught him and asked where he was going. He said, “I must care for my mother.” They let him go. He traveled far, finally reaching the Himalayas. There, he lived alone, meditated deeply, and awakened great spiritual powers.

In his joy, he said:

“Iron chains, ropes, and wooden bars may hold the body, But desire—for family, wealth, and gold—holds the heart even tighter. These are the true bonds. Only the wise can break them and find true freedom.”

And with that, he reached a heavenly state of peace.

After telling the story, the Buddha explained that the characters were from his own past:

- The mother was Mahamaya, his own mother.

- The father was King Suddhodana.

- The wife was Rahula’s mother.

- The child was Rahula.

And the man who left everything to become a hermit—was the Buddha himself.

.... o ....

J202. Keli-Sila Jātaka -- Vị Trưởng Lão Nhỏ Bé Với Tấm Lòng Lớn Lao

Tóm tắt: Một số nhà sư chế giễu Trưởng lão Lakuṇṭaka, một vị A La Hán lùn thấp mà họ lầm tưởng là một sa di. Đức Phật kể lại rằng, trong một kiếp trước, nhà sư này từng là một vị vua hay chế giễu người già và gây khó khăn cho cuộc sống của họ—cho đến khi Sakka (Đế Thích) giáng lâm để dạy cho vua một bài học về vô thường.

.

Khi Đức Phật còn ở tại Tu viện Kỳ Viên, Ngài đã kể một câu chuyện về một vị sư tên là Lakuntaka. Lakuntaka rất được kính trọng trong cộng đồng của Đức Phật. Ngài nói năng hiền từ và thông thái, với giọng nói ngọt ngào như mật ong. Tâm trí Ngài tĩnh lặng, và tâm Ngài không còn tham dục. Nhưng vóc dáng Ngài rất nhỏ bé - nhỏ đến nỗi mọi người thường nhầm lẫn Ngài là một Sa Di trẻ tuổi.

Một ngày nọ, Lakuntaka đến cổng tu viện để chào đón Đức Phật. Ngay lúc đó, ba mươi vị sư từ nông thôn đến. Nhìn thấy Lakuntaka, họ nghĩ rằng Ngài chỉ là một cậu bé. Họ kéo áo Ngài, nắm tay Ngài, kéo tai Ngài, và thậm chí véo mũi Ngài - đối xử với Ngài một cách đùa giỡn nhưng thô lỗ. Sau đó, họ vào trong để chào đón Đức Phật.

Họ hỏi: “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con nghe nói về một vị Trưởng Lão thông thái tên là Lakuntaka Thiện Thệ, người nói năng ngọt ngào và dạy dỗ rất hay. Ngài ở đâu?”

Đức Phật trả lời: “Các con có muốn gặp Ngài không?”

“Vâng, thưa Đức Thế Tôn.”

“Chính là người mà các ngươi vừa thấy ở cổng - người mà các ngươi đã lôi kéo và trêu chọc.”

Ngạc nhiên, họ hỏi: “Nhưng thưa Đức Phật, tại sao một vị sư vĩ đại như vậy lại trông nhỏ bé và tầm thường đến vậy?”

Đức Phật trả lời: “Đó là do những hành động trong quá khứ của ông ta. Để ta kể cho các ngươi nghe một câu chuyện từ rất lâu rồi.”

Ngày xưa, tại thành Benares, có một vị vua tên là Brahmadatta. Lúc đó, Bồ Tát giáng sinh làm Sakka, vua của các vị thần.

Vua Brahmadatta không thích bất cứ thứ gì cũ kỹ. Ông xua đuổi những con vật già nua, phá hỏng những cỗ xe cũ kỹ, và chế giễu người già. Ông bắt những ông già lăn lộn trên đất và dọa nạt những bà già cho vui. Ngay cả khi chỉ nghe nói có ai đó già nua ở một thị trấn khác, ông cũng cho người đến chỉ để trêu chọc họ.

Vì điều này, mọi người xấu hổ khi chăm sóc cha mẹ già của mình. Họ đuổi cha mẹ già đi. Bạn bè của nhà vua cũng hành xử như vậy. Khi mọi người chết đi, họ tái sinh vào những cõi bất hạnh, và ngày càng ít người được lên cõi trời.

Thần Sakka nhận thấy không có sinh linh mới nào đến cõi trời. Ngài quyết định dạy cho nhà vua một bài học.

Vào một ngày lễ hội, Sakka cải trang thành một ông già. Ông mặc quần áo rách rưới, cưỡi một chiếc xe cũ kỹ do hai con bò già kéo, và mang theo hai bình sữa bơ. Khi nhà vua tuần hành qua kinh thành trên một con voi lớn, Sakka hiện ra trước mặt ngài.

Nhà vua hét lên: "Đem chiếc xe cũ kỹ đó ra khỏi đây!" Nhưng không ai khác có thể nhìn thấy nó - vì Vua Trời Sakka đã làm cho nó vô hình với tất cả mọi người ngoại trừ nhà vua.

Sakka liên tục tiến đến. Cuối cùng, nó đập một bình sữa bơ vào đầu nhà vua, rồi đến bình kia. Sữa bơ chảy xuống cả hai bên mặt nhà vua. Nhà vua cảm thấy nhục nhã.

Sau đó, Sakka hiện nguyên hình, đứng trên bầu trời với một tia sét trong tay. Ngài nói: “Hỡi nhà vua ngu ngốc! Ngài sẽ không bao giờ già sao? Ngài nghĩ rằng tuổi tác sẽ không bao giờ chạm đến ngài sao? Ngài chế giễu người già, nhưng hành động của ngài lại gây ra đau khổ. Vì ngài, người ta không còn chăm sóc cha mẹ nữa. Nếu ngài không thay đổi, ta sẽ giết ngài.”

Sakka sau đó đã dạy nhà vua giá trị của việc tôn kính người lớn tuổi và chăm sóc cha mẹ. Sau đó, ngài trở về cõi trời. Từ ngày đó trở đi, nhà vua không bao giờ chế giễu tuổi già nữa.

Đức Phật kết thúc câu chuyện và đọc những vần kệ này:

“Ngỗng, diệc, voi và hươu đốm—Tuy khác nhau, nhưng tất cả đều sợ tiếng gầm của sư tử. Một đứa trẻ có thể nhỏ bé, nhưng trí tuệ thì vĩ đại; Một kẻ ngu có thể lớn lao, nhưng không bao giờ thực sự vĩ đại.”

Sau đó, Đức Phật giải thích: “Trong câu chuyện đó, Lakuntaka là vị vua đã từng chế giễu người khác, nhưng sau này đã học được sự khiêm nhường. Ta là Vua Trởi Sakka, người đã dạy ông ta.”

Khi bài pháp này kết thúc, Đức Phật đã tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và xác định Tiền Thân. Khi kết thúc Chân lý, một số nhà sư bước vào sơ quả Nhập Lưu, một số bước vào nhị quả Nhất Lai, và những người khác bước vào tứ quả A La Hán.

.... o ....

J202. Keli-Sila Jātaka -- The Small Elder with a Big Heart

Summary: Some monks mock Elder Lakuṇṭaka, a dwarf arahant whom they mistakenly believe to be a novice. The Buddha recounts how, in a past life, this monk had been a king who mocked elderly people and made their lives difficult—until Sakka descended to teach him a lesson about impermanence.

.

While the Buddha was staying at Jetavana Monastery, he told a story about a monk named Lakuntaka. Lakuntaka was deeply respected in the Buddha’s community. He spoke kindly and wisely, with a voice as sweet as honey. His mind was calm, and his heart was free from desire. But he was very small in size—so small that people often mistook him for a young novice.

One day, Lakuntaka came to the monastery gate to greet the Buddha. Just then, thirty monks from the countryside arrived. Seeing Lakuntaka, they thought he was just a young boy. They tugged at his robe, grabbed his hands, pulled his ears, and even pinched his nose—treating him playfully but rudely. Afterward, they went inside to greet the Buddha.

They asked, “Master, we’ve heard of a wise Elder named Lakuntaka the Good, who speaks sweetly and teaches well. Where is he?”

The Buddha replied, “Do you wish to see him?”

“Yes, Master.”

“He is the one you just saw at the gate—the one you pulled and teased.”

Surprised, they asked, “But Master, how can such a great monk look so small and ordinary?”

The Buddha answered, “It is because of his past actions. Let me tell you a story from long ago.”

Long ago, in the city of Benares, there was a king named Brahmadatta. At that time, the Bodhisatta was born as Sakka, the king of the gods.

King Brahmadatta disliked anything old. He chased away old animals, broke old carts, and mocked elderly people. He made old men roll on the ground and frightened old women for fun. Even if he only heard of someone being old in another town, he would send for them just to tease them.

Because of this, people were ashamed to care for their aging parents. They sent them away. The king’s friends behaved the same. As people died, they were reborn in unhappy realms, and fewer souls reached the heavens.

Sakka, the god, noticed that no new beings were arriving in the heavenly realms. He decided to teach the king a lesson.

On a festival day, Sakka disguised himself as an old man. He wore rags, rode in a broken cart pulled by two old oxen, and carried two jars of buttermilk. As the king paraded through the city on a grand elephant, Sakka appeared before him.

The king shouted, “Get that old cart out of here!” But no one else could see it—Sakka had made it invisible to everyone but the king.

Sakka approached again and again. Finally, he smashed one jar of buttermilk on the king’s head, then the other. The buttermilk dripped down both sides of the king’s face. The king was humiliated.

Then Sakka revealed his true form, standing in the sky with a thunderbolt in hand. He said: “Foolish king! Will you never grow old? Do you think age will never touch you? You mock the elderly, but your actions cause suffering. Because of you, people no longer care for their parents. If you do not change, I will strike you down.”

Sakka then taught the king the value of honoring elders and caring for parents. After this, he returned to the heavens. From that day on, the king never mocked old age again.

The Buddha finished the story and recited these verses:

“Geese, herons, elephants, and spotted deer— Though different, all fear the lion’s roar. A child may be small, but wise is great; A fool may be big, but never truly great.”

Then the Buddha explained: “In that story, Lakuntaka was the king who once mocked others, but later learned humility. I was Sakka, the one who taught him.”

When this discourse concluded, the Buddha proclaimed the Truths and identified the Birth. At the conclusion of the Truths, some of the monks entered the First Path, some the Second, and others the Fourth.

.... o ....

J203. Khandha-Vatta Jātaka -- Sức Mạnh Của Lòng Từ Bi

Tóm tắt: Một nhà sư qua đời vì bị rắn cắn. Đức Phật kể câu chuyện về các bậc hiền triết thời xưa đã học được một loại bùa hộ mệnh giúp họ thoát khỏi bốn họ rắn và các loài thú nguy hiểm khác.

.

Khi Đức Phật còn tại Tu Viện Kỳ Viên, một sự việc đau buồn đã xảy ra. Một hôm, một vị sư đang ngồi ngoài phòng chặt củi thì bất ngờ một con rắn bò ra từ khúc gỗ mục và cắn vào ngón chân của vị sư. Vị sư chết ngay tại chỗ.

Tin tức về cái chết của vị sư lan truyền nhanh chóng khắp tu viện. Tại Chánh Điện, các vị sư tụ tập lại và kể lại sự việc. "Vị sư ấy đang ngồi chặt củi," họ kể, "thì bị một con rắn cắn, và vị sư chết ngay lập tức."

Đức Phật bước vào và hỏi: "Các ông đang bàn luận điều gì vậy?" Các vị sư kể lại câu chuyện.

Đức Phật nói: "Nếu sư huynh của chúng ta thực hành lòng từ bi đối với bốn loài rắn chúa, thì vị sư đã không bị cắn. Ngày xưa, các ẩn sĩ thông thái đã tự bảo vệ mình khỏi bị hại bằng cách thể hiện thiện tâm với tất cả chúng sinh, đặc biệt là rắn."

Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện cổ.

Thuở xưa, dưới triều đại vua Brahmadatta ở Benares, Bồ-tát sinh ra là một thanh niên Bà-la-môn ở xứ Ca-si. Khi lớn lên, Ngài buông bỏ mọi dục vọng thế gian và trở thành một ẩn sĩ trong rừng. Ngài dựng một túp lều nhỏ gần sông Hằng, dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn, và sống ở đó với các ẩn sĩ khác, nhập định sâu sắc.

Nhưng khu rừng đầy rắn, và nhiều ẩn sĩ đã chết vì rắn cắn. Các ẩn sĩ kể lại nỗi sợ hãi của họ cho Bồ-tát nghe.

Ngài tập hợp họ lại và nói: "Nếu các ngươi đối xử tốt với bốn loài rắn chúa, chúng sẽ không làm hại các ngươi. Từ nay trở đi, chúng ta hãy thực hành từ bi đối với chúng."

Ngài đọc bài kệ này:

"Tôi yêu thương rắn Virupakkha, tôi yêu thương rắn Erapatha, tôi yêu thương rắn Chabbyaputta, tôi yêu thương rắn Kanhagotama."

Rồi Ngài nói thêm:

“Tất cả chúng sinh dưới mặt trời— Hai chân, bốn chân, nhiều chân, hay không chân— Tôi yêu thương tất cả các ngươi.”

Ngài cầu nguyện:

“Kể cả chúng sinh có chân, hay không chân, Xin đừng làm hại tôi—Ta cầu xin với lòng yêu thương.”

Và một lần nữa:

“Tất cả chúng sinh sinh ra trên trái đất, Thở và Chuyển động, Nguyện các ngươi được hạnh phúc, Nguyện các ngươi không bao giờ bị tổn hại.”

Ngài dạy các nhà khổ hạnh yêu thương tất cả chúng sinh không trừ một ai. Ngài nhắc nhở họ về Tam Bảo—Phật, Pháp (giáo lý), và Tăng (cộng đồng)—rằng:

“Tam Bảo thì vô lượng. Nhưng các loài như rắn, bọ cạp, nhện và chuột thì hữu hạn. Dục vọng của chúng khiến chúng trở nên nhỏ bé. Hãy để chúng ta được bảo vệ bởi sức mạnh của Tam Bảo.”

Ngài đọc:

“Giờ đây con được an toàn, được bao quanh bởi hòa bình. Nguyện tất cả chúng sinh để con được bình an. Con tôn kính Đức Thế Tôn, Và bảy vị Phật đã đến trước.”

Ngài ban bài kệ hộ trì này cho các nhà khổ hạnh. Từ ngày đó trở đi, họ thực hành tâm từ bi và tưởng nhớ đến công đức của Đức Phật. Rắn không còn quấy nhiễu họ nữa. Và Bồ Tát, nhờ sự tu tập sâu sắc của mình, đã đạt đến cõi trời Phạm Thiên.

Khi Đức Phật kể xong câu chuyện, Ngài nói: “Các vị tỳ kheo trong câu chuyện đó chính là các con, những đệ tử của ta ngày nay. Và bậc thầy thông thái đã dạy dỗ họ chính là ta.”

.... o ....

J203. Khandha-Vatta Jātaka -- The Power of Loving-Kindness

Summary: One monk dies from a snake bite. The Buddha tells a story about ancient sages who learned a protective charm that kept them safe from the four families of snakes and other dangerous animals.

.

While the Buddha was living at Jetavana Monastery, a sad event occurred. One day, a monk was sitting outside his room, chopping firewood. Suddenly, a snake slithered out from a rotten log and bit his toe. The monk died instantly.

News of his death spread quickly through the monastery. In the Hall of Truth, the monks gathered and spoke about what had happened. “He was just sitting there, chopping wood,” they said, “when a snake bit him, and he died right away.”

The Buddha entered and asked, “What are you discussing?” The monks told him the story.

The Buddha said, “If our brother had practiced loving-kindness toward the four royal families of snakes, he would not have been bitten. In ancient times, wise hermits protected themselves from harm by showing goodwill to all creatures, especially snakes.”

Then the Buddha told an old story.

Long ago, during the reign of King Brahmadatta in Benares, the Bodhisatta was born as a young brahmin in the land of Kasi. As he grew older, he let go of worldly desires and became a forest hermit. He built a small hut near the Ganges River, at the foot of the Himalayas, and lived there with other ascetics, deeply absorbed in meditation.

But the forest was full of snakes, and many hermits died from snake bites. The ascetics told the Bodhisatta about their fear.

He gathered them and said, “If you show kindness to the four royal families of snakes, they will not harm you. From now on, let us practice goodwill toward them.”

He recited this verse:

“Virupakkha snakes I love, Erapatha snakes I love, Chabbyaputta snakes I love, Kanhagotama snakes I love.”

Then he added:

“All creatures under the sun— With two legs, four legs, many, or none— I love you all.”

He prayed:

“Creatures with legs, or none at all, Please do not harm me—I ask with love.”

And again:

“All beings born upon the earth, Who breathe and move, May you be happy, May you never fall into harm.”

He taught the ascetics to love all beings without exception. He reminded them of the Three Treasures—the Buddha, the Dharma (the teachings), and the Sangha (the community)—saying:

“The Three Treasures are infinite. But creatures like snakes, scorpions, spiders, and mice are limited. Their desires make them small. Let us be protected by the power of the Three Treasures.”

He recited:

“Now I am safe, surrounded by peace. May all creatures leave me unharmed. I honor the Blessed One, And the seven Buddhas who came before.”

He gave this protective chant to the ascetics. From that day on, they practiced loving-kindness and remembered the Buddha’s virtues. The snakes no longer troubled them. And the Bodhisatta, through his deep practice, reached the heavenly realm of Brahma.

When the Buddha finished the story, he said, “The monks in that tale were you, my followers today. And the wise teacher who taught them was me.”

.... o ....

J204. Viraka Jātaka -- Con Quạ Cố Bắt Chước

Tóm tắt: Đề Bà Đạt Đa tự xưng mình là Phật nhưng lại mất hết đệ tử chỉ trong chớp mắt. Đức Phật kể câu chuyện về một con quạ cố bắt chước chim cốc (cormorant) và chết khi lặn xuống nước.

.

Khi Đức Phật còn ở tại Tu viện Kỳ Viên, một số vị cao tăng đã đến thăm Đề Bà Đạt Đa. Khi trở về, Đức Phật hỏi Xá Lợi Phất: “Đề Bà Đạt Đa đã làm gì khi thấy con?”

Xá Lợi Phất đáp: “Bạch Đức Thế Tôn, hắn ta cố gắng hành động giống như Thế Tôn.”

Đức Phật nói: “Đây không phải lần đầu Đề Bà Đạt Đa cố gắng bắt chước ta và gặp rắc rối. Hắn ta đã từng làm như vậy từ lâu rồi.” Rồi Đức Phật kể một câu chuyện từ quá khứ.

Ngày xưa, tại thành Benares, có một nạn đói. Người dân không còn thức ăn để dành cho quạ hay để cúng dường cho thần linh và rắn. Nhiều con quạ đã bay vào rừng để sinh tồn.

Một con quạ tên là Saviṭṭhaka đã rời thành phố cùng với bạn tình của mình và đến định cư gần một cái ao, nơi có một con chim cốc thông minh và khỏe mạnh tên là Viraka sinh sống. Viraka không phải là một loài chim bình thường - nó có thể lặn xuống nước và bắt cá một cách dễ dàng.

Một ngày nọ, Saviṭṭhaka thấy Viraka lặn xuống ao, bắt cá rồi lại lên phơi lông. Ngạc nhiên, nó nghĩ: “Con chim này có nhiều thức ăn quá. Ta sẽ làm trợ thủ cho nó.”

Nó đến gần Viraka và nói: “Thưa ngài, tôi muốn phục vụ ngài.”

Virakona đồng ý. Từ đó trở đi, Viraka bắt cá, ăn vừa đủ, chia phần còn lại cho Saviṭṭhaka, và Saviṭṭhaka chia cho bạn tình.

Nhưng theo thời gian, lòng kiêu hãnh dâng trào trong lòng Saviṭṭhaka. “Viraka đen, ta cũng vậy. Chúng ta trông giống nhau. Tại sao ta phải phụ thuộc vào hắn? Ta sẽ tự bắt cá!”

Virakona nhẹ nhàng cảnh báo nó: “Này bạn, ngươi không phải là loài chim sinh ra để lặn. Ngươi không sinh ra để bắt cá. Xin đừng liều mạng.”

Nhưng Saviṭṭhaka không nghe. Nó lặn xuống ao—nhưng bị vướng vào rong rêu. Nó không thể thoát ra được. Chỉ có phần mỏ nhô lên khỏi mặt nước. Không thở được, nó chết đuối.

Bạn đời của nó đợi, nhưng nó không bao giờ quay lại. Nó đến gặp Viraka và hỏi: “Thưa ngài, ngài có thấy Saviṭṭhaka, bạn đời có giọng nói ngọt ngào với chiếc cổ sáng bóng như chim công của tôi không?”

Viraka trả lời:

“Nó đã cố làm điều mà nó không được phép làm— Lặn và bắt cá như tôi. Nhưng nó đã bị mắc kẹt trong rong rêu, Và giờ nó đã chìm xuống nước.”

Con quạ cái khóc lóc và bay về Benares một mình.

Sau khi kể câu chuyện, Đức Phật nói: “Trong câu chuyện đó, Devadatta là Saviṭṭhaka—con quạ cố gắng bắt chước những gì nó không thể làm. Còn ta là Viraka, con chim cốc thông thái.”

.

.... o ....

J204. Viraka Jātaka -- The Crow Who Tried to Imitate

Summary: Devadatta portrays himself as a Buddha but loses all his disciples in an instant. The Buddha tells a story about a crow that tried to imitate a cormorant and died when it dived underwater.

.

While the Buddha was staying at Jetavana Monastery, some senior monks went to visit Devadatta. When they returned, the Buddha asked Sariputta, “What did Devadatta do when he saw you?”

Sariputta replied, “He tried to act like you, Master.”

The Buddha said, “This isn’t the first time Devadatta has tried to imitate me and ended up in trouble. He did the same long ago.” Then the Buddha told a story from the past.

Long ago, in the city of Benares, there was a famine. People had no food to spare for crows or for offerings to spirits and serpent beings. Many crows flew away to the forest to survive.

One crow named Saviṭṭhaka left the city with his mate and settled near a pond where a wise and strong cormorant named Viraka lived. Viraka was no ordinary bird—he could dive into the water and catch fish with ease.

One day, Saviṭṭhaka watched Viraka dive into the pond, catch fish, and come out to dry his feathers. Amazed, he thought, “This bird has plenty of food. I’ll become his helper.”

He approached Viraka and said, “Sir, I want to serve you.”

Viraka agreed. From then on, Viraka caught fish, ate just enough for himself, gave the rest to Saviṭṭhaka, and Saviṭṭhaka shared with his mate.

But over time, pride grew in Saviṭṭhaka’s heart. “Viraka is dark, and so am I. We look the same. Why should I depend on him? I’ll catch my own fish!”

Viraka warned him gently, “Friend, you’re not a bird made for diving. You weren’t born to fish. Please don’t risk your life.”

But Saviṭṭhaka didn’t listen. He dove into the pond—but got tangled in the weeds. He couldn’t escape. Only the tip of his beak showed above the water. Unable to breathe, he drowned.

His mate waited, but he never returned. She went to Viraka and asked, “My lord, have you seen Saviṭṭhaka, my sweet-voiced mate with a neck that shines like a peacock’s?”

Viraka replied:

“He tried to do what he was not meant to do— To dive and fish like me. But he was caught in the weeds, And now he’s gone beneath the water.”

The lady crow wept and flew back to Benares alone.

After telling the story, the Buddha said, “In that tale, Devadatta was Saviṭṭhaka—the crow who tried to imitate what he could not do. And I was Viraka, the wise cormorant.”

.... o ....

J205. Gangeyya Jātaka -- Cá và Rùa

Tóm tắt: Hai nhà sư trẻ không chắc ai đẹp trai hơn nên đã hỏi một nhà sư già, và ông ta tuyên bố rằng mình đẹp trai hơn cả hai. Đức Phật kể một câu chuyện về hai con cá cũng hỏi một con rùa xem ai đẹp trai hơn, và con rùa đã tuyên bố rằng nó đẹp trai nhất!

.

Khi Đức Phật còn ở tại Tu viện Kỳ Viên, hai vị sư trẻ xuất thân từ một gia đình danh giá ở Savatthi đã gia nhập Tăng đoàn. Tuy đã xuất gia, họ vẫn còn tự ái về ngoại hình của mình. Họ thường tự khen ngợi nhan sắc và khoe khoang về vẻ đẹp của mình.

Một hôm, họ cãi nhau: "Ông đẹp trai đấy", một người nói.

"Phải, nhưng tôi cũng vậy", người kia đáp.

Họ thấy một vị sư già ngồi gần đó và nghĩ: "Ông ấy thông thái lắm, ông ấy có thể giải quyết chuyện này cho chúng ta."

Vì vậy, họ bước đến và hỏi: "Thưa ngài, ai trong chúng tôi đẹp hơn?"

Vị sư già bình tĩnh trả lời: "Các bạn, tôi đẹp hơn cả hai người."

Các vị sư trẻ vừa ngạc nhiên vừa khó chịu. "Ông ấy không trả lời câu hỏi của chúng ta", họ càu nhàu. "Ông ấy chỉ tự khen mình thôi!"

Sau đó, các vị sư khác nghe chuyện và tụ tập tại Chánh Pháp Đường để bàn luận. “Các ngươi có nghe lão sư đã hạ nhục hai chàng trai trẻ kiêu ngạo kia không?” họ nói.

Đức Phật bước vào và hỏi họ đang bàn tán chuyện gì. Khi họ kể lại, Ngài mỉm cười và nói: “Đây không phải lần đầu tiên hai người đó tự hào về ngoại hình của mình. Từ lâu lắm rồi, họ cũng từng làm như vậy.” Rồi Ngài kể một câu chuyện từ quá khứ.

Ngày xửa ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Benares, Bồ Tát đã giáng sinh làm một vị thần cây sống bên bờ sông Hằng.

Một ngày nọ, tại nơi giao nhau của sông Hằng và sông Jumna, hai con cá - mỗi con từ một sông - gặp nhau và bắt đầu khoe khoang.

“Tôi đẹp,” cá sông Hằng nói. “Tôi cũng vậy,” cá sông Jumna nói.

Họ tranh cãi và không thể quyết định ai đẹp hơn. Rồi họ nhìn thấy một con rùa đang nằm nghỉ trên bờ sông.

“Hãy hỏi nó!” họ nói. “Nó sẽ biết.”

Chúng đến gần rùa và hỏi: "Này bạn, trong chúng ta, ai đẹp hơn: cá sông Hằng hay cá sông Jumna?"

Rùa đáp: "Cả hai bạn đều đẹp. Nhưng tôi đẹp hơn cả hai bạn." Rồi nó nói thêm:

"Cá sông Hằng và cá sông Jumna đều đẹp, Nhưng nhìn tôi này - bốn chân, cổ duyên dáng, Vỏ tròn như cây đa - chắc chắn tôi tỏa sáng hơn cả hai bạn."

Bọn cá bực mình. "Chúng tôi đã yêu cầu nó chọn giữa chúng ta," chúng nói, "nhưng nó chỉ tự khen mình!" Và chúng nói thêm:

"Chúng tôi đã hỏi một điều, nó lại trả lời một điều khác - thật là một câu trả lời kỳ lạ! Nó tự khen mình - chúng tôi không thích điều đó chút nào!"

Đức Phật kết thúc câu chuyện và nói: "Trong câu chuyện đó, hai con cá là hai nhà sư trẻ. Rùa già là nhà sư lớn tuổi. Còn ta là thần cây đã quan sát tất cả từ bờ sông."

---- o ----

J205. Gangeyya Jātaka -- The Fish and the Tortoise

Summary: Two young monks are unsure which one of them is more handsome, so they ask an old monk, who declares that he is more handsome than both of them. The Buddha tells a story of two fish who similarly asked a turtle to decide which of them was more handsome, only for the turtle to declare that he was the most handsome of all!

.

While the Buddha was staying at Jetavana Monastery, two young monks from a respected family in Savatthi had joined the Sangha. Though they had embraced the path, they were still caught up in pride about their appearance. They often praised their own beauty and bragged about how handsome they were.

One day, they got into an argument: “You’re handsome,” said one.

“Yes, but so am I,” replied the other.

They spotted an old monk sitting nearby and thought, “He’s wise—he can settle this for us.”

So they walked over and asked, “Sir, which of us is more beautiful?”

The elder calmly replied, “Friends, I am more beautiful than both of you.”

The young monks were shocked and offended. “He didn’t answer our question,” they grumbled. “He just praised himself!”

Later, the other monks heard about this and gathered in the Hall of Truth to talk about it. “Did you hear how the old monk humbled those two proud young men?” they said.

The Buddha entered and asked what they were discussing. When they told him, he smiled and said, “This isn’t the first time those two have been proud of their looks. Long ago, they did the same.” And then he told a story from the past.

Long ago, when King Brahmadatta ruled Benares, the Bodhisatta was born as a tree spirit living by the Ganges River.

One day, at the place where the Ganges and Jumna rivers meet, two fish—one from each river—met and began to boast.

“I’m beautiful,” said the Ganges fish. “So am I,” said the Jumna fish.

They argued and couldn’t decide who was more attractive. Then they saw a tortoise resting on the riverbank.

“Let’s ask him!” they said. “He’ll know.”

They approached the tortoise and asked, “Friend, which of us is more beautiful—the Ganges fish or the Jumna fish?”

The tortoise replied, “You’re both beautiful. But I am more beautiful than either of you.” Then he added:

“The fish of Jumna and Ganges are fine, But look at me—four legs, a graceful neck, A round shell like a banyan tree—surely I shine brighter than you both.”

The fish were annoyed. “We asked him to choose between us,” they said, “but he just praised himself!” And they added:

“We asked one thing, he answered another—what a strange reply! He sings his own praises—we don’t like that at all!”

The Buddha finished the story and said, “In that tale, the two fish were the young monks. The old tortoise was the elder monk. And I was the tree spirit who watched it all from the riverbank.”

... o ....

J206. Kurunga-Miga Jātaka -- Huơu Linh Dương và những người bạn trung thành

Tóm tắt: Đề Bà Đạt Đa đi khắp nơi tìm cách giết Đức Phật. Đức Phật bèn kể một câu chuyện về việc ông đã từng làm điều tương tự trong quá khứ, khi Bồ Tát còn là một con linh dương và Đề Bà Đạt Đa là một thợ săn, và Bồ Tát đã được bạn bè, chim gõ kiến ​​và rùa, cứu sống.

.

Một ngày nọ, Đức Phật nghe tin Đề Bà Đạt Đa đang tìm cách hãm hại mình. Ngài bình tĩnh nói với các đệ tử: "Chuyện này không có gì mới. Ngày xưa, Đề Bà Đạt Đa cũng từng định giết ta." Và Ngài kể lại câu chuyện này.

Ngày xưa, tại vương quốc Benares, Bồ Tát sinh ra là một con linh dương duyên dáng. Ngài sống gần một hồ nước yên tĩnh trong rừng. Gần đó, một con chim gõ kiến ​​làm tổ trên một cây cao, và một con rùa sống dưới hồ. Ba con trở thành bạn thân và rất quan tâm đến nhau.

Một ngày nọ, một người thợ săn vào rừng và nhìn thấy dấu chân linh dương gần bờ nước. Anh ta đặt một cái bẫy da chắc chắn rồi bỏ đi. Đêm đó, linh dương đi uống nước và bị bắt. Nó kêu lên đau đớn.

Nghe thấy tiếng kêu của anh ta, chim gõ kiến ​​bay xuống, và rùa bò ra khỏi hồ. Họ nhanh chóng bàn bạc cách giúp đỡ.

Chim gõ kiến ​​nói: “Rùa ơi, răng bạn chắc khỏe lắm—hãy cắn thủng cái bẫy. Tôi sẽ đến nhà thợ săn và ngăn hắn ta lại.” Rồi cô ấy nói: “Lại đây, Rùa ơi, cắn nát cái bẫy đi, tôi sẽ giữ cho thợ săn tránh xa khỏi trái tim hắn.”

Rùa bắt đầu nhai miếng da cứng. Chim gõ kiến ​​bay đến nhà thợ săn. Sáng sớm, thợ săn cầm dao bước ra ngoài. Chim gõ kiến ​​bay về phía anh ta, vỗ cánh và mổ vào mặt anh ta. “Điềm gở!”, thợ săn nghĩ, rồi quay trở vào trong.

Sau đó, anh ta thử lại, lần này từ cửa sau. Nhưng chim gõ kiến ​​thông minh đã đợi sẵn và lại cắn anh ta. “Con chim này không cho tôi đi!”, anh ta kêu lên, và ở lại nhà cho đến khi mặt trời mọc.

Khi cuối cùng anh ta rời đi, chim gõ kiến ​​vội vã quay lại để cảnh báo bạn bè. “Thợ săn đang đến!”, cô ấy kêu lên.

Lúc đó, rùa đã gần nhai xong cái bẫy, nhưng vẫn còn một sợi dây cứng. Miệng nó chảy máu, răng thì mòn vẹt. Thấy thợ săn đến gần, linh dương giật mạnh, vùng vẫy thoát ra và chạy vào rừng. Chim gõ kiến ​​bay đến cây của mình. Nhưng rùa quá yếu nên không thể di chuyển. Thợ săn tìm thấy nó, bỏ nó vào túi và buộc vào cây.

Linh dương thấy vậy liền muốn cứu bạn mình. Nó giả vờ mệt mỏi và giả vờ bị thương. Thợ săn nhìn thấy liền cầm dao đuổi theo. Linh dương dẫn thợ săn vào sâu trong rừng, sau đó trốn thoát và chạy theo một con đường khác. Nó dùng sừng nhấc túi lên, xé toạc túi và giải thoát cho rùa. Chim gõ kiến ​​bay xuống gặp họ.

Linh dương nói: “Cả hai người đã cứu mạng tôi. Hai người là bạn tốt của nhau. Giờ thợ săn có thể quay lại, vậy nên xin hãy an toàn. Chim gõ kiến, hãy bay đi cùng gia đình. Rùa, hãy lặn xuống hồ.” Họ làm theo lời anh ta.

Đức Phật kết thúc câu chuyện bằng những lời sau:

"Rùa xuống ao, Hươu vào rừng, Và chim gõ kiến ​​từ trên cây mang đàn con đi."

Người thợ săn trở về nhưng không thấy ai. Anh ta nhìn thấy chiếc túi rách và thất vọng trở về nhà. Ba người bạn sống yên bình suốt quãng đời còn lại, luôn trung thành với nhau.

Bấy giờ Đức Phật nói: "Đề-bà-đạt-đa là người thợ săn. Xá-lợi-phất là chim gõ kiến. Mục-kiền-liên là rùa. Và ta là linh dương."

.... o ....

J206. Kurunga-Miga Jātaka -- The Antelope and His Loyal Friends

Summary: Devadatta is going around trying to kill the Buddha. The Buddha then tells a story about how he had done something similar in the past, when the Bodhisatta was an antelope and Devadatta was a hunter, and how he had been saved by his friends, the woodpecker and the tortoise.

.

One day, the Buddha heard that Devadatta was trying to harm him. He calmly said to his followers, “This is not new. Long ago, Devadatta tried to kill me too.” And he shared this story from the past.

Long ago, in the kingdom of Benares, the Bodhisatta was born as a graceful antelope. He lived near a quiet lake in a forest. Nearby, a woodpecker made her home in a tall tree, and a tortoise lived in the lake. The three became close friends and cared deeply for one another.

One day, a hunter came into the forest and saw the antelope’s footprints near the water. He set a strong leather trap and left. That night, the antelope went to drink and got caught. He cried out in pain.

Hearing his cries, the woodpecker flew down, and the tortoise crawled out of the lake. They quickly talked about how to help.

The woodpecker said, “Tortoise, you have strong teeth—please chew through the trap. I’ll go to the hunter’s house and stop him from coming.” Then she said: “Come, Tortoise, bite the trap apart, I’ll keep the hunter far from heart.”

The tortoise began chewing the tough leather. The woodpecker flew to the hunter’s home. Early in the morning, the hunter grabbed his knife and stepped outside. The woodpecker flew at him, flapping her wings and pecking his face. “A bad omen!” the hunter thought, and went back inside.

Later, he tried again, this time from the back door. But the clever woodpecker was waiting and struck him again. “This bird won’t let me leave!” he cried, and stayed home until sunrise.

When he finally left, the woodpecker rushed back to warn her friends. “The hunter is coming!” she cried.

By then, the tortoise had almost finished chewing the trap, but one tough strap remained. His mouth was bleeding, and his teeth were worn. Seeing the hunter approach quickly, the antelope gave a mighty pull, broke free, and ran into the forest. The woodpecker flew to her tree. But the tortoise was too weak to move. The hunter found him, put him in a bag, and tied it to a tree.

The antelope saw this and wanted to save his friend. He made himself visible and pretended to be tired. The hunter saw him and chased after him with his knife. The antelope led him deep into the forest, then escaped and ran back by another path. He lifted the bag with his horns, tore it open, and freed the tortoise. The woodpecker flew down to join them.

The antelope said, “You both saved my life. You are true friends. Now the hunter may return, so please go to safety. Woodpecker, fly away with your family. Tortoise, dive into the lake.” They did as he said.

The Buddha ended the story with these words:

“The tortoise went into the pond, The deer into the wood, And from the tree the woodpecker Carried off her brood.”

The hunter came back and found no one. He saw the torn bag and went home, disappointed. The three friends lived peacefully for the rest of their lives, always loyal to one another.

Then the Buddha said, “Devadatta was the hunter. Sariputta was the woodpecker. Moggallana was the tortoise. And I was the antelope.”

.... o ....

J207. Assaka Jātaka -- Nỗi Buồn Của Nhà Vua Và Con Giun Phân

Tóm tắt: Một vị sư nọ cảm thấy dằn vặt vì luyến ái người vợ cũ. Đức Phật kể một câu chuyện về vị sư từng là một vị vua, đau buồn tột độ khi hoàng hậu băng hà. Bồ Tát đã giúp ông vượt qua nỗi đau buồn bằng cách tiết lộ rằng bà đã tái sinh thành một con bọ hung và không còn bận tâm về ông nữa.

.

Một ngày nọ, khi Đức Phật đang ở tại Kỳ Viên, một nhà sư đến gặp Ngài, vẻ mặt lo lắng và bối rối. Đức Phật hỏi: "Này Sư Phụ, con có phải đang tương tư không?"

"Vâng, thưa Sư Phụ," nhà sư đáp.

"Con đang nhớ nhung ai?"

"Vợ quá cố của con," nhà sư đáp.

Đức Phật dịu dàng nói: "Đây không phải lần đầu tiên con đắm chìm trong tình yêu dành cho nàng. Từ lâu, sự quyến rũ của con với người phụ nữ này đã mang đến cho con nỗi buồn lớn." Và Ngài kể câu chuyện này từ quá khứ.

Ngày xưa, tại thành Potali thuộc vương quốc Kasi, có một vị vua tên là Assaka. Hoàng hậu của ngài, Ubbari, duyên dáng, quyến rũ và xinh đẹp - hơn bất kỳ người phụ nữ nào, mặc dù không hoàn toàn là thánh thần. Nàng được nhà vua yêu thương sâu sắc.

Nhưng một ngày nọ, Hoàng hậu Ubbari qua đời. Nhà vua vô cùng đau khổ. Ngài đặt thi hài nàng vào quan tài, xức dầu thơm và đặt dưới gầm giường. Ngài nằm bên cạnh thi hài, khóc lóc và không chịu ăn. Gia đình, bạn bè và các cận thần cố gắng an ủi ngài, nói rằng: "Mọi việc rồi cũng sẽ qua." Nhưng nhà vua không nghe. Bảy ngày trôi qua, ngài vẫn chìm trong nỗi buồn sâu sắc.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát đang sống ẩn dật trong rừng gần dãy Himalaya. Ngài có năng lực tâm linh vĩ đại và tuệ giác sâu sắc. Nhìn thấy nỗi đau khổ của nhà vua bằng linh ảnh, ngài quyết định ra tay cứu giúp.

Ngài bay lên trời và đáp xuống vườn thượng uyển, ngồi bình thản trên một tảng đá nghi lễ trông như một bức tượng vàng.

Một vị Bà La Môn trẻ tuổi trong thành nhìn thấy ngài và ngồi xuống bên cạnh. Bồ Tát hỏi: "Vua của ngài có phải là một người trị vì tốt không?"

"Vâng, thưa bậc thánh nhân," chàng trai đáp. "Nhưng ngài đang rất đau buồn vì hoàng hậu của mình. Hôm nay là ngày thứ bảy. Ngài không thể giúp ngài sao?"

"Nếu nhà vua đến gặp ta," Bồ Tát nói, "ta sẽ chỉ cho ngài nơi hoàng hậu của ngài tái sinh—và để nàng nói."

Chàng trai trẻ vội vã chạy đến cung điện và báo cho nhà vua. Tràn đầy hy vọng, nhà vua cưỡi xe ngựa đến khu vườn và chào đón Bồ Tát.

“Có thật là ngài biết hoàng hậu của ta đã tái sinh ở đâu không?” Ngài hỏi.

“Vâng,” Bồ Tát đáp. “Vì nàng kiêu hãnh về nhan sắc và bỏ bê việc thiện, nên giờ đây nàng đã tái sinh thành một con sâu phân nhỏ bé ngay trong khu vườn này.”

Nhà vua sửng sốt. “Ta không tin!”

“Ta sẽ chỉ cho ngươi xem,” Bồ Tát nói, “và để nàng nói.”

Ngài gọi ra hai con sâu lăn một cục phân bò. “Kia kìa,” ngài nói. “Đó là hoàng hậu Ubbari của ngươi, giờ đang theo chân người chồng mới cưới, một con sâu phân khác.”

Tuy nhiên, nhà vua vẫn không thể tin được. “Xin hãy cho nàng nói,” ngài cầu xin.

Bồ Tát ban cho nàng khả năng nói. “Ubbari,” ngài gọi.

“Vâng, thưa bậc thánh?” nàng trả lời bằng giọng người.

“Trước kia tên ngươi là gì?” ngài hỏi.

“Ta từng là Hoàng hậu Ubbari, vợ của Vua Assaka,” nàng nói.

“Bây giờ nàng yêu ai hơn – Vua Assaka hay người chồng giun phân của nàng?”

“Đó là kiếp trước của ta,” nàng nói. “Hồi đó, ta tận hưởng sắc đẹp và khoái lạc cùng nhà vua. Nhưng giờ đây, ký ức của ta đã bị lu mờ bởi luân hồi. Ta không còn yêu ngài nữa. Thật ra, ta muốn giết Vua Assaka và bôi máu của ngài lên chân chồng ta!”

Rồi nàng đọc những vần kệ này:

“Ngày xưa, cùng với đại vương Assaka, người chồng yêu dấu của ta, Ta yêu dấu và được yêu dấu, ta đã dạo chơi trong khu vườn này. Nhưng giờ đây, những nỗi buồn và niềm vui mới đã khiến những nỗi buồn và niềm vui cũ phải xa rời, Và giờ đây, con giun của ta còn yêu quý hơn Assaka đối với ta.”

Nghe vậy, nhà vua sửng sốt. Ngài nhận ra tình yêu và sự gắn bó có thể phù du đến nhường nào. Ngài ra lệnh đưa thi hài hoàng hậu đi, gội đầu và đảnh lễ Bồ Tát. Ngài trở về kinh thành, tái hôn và trị vì một cách sáng suốt.

Sau khi giúp nhà vua vơi đi nỗi buồn, Bồ Tát trở về rừng.

Khi Đức Phật kể xong câu chuyện, Ngài giải thích: “Vị sư si tình ngày xưa chính là vua Assaka. Người vợ quá cố của ngài là Ubbari. Sariputta là vị Bà-la-môn trẻ tuổi. Còn ta là vị ẩn sĩ thông thái.”

Khi Đức Phật kết thúc bài pháp này, vị sư si tình đã đắc sơ quả Nhập Lưu.

.... o ....

J207. Assaka Jātaka -- The King’s Grief and the Dung-Worm

Summary: One monk grew dissatisfied due to his attachment to his former wife. The Buddha told a story about how the monk had once been a king who grieved deeply when his queen passed away. The Bodhisatta helped him overcome his grief by revealing that she had been reborn as a dung beetle and no longer cared for him.

.

One day, while the Buddha was staying at Jetavana, a monk came to him, troubled and distracted. The Buddha asked, “Are you lovesick, Brother?”

“Yes, Master,” the monk replied.

“Who are you longing for?”

“My late wife,” said the monk.

The Buddha gently said, “This isn’t the first time you’ve been overwhelmed by love for her. Long ago, your attachment to this woman brought you great sorrow.” And he told this story from the past.

Long ago, in the city of Potali in the kingdom of Kasi, there lived a king named Assaka. His queen, Ubbari, was graceful, charming, and beautiful—more than any woman, though not quite divine. She was deeply loved by the king.

But one day, Queen Ubbari died. The king was heartbroken. He placed her body in a coffin, treated it with oils and perfumes, and kept it beneath his bed. He lay beside it, crying and refusing to eat. His family, friends, and advisors tried to comfort him, saying, “All things must pass.” But the king would not listen. Seven days went by, and he remained in deep sorrow.

At that time, the Bodhisatta was living as a forest hermit near the Himalayas. He had great spiritual powers and deep insight. Seeing the king’s suffering with his divine vision, he decided to help.

He flew through the sky and landed in the king’s garden, sitting calmly on a ceremonial stone like a golden statue.

A young brahmin from the city saw him and sat down beside him. The Bodhisatta asked, “Is your king a good ruler?”

“Yes, holy one,” said the youth. “But he’s grieving deeply for his queen. Today is the seventh day. Can’t you help him?”

“If the king comes to me,” said the Bodhisatta, “I will show him where his queen has been reborn—and let her speak.”

The young man rushed to the palace and told the king. Filled with hope, the king rode his chariot to the garden and greeted the Bodhisatta.

“Is it true you know where my queen has been reborn?” he asked.

“Yes,” said the Bodhisatta. “Because she was proud of her beauty and neglected good deeds, she has now been reborn as a tiny dung-worm in this very garden.”

The king was shocked. “I don’t believe it!”

“I will show her to you,” said the Bodhisatta, “and let her speak.”

He called forth two worms rolling a ball of cow dung. “There she is,” he said. “That is your queen Ubbari, now following her new husband, another dung-worm.”

Still, the king couldn’t believe it. “Please make her speak,” he begged.

The Bodhisatta gave her the power of speech. “Ubbari,” he called.

“Yes, holy one?” she replied in a human voice.

“What was your name before?” he asked.

“I was Queen Ubbari, wife of King Assaka,” she said.

“Who do you love more now—King Assaka or your dung-worm husband?”

“That was my past life,” she said. “Back then, I enjoyed beauty and pleasure with the king. But now, my memory is clouded by rebirth. I feel no love for him. In fact, I would kill King Assaka and smear my husband’s feet with his blood!”

Then she spoke these verses:

“Once with the great king Assaka, who was my husband dear, Beloving and beloved, I walked about this garden here. But now new sorrows and new joys have made the old ones flee, And dearer far than Assaka my Worm is now to me.”

Hearing this, the king was stunned. He realized how fleeting love and attachment can be. He ordered the queen’s body to be removed, washed his head, and bowed to the Bodhisatta. He returned to the city, married again, and ruled wisely.

The Bodhisatta, having helped the king let go of sorrow, returned to his forest home.

When the Buddha finished the story, he explained: “The lovesick monk was once King Assaka. His late wife was Ubbari. Sariputta was the young brahmin. And I was the wise hermit.”

When the Master had concluded this discourse, the lovesick monk attained the Fruit of the First Path.

.... o ....

J208. Sumsumara Jātaka --  Khỉ và Cá Sấu

Tóm tắt: Đề Bà Đạt Đa đang tìm cách giết Đức Phật. Đáp lại, Đức Phật kể câu chuyện về một con cá sấu muốn ăn tim khỉ. Tuy nhiên, con khỉ đã khéo léo lừa con cá sấu tin rằng nó đã để quên trái tim trên cây, nhờ đó nó trốn thoát.

.

Một ngày nọ, Đức Phật nghe tin Đề Bà Đạt Đa đang tìm cách giết Ngài. Ngài bình tĩnh nói: "Đây không phải lần đầu Đề Bà Đạt Đa cố giết Ta. Từ lâu rồi, hắn đã cố mà vẫn không thể làm Ta sợ." Rồi Ngài kể lại câu chuyện từ quá khứ.

Ngày xửa ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Benares, Bồ Tát sinh ra là một chú khỉ khỏe mạnh và thông minh. Ngài sống hạnh phúc gần khúc quanh của sông Hằng, trong một khu rừng gần dãy Himalaya.

Dưới sông có một con cá sấu. Một ngày nọ, vợ của cá sấu nhìn thấy con khỉ và nói: "Chồng ơi, em muốn ăn tim của con khỉ đó!"

Con cá sấu đáp: "Nhưng nó sống trên cạn còn em sống dưới nước. Làm sao em bắt được nó?"

"Em không quan tâm bằng cách nào," cô nói. "Nếu em không lấy được tim của nó, em sẽ chết!"

Con cá sấu an ủi cô và nói: "Đừng lo. Anh sẽ tìm cách."

Sau đó, cá sấu đến gần khỉ, lúc này đang ngồi uống nước bên bờ sông. Nó hỏi: "Này khỉ, sao cậu lại ở đây ăn trái cây khô? Bên kia sông có cây xoài và những quả ngọt như mật ong. Cậu không muốn đến đó sao?"

Khỉ nói: "Nhưng sông sâu và rộng. Làm sao tôi có thể qua được?"

"Tôi sẽ cõng cậu trên lưng", cá sấu nói.

Khỉ tin tưởng nó và trèo lên lưng nó. Nhưng khi qua được nửa đường, cá sấu lặn xuống nước.

"Này! Cậu đang nhấn chìm tôi đấy!" khỉ kêu lên.

Cá sấu đáp: "Tôi không giúp cậu vì lòng tốt. Vợ tôi muốn trái tim của cậu, và tôi sẽ mang nó đến cho cô ấy!"

Khỉ vẫn bình tĩnh và nói: "Cảm ơn cậu đã nói cho tôi biết. Nhưng cậu không biết sao? Loài khỉ chúng tôi không mang trái tim bên trong. Nếu có, chúng sẽ bị vỡ tan khi chúng tôi nhảy qua cây!"

"Thật sao?" cá sấu hỏi. "Cậu để nó ở đâu?"

Con khỉ chỉ vào một cây sung gần đó. "Thấy mấy quả kia không? Đó là nơi chúng tôi cất giữ trái tim."

"Nếu ngươi cho ta xem trái tim của ngươi," cá sấu nói, "ta sẽ không giết ngươi."

"Dẫn ta đến cây," con khỉ nói, "và ta sẽ cho ngươi xem."

Con cá sấu bơi đến chỗ cây. Vừa đến nơi, con khỉ nhảy xuống và trèo lên.

"Đồ cá sấu ngu ngốc!" nó cười. "Ai lại cất giữ trái tim trên cây chứ? Ngươi bị lừa rồi! Ngươi có thể to lớn, nhưng ngươi chẳng thông minh gì cả."

Rồi nó nói: "Cả hồng, mít, xoài nữa - ta thấy bên kia sông kia kìa. Nhưng ta không cần chúng. Quả sung của ta đã đủ tốt cho ta rồi! Thân ngươi to lớn, nhưng tâm hồn ngươi nhỏ bé. Ta đã qua mặt ngươi rồi - chỉ vậy thôi!"

Con cá sấu, cảm thấy buồn bã và thất bại, trở về nhà như thể nó đã đánh mất một kho báu lớn.

Đức Phật kết thúc câu chuyện bằng câu nói: “Devadatta là con cá sấu, bà Cinca là vợ ông ta, và ta là con khỉ.”

.... o ....

J208. Sumsumara Jātaka -- The Monkey and the Crocodile

Summary: Devadatta is attempting to kill the Buddha. In response, the Buddha tells a story about a crocodile that desired to eat a monkey's heart. However, the monkey cleverly tricked the crocodile into believing that he had left his heart on a tree, allowing him to escape.

.

One day, the Buddha heard that Devadatta was trying to kill him. He calmly said, “This isn’t the first time Devadatta has tried to murder me. Long ago, he tried and still couldn’t even make me afraid.” Then he shared this story from the past.

Long ago, when King Brahmadatta ruled Benares, the Bodhisatta was born as a strong and clever monkey. He lived happily near a bend in the river Ganges, in a forest by the Himalayas.

In the river lived a crocodile. One day, the crocodile’s wife saw the monkey and said, “Husband, I want to eat that monkey’s heart!”

The crocodile replied, “But he lives on land and I live in water. How can I catch him?”

“I don’t care how,” she said. “If I don’t get his heart, I’ll die!”

The crocodile comforted her and said, “Don’t worry. I’ll find a way.”

Later, the crocodile approached the monkey, who was sitting by the river after drinking water. He said, “Dear Monkey, why do you stay here eating dry fruits? Across the river are mango trees and sweet fruits like honey. Wouldn’t you like to go there?”

The monkey said, “But the river is deep and wide. How can I cross?”

“I’ll carry you on my back,” said the crocodile.

The monkey trusted him and climbed onto his back. But halfway across, the crocodile dove underwater.

“Hey! You’re sinking me!” cried the monkey.

The crocodile replied, “I’m not helping you out of kindness. My wife wants your heart, and I’m taking it to her!”

The monkey stayed calm and said, “Thank you for telling me. But don’t you know? We monkeys don’t carry our hearts inside us. If we did, they’d get smashed when we jump through trees!”

“Really?” asked the crocodile. “Where do you keep it?”

The monkey pointed to a fig tree nearby. “See those fruits? That’s where we keep our hearts.”

“If you show me your heart,” said the crocodile, “I won’t kill you.”

“Take me to the tree,” said the monkey, “and I’ll show you.”

The crocodile swam to the tree. As soon as they arrived, the monkey jumped off and climbed up.

“You foolish crocodile!” he laughed. “Who keeps their heart in a tree? You’ve been tricked! You may be big, but you’re not very smart.”

Then he said: “Rose-apples, jackfruit, mangoes too—across the river there I see. But I don’t need them. My fig is good enough for me! Your body’s big, but your mind is small. I’ve outsmarted you—that’s all!”

The crocodile, feeling sad and defeated, returned home as if he had lost a great treasure.

The Buddha ended the story by saying, “Devadatta was the crocodile, the lady Cinca was his wife, and I was the monkey.”

.... o ....

J209. Kakkara Jātaka -- Vị Tăng Sĩ Rất Cẩn Thận

Tóm tắt: Có một vị sư rất khéo léo trong việc tự chăm sóc bản thân. Khi Đức Phật nghe chuyện này, Ngài kể lại một kiếp trước, vị sư từng là một con chim, cẩn thận tránh bị thợ săn bắt.

.

Một hôm, khi Đức Phật đang ở tại Kỳ Viên, các vị tăng đang nói chuyện về một trong những người bạn đồng tu của họ - một vị tăng đã từng tu tập với Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Vị tăng này rất cẩn thận về sự thoải mái của mình. Ngài không ăn thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, vì sợ nó có thể gây hại cho mình. Ngài tránh ra ngoài vì lo lắng về thời tiết. Ngài từ chối cơm quá mềm hoặc quá cứng. Mọi thứ đều phải vừa phải.

Các vị tăng khác nhận thấy ngài rất quan tâm đến sức khỏe của mình. Trong Chánh Pháp Đường, họ nói: "Này Hiền giả, Sư huynh này thật thông minh khi biết điều gì tốt cho mình!"

Đức Phật bước vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì. Họ kể cho Ngài nghe về thói quen cẩn thận của vị tăng sĩ.

Đức Phật mỉm cười và nói: "Điều này không có gì mới mẻ. Trước đây Ngài cũng từng cẩn thận như vậy." Và Ngài kể lại câu chuyện này từ rất lâu rồi.

Ngày xửa ngày xưa, dưới triều đại vua Brahmadatta ở Benares, Bồ Tát đã giáng sinh làm một vị thần cây sống trong một khoảng rừng yên bình.

Một ngày nọ, một người thợ săn chim vào rừng. Anh ta mang theo một con chim mồi, một cái bẫy tóc và một cây gậy. Anh ta phát hiện ra một con chim già và cố gắng bắt nó, nhưng con chim rất khôn ngoan. Nó cứ bay lên rồi lại hạ cánh, luôn ở ngoài tầm với.

Người thợ săn đã thử mọi cách - anh ta che mình bằng cành cây, đặt lại bẫy hết lần này đến lần khác - nhưng con chim vẫn không chịu mắc bẫy.

Cuối cùng, con chim, muốn trêu chọc người thợ săn, đã nói bằng giọng người: "Tôi đã thấy nhiều cây trong rừng xanh, Nhưng không có cây nào di chuyển và hành động như anh!"

Rồi con chim bay đi.

Người thợ săn, ngạc nhiên và hơi xấu hổ, nói: "Con chim già này biết tất cả về bẫy - Nó đã bay đi, thoát khỏi bẫy của tôi, Và thậm chí còn nói bằng giọng người!"

Sau đó, người thợ săn bắt được những con chim nào anh ta có thể và trở về nhà.

Khi Đức Phật kể xong câu chuyện, Ngài nói: “Đề Bà Đạt Đa là thợ săn. Nhà sư cẩn thận là con chim thông minh. Còn ta là thần cây canh chừng tất cả.”

.... o ....

J209. Kakkara Jātaka -- The Monk Who Took Great Care

Summary: One monk was very clever at taking care of himself. When the Buddha heard of this, he recounted a previous life in which the monk had been a bird that carefully avoided being caught by a hunter.

.

One day, while the Buddha was staying at Jetavana, the monks were talking about one of their fellow students—a monk who had trained with Elder Sariputta.

This monk was very careful about his comfort. He wouldn’t eat food that was too hot or too cold, afraid it might harm him. He avoided going outside, worried about the weather. He refused rice that was too soft or too hard. Everything had to be just right.

The other monks noticed how much attention he gave to his own well-being. In the Hall of Truth, they said, “Friend, Brother So-and-so is very clever at knowing what’s good for him!”

The Buddha entered and asked what they were discussing. They told him about the monk’s careful habits.

The Buddha smiled and said, “This isn’t new. He was just as careful in the past.” And he shared this story from long ago.

Long ago, during the reign of King Brahmadatta in Benares, the Bodhisatta was born as a tree-spirit living in a peaceful forest clearing.

One day, a bird hunter entered the forest. He carried a decoy bird, a hair snare, and a stick. He spotted an old bird and tried to catch it, but the bird was wise. It kept flying up and landing again, always staying just out of reach.

The hunter tried everything—he covered himself with branches, reset his trap again and again—but the bird wouldn’t fall for it.

Finally, the bird, wanting to tease the hunter, spoke in a human voice and said: “I’ve seen many trees in the green forest, But none that move and act like you!”

Then the bird flew away.

The hunter, surprised and a little embarrassed, said: “This old bird knows all about traps— He’s flown away, escaped my snare, And even spoke with a human voice!”

After that, the hunter caught what birds he could and went home.

When the Buddha finished the story, he said, “Devadatta was the hunter. The careful monk was the clever bird. And I was the tree-spirit who watched it all.”

.... o ....

J210. Kandagalaka Jātaka -- Hai Con Chim Gõ Kiến Trong Rừng

Tóm tắt: Đề Bà Đạt Đa đang tìm cách giết Đức Phật. Đáp lại, Đức Phật kể câu chuyện về một con chim gõ kiến ​​đã giúp một con chim khác tìm thức ăn. Tuy nhiên, con chim thứ hai, vì muốn tự đào thức ăn, đã bị gãy mỏ trên một cây keo.

.

Một ngày nọ, Đức Phật nghe nói Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) đang cố gắng bắt chước Ngài—cố gắng hành động, nói năng giống Ngài, và giành được sự kính trọng tương tự. Đức Phật lặng lẽ nói: "Đây không phải lần đầu tiên Đề Bà Đạt Đa tự làm hại mình bằng cách cố gắng bắt chước Ta. Hắn đã làm điều tương tự từ lâu rồi." Và rồi Ngài kể lại câu chuyện từ quá khứ.

Ngày xửa ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Benares, Bồ Tát đã sinh ra là một con chim gõ kiến ​​thông thái tên là Khadiravaniya. Nó sống trong một khu rừng đầy những cây keo cứng cáp.

Ngài có một người bạn tên là Kandagalaka, sống trong một khu rừng khác, nơi cây cối mềm mại và đầy trái cây. Kandagalaka quen với thức ăn dễ kiếm—nó mổ gỗ mềm và ăn côn trùng ngọt một cách dễ dàng.

Một ngày nọ, Kandagalaka đến thăm Khadiravaniya. Vui mừng khi gặp lại bạn mình, Khadiravaniya dẫn nó đi qua khu rừng keo và mổ vào những thân cây cứng để bắt côn trùng. Anh ta tử tế đưa chúng cho bạn mình, và bạn mình ăn chúng như bánh mật ong.

Nhưng khi Kandagalaka ăn, lòng tự hào dâng trào. "Ta cũng là một con chim gõ kiến," anh ta nghĩ. "Tại sao ta phải để nó cho ta ăn? Ta sẽ tự tìm thức ăn ở đây!"

Khadiravaniya nhẹ nhàng cảnh báo anh ta: "Bạn ơi, mỏ của bạn đã quen với gỗ mềm và cây ăn quả rồi. Những cây keo này cứng và đầy lõi. Xin đừng thử."

Nhưng Kandagalaka không nghe. "Tôi là chim gõ kiến, phải không?" anh ta nói, và bắt đầu mổ vào một thân cây keo.

Chỉ với một cú mổ, mỏ của anh ta gãy. Đầu anh ta đau nhói, mắt anh ta gần như lồi ra, và anh ta ngã xuống đất trong đau đớn. Nằm đó, anh ta kêu lên: "Này bạn ơi, cái cây gai này là gì mà lại làm gãy mỏ tôi chỉ với một cú mổ?"

Khadiravaniya đáp:

"Con chim này quen với gỗ mềm, chết, Nhưng lại cố gắng cắn một cây quá cứng. Lòng kiêu hãnh đã khiến nó đập quá mạnh— Và giờ đây mạng sống của nó đã chấm dứt."

Rồi Khadiravaniya nói thêm: "Cây đó rất cứng cáp, bạn của tôi ạ. Lẽ ra bạn nên lắng nghe." Nhưng Kandagalaka đã chết ngay tại đó.

Khi Đức Phật kể xong câu chuyện, Ngài nói: "Đề Bà Đạt Đa là Kandagalaka, kẻ bắt chước kiêu ngạo. Còn ta là Khadiravaniya, con chim gõ kiến ​​thông thái."

.... o ....

J210. Kandagalaka Jātaka -- Two Woodpeckers in the Forest

Summary: Devadatta is attempting to kill the Buddha. In response, the Buddha tells a story about a woodpecker that helped another bird find food. However, the second bird, wanting to dig out the food by itself, ended up breaking its beak on an acacia tree.

.

One day, the Buddha heard that Devadatta was trying to copy him—trying to act like him, speak like him, and gain the same respect. The Buddha calmly said, “This isn’t the first time Devadatta has harmed himself by trying to imitate me. He did the same thing long ago.” And then he shared this story from the past.

Long ago, when King Brahmadatta ruled Benares, the Bodhisatta was born as a wise woodpecker named Khadiravaniya. He lived in a forest filled with tough acacia trees.

He had a friend named Kandagalaka, who lived in a different forest where the trees were soft and full of fruit. Kandagalaka was used to easy food—he pecked at soft wood and ate sweet insects without much effort.

One day, Kandagalaka came to visit Khadiravaniya. Happy to see his friend, Khadiravaniya led him through the acacia forest and pecked at the hard tree trunks to bring out insects. He kindly offered them to his friend, who ate them like honey cakes.

But as Kandagalaka ate, pride filled his heart. “I’m a woodpecker too,” he thought. “Why should I let him feed me? I’ll find my own food here!”

Khadiravaniya gently warned him, “Friend, your beak is used to soft wood and fruit trees. These acacia trees are hard and full of pith. Please don’t try.”

But Kandagalaka wouldn’t listen. “I’m a woodpecker, aren’t I?” he said, and began pecking at an acacia trunk.

In just one strike, his beak broke. His head throbbed, his eyes nearly popped out, and he fell to the ground in pain. As he lay there, he cried:

“O friend, what is this thorny tree That broke my beak with one strike at me?”

Khadiravaniya replied:

“This bird was used to soft, dead wood, But tried a tree too strong. His pride led him to strike too hard— And now his life is gone.”

Then Khadiravaniya added, “That tree is strong and tough, my friend. You should have listened.” But Kandagalaka died right there.

When the Buddha finished the story, he said, “Devadatta was Kandagalaka, the proud imitator. And I was Khadiravaniya, the wise woodpecker.”

.... o ....

.

 



Washington, D.C. — Một vụ nổ súng xảy ra tối Thứ Bảy 25 tháng 4 tại khách sạn Washington Hilton, nơi đang diễn ra dạ tiệc thường niên của Hội Ký giả Tòa Bạch Ốc, buộc lực lượng Mật vụ phải khẩn cấp đưa Tổng thống Donald Trump rời khỏi hội trường. Theo các nguồn tin tại chỗ, sự việc xảy ra ít phút sau khi giờ ăn tối bắt đầu. Từ phía cuối phòng dạ tiệc, người ta nghe một tiếng động bất thường, kế đó là tiếng la báo động. Hàng trăm quan khách đồng loạt cúi xuống, núp dưới các bàn tiệc, trong lúc nhân viên an ninh rút súng, chạy dọc các lối đi hướng về phía khán đài.
- Epstein giấu các nữ nạn nhân (phần lớn từ Nga và Đông Âu) tại 4 căn hộ London trước khi chuyển họ đi lạm dụng. - MAGA nổi giận vì Cộng Hòa và Trump muốn ân xá cho cô Maxwell. Chỉ mới 1/2 hồ sơ Estein phổ biến - Video 2 phút chiếu cảnh 2 bạn Trump-Epstein đã chiếu lên khách sạn đêm Thứ Sáu, trước buổi tiệc đêm Thứ Bảy của báo chí, nơi Trump sẽ dự, sẽ đọc diễn văn chửi mắng báo chí rồi về ngay
- Mỹ bắn chìm các ghe cá bị vu vô cớ là chở ma túy và đột kích bắt Maduro ở Venezuela nhằm áp lực Mỹ Latin, tốn 4,7 tỷ USD, đủ để tài trợ Medicaid (y tế cho dân nghèo) cho 500.000 dân Mỹ trong suốt một năm. - Nhân quyền: Mỹ phạm tội ác chiến tranh khi giết 183 ngư dân vô cớ.
- Hoa Kỳ – Iran: Đàm phán qua Pakistan, tín hiệu vẫn trái chiều. - Iran đe dọa đáp trả phong tỏa của Mỹ. - Công ty xây phòng đại yến của Trump được cấp hợp đồng không đấu thầu cho dự án gần đó. - Tòa phúc thẩm chặn sắc lệnh hạn chế tị nạn của Trump.. - Phát hiện loài mực khổng lồ thời khủng long, từng thống trị đại dương cổ đại - Na Uy đề xuất cấm mạng xã hội với người dưới 16 tuổi. - Dân Palestine đi bầu cử địa phương tại Bờ Tây và Gaza sau nhiều năm gián đoạn. - Vụ mất tích hai nghiên cứu sinh USF: phát hiện thi thể một người, tiếp tục tìm kiếm người còn lại.
nhậu say, 2 lần bị vào hồ sơ cảnh sát, 1 lần vì chưa đủ tuổi, 1 lần vì đứng tè nơi công cộng. Patel chỉ thị FBI quay video cảnh Patel đóng vai công tác mật để đánh bóng Patel nhằm vuốt ve Trump
Một vấn đề hệ trọng mà những người ủng hộ sắc lệnh cấm quyền công dân theo nơi sinh bỏ qua: nguy cơ gây ra những tổn thất kinh tế to lớn, gây bất ổn xã hội. Số lượng cư dân được xem là bất hợp pháp sẽ gia tăng; đồng thời làm giảm sức hấp dẫn, ngăn cản nhân tài toàn cầu đến định cư tại Hoa Kỳ.
• Giáo Hoàng Kêu Gọi Mỹ-Iran Trở Lại Đàm Phán, Lên Án Án Tử Hình • ACLU Kiện Sở Công Viên Quốc Gia Vì Đòi Gỡ Bảng Chống Trump • Ngũ Giác Đài tính trừng phạt đồng minh NATO, nêu khả năng đình chỉ Tây Ban Nha • Giám Sát Bộ Tư Pháp Xét Lại Việc Công Bố Hồ Sơ Epstein • Mỹ Bị Cảnh Báo Du Hành Trước Mùa World Cup Vì Lo Ngại Nhân Quyền • Hàng Triệu Người Mỹ Có Thể Được Canada Nhìn Nhận Là Công Dân • Trump Kéo Dài Thêm 3 Tuần Ngưng Bắn Giữa Israel Và Lebanon • Binh Sĩ Mỹ Bị Truy Tố Vì Dùng Tin Mật Để Thắng 400,000 Mỹ Kim Cá Cược • Bốn Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Bác Đường Đưa Dự Luật SAVE America Vào Gói Ngân Sách • FDA Chuẩn Y Liệu Pháp Gien Đầu Tiên Trị Điếc Di Truyền Ở Trẻ Em • Bộ Tư Pháp Mỹ Nhắm Tước Quốc Tịch Gần 400 Công Dân • Ấn Độ Phẫn Nộ Vì Trump Đăng Lại Lời Gọi Nước Này Là "Xứ Khốn Nạn" • RFK Jr. làm toán sai để “cứu bồ” Trump về giá thuốc
Gần đây, các nhân viên của Cơ quan thực thi di trú (ICE) đã được điều đến các phi trường lớn của Hoa Kỳ. Chính phủ nói rằng họ có mặt ở đó để hỗ trợ an ninh phi trường vì một số nhân viên an ninh TSA ở đó đã vắng mặt. Nhưng lời giải thích này làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng. ICE không phải là một cơ quan an ninh phi trường. Nhiệm vụ chính của cơ quan này là thực thi luật di trú. Nếu các nhân viên ICE vẫn ở lại phi trường ngay cả sau khi các nhân viên TSA quay trở lại, điều đó có nghĩa là vai trò thực sự của họ có thể không phải là về an ninh.
Trong lúc Amazon và các chuỗi bán lẻ lớn tiếp tục mở rộng, các hiệu sách độc lập tại Hoa Kỳ lại đang trở lại một cách lặng lẽ nhưng rõ rệt. Hiệp Hội Các Nhà Sách Hoa Kỳ cho biết trong năm 2025 có khoảng 422 hiệu sách độc lập mới mở cửa, tăng 31% so với năm 2024. Sự trở lại này cho thấy một điều khá rõ: thị trường không phải chỉ có chỗ cho những người khổng lồ. Bên cạnh các tập đoàn lớn, nhiều cơ sở nhỏ như tiệm sách, quán cà phê, nhà hàng, rạp chiếu bóng hay tiệm quần áo vẫn sống được, và có nơi còn làm ăn khá. Lý do không khó hiểu. Nước Mỹ quá rộng, dân quá đông, thị hiếu lại quá khác nhau. Không một mô hình bán lẻ lớn nào có thể đáp ứng hết mọi nhu cầu của từng khu phố, từng cộng đồng, từng nhóm khách hàng.
Chính phủ Thụy Điển đang hãm lại nhịp số hóa trong trường học sau hơn một thập niên đẩy mạnh việc học qua màn hình, chuyển trọng tâm trở lại với sách in, tập vở và bút viết. Mục tiêu chính thức là chặn đà sa sút của khả năng đọc và viết, điều đã bộc lộ khá rõ trong kết quả PISA năm 2022, khi điểm đọc hiểu và toán đều thấp hơn trước. Với bước chuyển này, Thụy Điển tạm rời hình ảnh một nước đi đầu trong giáo dục điện toán để thử một hướng khác: đặt lại trọng tâm vào những kỹ năng căn bản và giảm bớt những gì bị xem là nguồn xao lãng trong lớp học.
Khách mua hàng tại chuỗi siêu thị Trader Joe’s có thể sắp được nhận một khoản tiền bồi hoàn sau khi công ty đồng ý dàn xếp một vụ kiện tập thể trị giá 7.4 triệu Mỹ kim. Theo nội dung dàn xếp, những người đã dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ để mua hàng tại Trader Joe’s từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2019 có thể đủ điều kiện nộp đơn nhận tiền. Vụ kiện cho rằng một số biên nhận in trong năm đó đã hiển thị 10 số của thẻ — gồm sáu số đầu và bốn số cuối — nhiều hơn mức luật liên bang cho phép.
Tổng kết nhiều cuộc thăm dò: 63%-68% dân Mỹ nói không có lý do để Mỹ chiến tranh chống Iran - Trump: tôi sẽ không dùng vũ khí nguyên tử tấn công Iran, vì đủ đánh tan tác Iran rồi. - Iran: Chúng tôi không tìm cách chế tạo bom nguyên tử, nhưng bây giờ đừng hòng đưa uranium của Iran ra ngoài nước. - Trump: Không vội vàng, tôi muốn một thỏa thuận tuyệt vời với Iran - Trump: Mỹ tăng cường gỡ thủy lôi, và sẽ bắn chìm các tàu nào tới gài thủy lôi - Trump: 78% mục tiêu tại Iran đã bị tấn công, nếu không thỏa thuận sẽ bị tấn công cho trọn 100% - Trump: Các lãnh đạo Iran đang "đấu đá như chó với mèo" - Báo Axios: Iran có thể đã rải thêm thủy lôi tại Hormuz. - Gần 2 tháng cuộc chiến Iran: 3.400 người ở Iran chết, 2.200 người chết tại Lebanon, 32 người tại các nước vùng Vịnh chết, và 23 người chết tại Israel. Có 13 lính Mỹ hy sinh trong chiến đấu, và 2 lính khác chết vì lý do ngoài chiến đấu; Hơn 400 lính Mỹ bị thương. - Ngoại trưởng Iran: Người dân Iran đoàn kết hơn bao giờ hết - Iran k
• Thượng Viện Thông Qua Kế Hoạch Ngân Sách Cộng Hòa Mở Đường Cấp $70 Tỷ Cho ICE Và Tuần Tra Biên Giới • Hung Cao Giữ Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Sau Khi John Phelan Rời Chức • Chính Quyền Trump Hạ Mức Xếp Loại Cần Sa Dùng Cho Y Khoa • Eo Biển Hormuz Căng Thẳng, Trump Dọa Đánh Chìm Tàu Iran • Virginia Sẽ Kháng Cáo Lệnh Chặn Kết Quả Trưng Cầu Về Bản Đồ Quốc Hội • Hai Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Tách Hàng Ngũ, Nhưng Tu Chính Về Chi Phí Y Tế Vẫn Bị Bác • Tòa Bác Luật California Buộc Nhân Viên ICE Phải Đeo Thẻ Nhận Dạng • Nhân Viên Di Trú Bị Truy Tố Sau Cuộc Biểu Tình Trước Cơ Sở ICE Ở Colorado • Texas: Tòa Liên Bang Bác Đơn Kiện Phỉ Báng Của Giám Đốc FBI Kash Patel • Justin Sun Kiện World Liberty Của Gia Đình Trump, Tố Chặn Bán Token Và Ép Rót Thêm Tiền • Chính Quyền Trump Cân Nhắc Cứu Trợ Spirit • Hungary Bỏ Phủ Quyết, EU Mở Đường Cho Ukraine Vay 106 Tỉ Mỹ Kim • Thủ Tướng Lebanon Tố Israel Phạm Tội Ác Chiến Tranh Sau Cuộc Không Kích Làm Thiệt Mạng Một Nữ Ký
Chiều thứ Bảy vừa qua, trong không khí tháng Tư tưởng niệm, khoảng 70 khán giả gồm giới truyền thông, giới học thuật, giới lãnh đạo cộng đồng, những người quan tâm đến thời cuộc Việt Nam cùng hội tụ tại hội trường đài truyền hình SBTN xem cuốn phim tài liệu ‘The General: Vietnam in the Age of To Lam’. Sau buổi chiếu phim là phần hỏi đáp; người trả lời qua điện thoại là Luna, nữ phụ tá của nữ đạo diễn Laura Brickman trong tiến trình thực hiện phim. Phần đặt câu hỏi cho thấy khán giả cảm nhận phim từ nhiều góc cạnh khác nhau. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì dù chỉ dài khoảng 60 phút, nhưng phim truyền tải một lượng thông tin khổng lồ về cơ cấu quyền lực nhất của chính quyền CSVN: Chế độ độc tài công an trị dưới thời ông đại tướng bộ trưởng công an Tô Lâm.
- Trump: 1.100 người Afghanistan (cựu lính Afghan từng chiến đấu bên lính Mỹ) và vợ con hoặc phải về Afghanistan hoặc phải đi định cư ở Congo (thuyền nhân Việt may mắn vì không gặp Trump). - Trump chửi mắng các Thẩm phán Cộng Hòa ở Tòa Tối Cao không chịu đoàn kết, vì đã tát vào mặt nước Mỹ khi đòi Trump bồi hoàn thuế quan.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.