Hôm nay,  

Như Nhiên Vốn Không Tịch

11/12/202517:26:00(Xem: 7823)
blank

Như Nhiên Vốn Không Tịch

Nguyên Giác
 

Có rất nhiều chữ rất khó để hiểu cho tận tường trên đời này. Và khi gặp chữ khó hiểu, tất nhiên là chuyện dịch từ Anh sang Việt, hay từ Việt sang Anh sẽ rất khó chính xác. Bởi vì, khi những chữ có nhiều nghĩa được chọn dịch theo một nghĩa, hẳn là các nghĩa khác sẽ bị thiếu sót. Trong đó, có chữ “tâm” tưởng là dễ dịch, nhưng hóa ra lại là chữ gây ra vô cùng gian nan. Thêm nữa, tại sao các Thiền sư ưa nói “ba cõi là tâm,” hay nơi khác lại nói, “vạn pháp duy tâm.” Chữ đã khó, mà nghĩa lại càng khó vô cùng tận.
 

Tôi yêu thích các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam khi họ làm thơ và hiển lộ những cách biểu hiện khác. Quý ngài nói rằng tâm là Phật, và không bận tâm lý luận dài dòng. Trong khi chúng ta đọc các văn bản đời nay, các phân tích rất phức tạp, có khi dễ làm rối rắm (trên nguyên tắc là để làm dễ hiểu) thêm. Thí dụ, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài thơ Phật Tâm Ca, chỉ nói về tâm, và không bàn chuyện “căn, trần, thức... uẩn, xứ, giới...” hay bất kỳ những gì thiếu chất thơ.
 

Ngay ở những câu đầu của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài thơ này đã nói thẳng những gì nhà thơ thấy, theo bản dịch của Thầy Thanh Từ:

Phật! Phật! Phật! không thể thấy!

Tâm! Tâm! Tâm! không thể nói!

Khi tâm sanh tức là Phật sanh,

Bằng Phật diệt là lúc tâm diệt.

Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu,

Diệt Phật còn tâm bao giờ hết.
 

Hiển nhiên là khó. Phật mà là tâm? Mà sao tâm là Phật? Chúng ta thấy rõ, Tuệ Trung Thượng Sĩ không giải thích rõ. Vậy còn, tâm tham, tâm sân, tâm si... và vô lượng tâm của ba thời. Bởi vì tâm là một chữ nói về tất cả các hoạt động nơi thân tâm chúng ta, như suy nghĩ, cảm thọ, nhận biết, tưởng tượng, ghi nhớ, gợi nhớ, ý định, ý chí.... Vậy thì, tâm nào là Phật, tâm nào không phải Phật? Để rồi tới một chỗ, Tuệ Trung Thượng Sĩ mới viết:
 

Muốn cầu tâm, chớ tìm ngoài,

Bản thể như nhiên vốn không tịch.

Thực tế, ngài giải thích như thế cũng còn khó hiểu kinh khủng. Nếu không đủ vốn học Phật và không có nhiều năm ngồi cho mòn bồ đoàn, chúng ta có thể sẽ níu theo chữ và thắc mắc: nếu gốc là không, rồi lại tịch nữa, thì sao biết có cái gì là như nhiên.
 

Bây giờ chúng ta nói về Kinh Pháp Cú. Hai bài kệ đầu Pháp Cú là nói về Tâm, ý, thức... Bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau, nơi đây chúng ta viết theo văn xuôi cho dễ đối chiếu:

 1. "Ý dẫn đầu các pháp / Ý làm chủ, ý tạo / Nếu với ý ô nhiễm / Nói lên hay hành động / Khổ não bước theo sau / Như xe, chân vật kéo ".       

2. "Ý dẫn đầu các pháp / Ý làm chủ, ý tạo / Nếu với ý thanh tịnh / Nói lên hay hành động /An lạc bước theo sau / Như bóng, không rời hình ". (1)
 

Ý là gì của tâm? Có phải ý là suy nghĩ (think)? Hay là ý định (intent)? Hay là ý chí (will)? Trong thơ, tất nhiên phải ngắn gọn, không giải thích. Nhưng cách dịch của các vị sư khác cũng có chỗ bất đồng. Nơi đây, chúng ta xem các bản Anh dịch của các nhà sư, học giả nổi tiếng quốc tế.
 

Ngài Sujato dịch: Intention shapes experiences (Ý định dẫn tới các trải nghiệm).

Ngài Suddhāso dịch: All things are preceded by the mind (Tâm dẫn đầu các pháp).

Ngài Ānandajoti dịch: Mind precedes thoughts, mind is their chief (Tâm dẫn tới suy nghĩ, tâm là chủ...)

Ngài Ācāriya Buddharakkhita dịch: Mind precedes all mental states. Mind is their chief (Tâm dẫn tới các trạng thái của tâm. Tâm là chủ...)

 Ngài Peter Feldmeier dịch: All phenomena are preceded by the mind (Đi trước tất cả hiện tượng là tâm) 

Ngài Thanissaro dịch: Phenomena are preceded by the heart, ruled by the heart (Tâm [trái tim] dẫn tới các hiện tượng...)
 

Tóm lại, chúng ta thấy có những cách khá dị biệt để dịch chữ tâm nơi đây. Trong đó, có chữ “heart” và  “mind” là mơ hồ, tổng quát. Nhưng dịch là “intention” có hàm ý là dẫn tới nghiệp, vì khi có ý định, khi cố ý làm gì đó, thì sẽ gây ra nghiệp. Còn khi dịch đơn giản là “tâm” hay “mind” hay “heart” thì không chắc đã hàm ý gây nghiệp. Dĩ nhiên, tất cả các dịch giả đều đúng. Chữ nghĩa không bao giờ diễn dịch cho toàn hảo. Thí dụ, khi chúng ta nhìn lên bầu trời xanh, tìm cho đúng chữ “xanh” để mô tả thì bất khả, vì xanh thì có vô lượng màu xanh.
 

Khi quý ngài học giả đã có những cách dịch dị biệt nhau, tôi là bậc hậu sinh và học kém, tất nhiên phải dựa trên quý ngài, và phải lựa chọn cách nào mình thấy ưng ý nhất.
 

Tuy nhiên, khi nói về phẩm tính “tỉnh thức” của tâm, thường chữ này được quý Thầy tách ra để nói rõ, nói cụ thể. Thí dụ, bài Kệ 218 của Pháp Cú, bản dịch của Thầy Minh Châu là:

218. "Ước vọng pháp ly ngôn / Ý cảm xúc thượng quả / Tâm thoát ly ác dục,/ Xứng gọi bậc Thượng Lưu."

 Pháp ly ngôn là pháp giải thoát, không còn dùng ngôn ngữ để nói tới. Bản dịch của Thầy Minh Châu nhiều chữ Hán Việt, nên còn khó hiểu. Nhưng bản dịch của ngài Sujato dễ hiểu hơn:

One eager to realize the ineffable would be filled with awareness. Their mind not bound to pleasures of sense, they’re said to be heading upstream. (Người khao khát thấu hiểu điều không thể diễn tả bằng lời sẽ tràn đầy nhận biết tỉnh thức. Tâm họ không bị buộc vào thú vui giác quan, họ đang hướng lên thượng nguồn.)
 

Như thế, Thầy Minh Châu mô tả các trạng thái của tâm trong bài kệ 218 là: ước vọng, ý cảm xúc, tâm thoát ly. Trong khi ngài Sujato viết là: eager, awareness, mind not bound.

Nghĩa là, nên hiểu theo quý ngài xưa thường nói, “được ý thì quên lời.” Còn chấp vào chữ để bẻ nát chữ ra, thì sẽ thấy tay mình vấy mực mà chữ không toàn vẹn nữa. Viết như trên để nói rằng quý Thầy Tam Tạng pháp sư, đại dịch giả còn dùng chữ không hoàn toàn thống nhất, trong khi bản thân tôi là người sơ học, chỉ lặng lẽ học, đọc, nghiên cứu và không hề dám so đo gì khác.
 

Nói như thế cũng để nêu lên các nỗ lực gian nan khi tìm hiểu rằng phiền não khởi lên từ đâu và thế nào, rằng tâm chấp ngã ẩn núp nơi đâu, lấp ló chỗ nào và khi nào. Và nếu không nhìn tận tường tâm mình, thì sao thấy được bản nhiên không tịch được.

Bây giờ chúng ta nhìn lộ trình này. Khi nhìn thấy nụ hoa, thì sắc uẩn là mắt nhìn (căn) và cái được thấy là nụ hoa (trần), thức sẽ khởi lên nhận biết rằng có cái được thấy, và tưởng là xác định rằng cái được thấy là nụ hoa; lúc đó thọ khởi lên hoặc ưa thích, hoặc ghét bỏ, hoặc trung tính không ưa, không ghét. Lúc đó, hành sẽ khởi lên, dẫn tới ý định (như ưa thích, muốn ngắt bông hoa đưa về cắm bông) hay gì đó. Chữ ý định (intention) là chữ mà Thầy Sujato dịch cho câu đầu trong bài kệ số 1 của Kinh Pháp Cú. Và ý định chính là nghiệp phiền não, nghiệp sinh tử luân hồi.
 

Do vậy, Đức Phật dạy trong Kinh SN 18.7 rằng phải xa lìa tất cả các ý định đối với cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc và được tư lường (a learned noble disciple grows disillusioned with intention regarding sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas). Nghĩa là, không muốn, không ưa, không ghét, và tỉnh thức thấy rằng vì ý định là vô thường nên không có gì cần phải ý định.


 

Một cách khác, bởi vì chúng ta nghĩ rằng có cái gọi là mắt, có cái gọi là hoa... nên thế giới tập khởi. Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.91 rằng phải vô niệm, phải xa lìa tư lường, đừng nghĩ ngợi rằng abc hay xyz... và đó là giải thoát. Kinh này viết, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

"Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của ta”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của ta”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức … Chớ có nghĩ đến nhãn xúc … Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc... [Chớ có nghĩ tới tai... mũi... lưỡi... thân... ý... cho đến uẩn, giới, xứ...] Vị ấy không nghĩ đến như vậy nên không chấp thủ một cái gì trong đời. Do không chấp thủ nên không có dao động. Do không có dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. (2)
 

Tuy nhiên, tập khởi ái đôi khi là tự nhiên, bởi vì tập khí nhiều đời. Đức Phật dạy rằng ngay khi thấy, là ly tham liền, thì đó là giải thoát. Trong Kinh SN 12.43, Đức Phật giải thích về đoạn diệt khỏ, theo bản dịch Thầy Minh Châu:

 

"Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt? Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.[tương tự với tai, mũi, lưỡi, thân, ý]"(3)
 

Thực tế, không hề có cái gì gọi là thế giới, mà chỉ có thể nói có thế giới là duyên từ các căn khởi lên. Nghĩa là, thế giới là từ tâm khởi lên. Chúng ta từ vô lượng kiếp chấp rằng có ta, có người, có thế giời... Tuy nhiên, Đức Phật nói rằng tất cả không có chuyện có thế giới hay không có thế giới, mà tất cả chỉ là duyên theo mắt, tai, mũi. lưỡi, thân, ý... Kinh SN 35.68, bản dịch của Thầy Minh Châu ghi lời Đức Phật:
 

“… “Thế giới, thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thế giới, hay là danh nghĩa thế giới?

—Chỗ nào, này Samiddhi, có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới, hay danh nghĩa thế giới … (như trên) … Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới hay có danh nghĩa thế giới.

Và tại chỗ nào, này Samiddhi, không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có thế giới, hay không có danh nghĩa thế giới … không có ý … tại chỗ ấy, không có thế giới hay không có danh nghĩa thế giới.”(4)

Tới đây, hiển nhiên là Đức Phật muốn nói vạn pháp là do tâm hiển lộ. Ba cõi là tâm... hiển nhiên là nghĩa bí ẩn vô cùng. Đơn giản là, ngoài thế giới chúng ta kinh nghiệm, sẽ không có thế giới nào khác. Như thế, giác ngộ với giải thoát phải là ngay ở nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý, không dựa vào chỗ nào khác.

Trong Kinh SN 35.23, Đức Phật dạy rằng: “—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!” (5)

Tới đây chúng ta hỏi thêm, tại sao các Thiền sư ưa nói về Không. Ngay trong Kinh Nhật Tụng là có bài Bát Nhã Tâm Kinh, và nói rất minh bạch rằng Sắc (cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm xúc, tư lường) chính là Không. Ngay đó là không. Và ngay nơi Không cũng là thế giới hóa hiện. Dò lại Kinh điển, Đức Phật cũng từng nói như thế. Nói y hệt như thế.
 

Khi chúng ta dẫn ra giải thích của Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám sẽ thấy dễ hiểu hơn, cụ thể rằng cái bàn trước mắt chính là không, là vô ngã, là do duyên hình thành, không bấu víu vào đâu để nói là có. Dẫn ra trường hợp cái bàn, cụ Lê Đình Thám viết, trích: “Ví dụ như một cái bàn, nó cũng pbải đủ Nhơn đủ Duyên rồi mới thành cái bàn được. Nhơn của cái bàn tức là các thứ gỗ; gỗ lim thi đóng thành bàn lim, gỗ kiền-kiền thì đóng thành bàn kiền-kiền, nhơn với quả tụy có khác, nhưng cũng đồng một tánh-cách, hễ gỗ lim thì đóng thành bàn lim, chớ không thể nào đóng thành bàn kiền-kiền được. Song một mình gỗ cũng không đủ làm thành cái bàn, muốn đóng cho thành được cái bàn, lại cần phải có nhơn-công cưa, xẻ, bào, chuốt, ráp mộng, ghép ván nữa, những nhơn-công kia đều là những trợ duyên giúp đỡ cho cái nguyên-nhơn gỗ tạo thành ra cái bàn vậy. Chúng ta xét như trên thì biết cái bàn là một vật do nhơn-duyên sanh ra, tức là một cái nhơn-duyên-sở-sanh pháp. Vậy những nhơn duyên-sở-sanh pháp thiết-thiệt là thế nào? Đáp lại câu hỏi ấy, chúng ta nên lập câu kệ thứ hai, tức là câu: "Ngã thuyết tức thị không". Ngã thuyết tức thị không, nghĩa là tôi nói các nhơn duyên-sở sanh pháp kia tức là chơn không.”
 

Trong khi đó, Đức Phật không cần dài dòng. Đức Phật nói đơn giản rằng mọi thứ đều không có cái gì để gọi là cái gì. Trong Kính SN 35.85, Đức Phật dạy:

“Ānanda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ānanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã? Mắt, này Ānanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã. Và vì rằng, này Ānanda, không có tự ngã, hay không thuộc tự ngã nên được gọi trống không là thế giới này.” (6)
 

Và vì thế giới trống không, vì mắt tai mũi lưỡi thân ý đều trống không, vì sắc thọ tưởng hành thức đều là trống không... cho nên đúng như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói rằng bản nhiên là không và tịch.
 

Tuy rằng, ba cõi là tâm, nhưng giải thoát là, theo ngài Tuệ Trung:

Muốn cầu tâm, chớ tìm ngoài,

Bản thể như nhiên vốn không tịch.

Nơi đó đó, không đâu xa, rất gần đó, ngay trước mắt và ngay bên tai.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh Pháp Cú. Thầy Minh Châu. https://thuvienhoasen.org/p15a7961/pham-01-10

(2) Kinh SN 35.91: https://suttacentral.net/sn35.91/vi/minh_chau

(3) Kinh SN 12.43: https://suttacentral.net/sn12.43/vi/minh_chau 

(4) Kinh SN 35.68: https://suttacentral.net/sn35.68/vi/minh_chau

(5) Kinh SN 35.23: https://suttacentral.net/sn35.23/vi/minh_chau

(6) Kinh SN 35.85: https://suttacentral.net/sn35.85/vi/minh_chau

  

 

 




Bộ Nội An Hoa Kỳ vừa đề nghị lệ phí tăng cao lệ phí xin nhập tịch, một bước mới trong chính sách di trú cứng rắn của chính quyền Trump, không chỉ đối với di dân bất hợp pháp, mà cả con đường di trú hợp pháp. Theo đề nghị đăng trên Công Báo Liên Bang, lệ phí nộp Mẫu N-400 để xin nhập tịch bằng giấy sẽ tăng từ 760 đô-la lên 1,330 đô-la. Như vậy, mỗi hồ sơ phải trả thêm 570 đô-la, tức tăng 75%.
Luật di trú tại điều INA 245(a) quy định rằng một người đã được phép nhập cảnh hợp pháp vào Hoa Kỳ theo diện tạm thời, và nếu tình trạng đó vẫn còn hiệu lực, có thể nộp đơn xin Điều Chỉnh Tình Trạng (AOS). Một số luật sư di trú tin rằng bản ghi nhớ chính sách mới của Sở di trú đã đi ngược lại luật này, vì bản ghi nhớ khuyến khích các viên chức hướng người nộp đơn sang thủ tục lãnh sự thay vì cho phép điều chỉnh tình trạng bên trong Hoa Kỳ.
Việc làm chủ một căn nhà tại Hoa Kỳ nay không còn là chuyện dễ dàng như trước. Chi phí đủ loại — từ tiền trả góp, tiền lời, thuế nhà đất, bảo hiểm cho đến tiền tu bổ, sửa sang — đều đồng loạt tăng mạnh trong những năm gần đây. Theo các số liệu khảo cứu, vào năm 2019, một người mua nhà trung bình phải chi khoảng 20.000 đô-la mỗi năm cho những khoản căn bản. Đến năm 2025, con số này đã vượt quá 28.500 đô-la, tăng gần 40%, nhanh hơn cả đà tăng giá sinh hoạt nói chung. Đáng chú ý nhất là các khoản chi phụ trội. Tiền bảo hiểm nhà tăng hơn 70%. Chi phí tu bổ, sửa chữa thường xuyên tăng gần gấp đôi. Riêng những khoản sửa chữa bất ngờ còn tăng vọt, có nơi lên đến gần gấp ba. Trong khi đó, tiền lời vay và thuế nhà đất cũng lần lượt leo thang.
Ngày 18 Tháng Sáu, 2026, công tố liên bang tại Minneapolis bất ngờ xin bãi bỏ truy tố đối với Paul Johnson, một nhà hoạt động cấp tiến lâu năm, sau khi ông tố cáo các nhân viên liên bang đánh ông, bắt giữ ông trong một cuộc biểu tình chống ICE, rồi để ông bị còng vào giường bệnh nhiều ngày trước khi chính thức truy tố. Johnson bị bắt hồi Tháng Giêng, trong lúc theo dõi xe của các nhân viên di trú tại Minneapolis để báo cho cộng đồng di dân biết sự hiện diện của ICE. Theo hồ sơ tòa, ông nói các nhân viên liên bang đã chặn xe ông, đập cửa kính, đánh ông nhiều lần, rồi đưa ông tới bệnh viện Hennepin County Medical Center.
Trong một buổi đi thực địa với lớp học vào cuối tháng Tư vừa qua, cậu bé Henrik Refsnes Mørtvedt, 6 tuổi, đã tình cờ nhìn thấy một vật lạ nhô lên khỏi mặt đất trên cánh đồng ở miền nam Na Uy. Nhiệm vụ hôm đó của lớp là lượm đá mang về làm thủ công, nhưng Henrik lại chú ý đến một mảnh kim loại rỉ sét lộ ra trên mặt ruộng. “Chỉ thấy phần này trồi lên,” cậu kể lại với phóng viên Astrid Hexeberg, báo Hadeland, vừa chỉ vào phần chuôi. “Toàn rỉ sét và đất. Cháu nghĩ nhặt lên xem coi đó là gì.” Cái “mảnh kim loại” ấy hóa ra là một thanh kiếm sắt cổ, lưỡi đơn, được bảo tồn khá tốt, niên đại ước chừng 1.200 năm. Theo giới chuyên môn, loại kiếm này thuộc nhóm ‘enegget’ – một loại kiếm lưỡi một bên, xuất hiện tại Na Uy vào giai đoạn chuyển tiếp sang thời Viking, phát triển từ những con dao chiến đấu và dao săn nhỏ gọi là seax.
Với phong độ hiện nay, đội Mỹ có nhiều khả năng đi tiếp vào vòng 16. Trận Brazil – Nhật Bản hứa hẹn sẽ hấp dẫn, là trận đối đầu giữa đội “Brazil Châu Á” và đội “Brazil thứ thiệt” dù mạnh nhưng lối đá không còn đẹp mắt như ngày xưa.
Một số cuộc bầu cử sơ bộ cho thấy nhiều cử tri Dân Chủ đang hướng về ủng hộ những ưng cử viên có khuynh hướng dân chủ xã hội (democratic socialism, còn gọi tắt là chủ nghĩa xã hội, socialism), một khuynh hướng nghiêng nhiều về tả, và làm lo sợ giới cử tri Dân Chủ trung dung, vì họ lo sợ khi tuyển cử tháng 11/2026 khuynh hướng nghiêng về tả sẽ làm dị ứng đối với đa số cử tri độc lập và trung dung, nghĩa là không đủ phiếu để thắng Cộng Hòa.
Đọc Vũ Hoàng Thư có thể bắt đầu từ một điểm rất nhỏ: một ảnh tượng vừa hiện ra trước khi nó trở thành ý nghĩa. Ở đó, ĐÂY LÀ X không phải là công thức lý thuyết đặt lên văn chương, mà là cú pháp căn bản của nhận thức khi đi vào chữ. ĐÂY là một xúc chạm: cỏ, ve, sương, hoa, tiếng kèn, con thuyền, ánh trăng. LÀ là trường hiện ra của xúc chạm ấy, nơi cái thấy vừa đủ ổn định để được nhận ra. X là con chữ được đặt xuống
Chuyện rất buồn. Theo báo Korea Herald: Một nữ sinh viên Việt Nam lãnh án 10 năm tù vì bỏ rơi bé sơ sinh, làm em bé chết. Một nữ sinh viên đại học người Việt Nam đã bị tòa án tại Seoul tuyên phạt 10 năm tù vì hành vi bỏ rơi đứa con mới chào đời gần Đại học Dongguk vào năm ngoái, dẫn đến cái chết của trẻ.
kết quả điều tra cho thấy các máy bỏ phiếu tại Mỹ an toàn, không một phiếu nào lỗi, trái ngược lời Trump vu khống bầu cử bị gian lận. - Trump sẽ có thể chờ tới gần tháng 11, tịch thu các máy bỏ phiếu ở các tiểu bang hay ở các địa hạt Dân Chủ lấy cớ điều tra, nghĩa là hủy bỏ bầu phiếu sớm ở các nơi này và buộc các nơi này in phiếu giấy để sẽ phải đếm bằng tay
• Tối Cao Pháp Viện Cho Phép Trump Chặn Người Xin Tỵ Nạn Ngay Trước Biên Giới; Cùng Lúc Chấm Dứt Bảo Vệ Tạm Thời Cho Di Dân Haiti, Syria, Hàng Trăm Ngàn Người Tị Nạn Đối Diện Nguy Cơ Bị Trục Xuất • Hai Trận Động Đất Lớn 7.2 và 7.5 Tại Thủ Đô Venezuela, Ít Nhất 164 Người Chết, Gần 1.000 Người Bị Thương • Tối Cao Pháp Viện Bác Luật Giới Hạn Súng Trên Tư Gia Ở Hawaii • Thượng Viện Cộng Hòa Trở Về Hàng Ngũ Trump Trong Cuộc Chiến Iran • Lạm Phát Tăng Tốc Trong Tháng Năm Do Chiến Tranh Iran • Thẩm Phán Liên Bang Chặn Điều Kiện Chứng Minh Quốc Tịch Khi Ghi Danh Bầu Cử Của Trump • Fox & Friends Chỉ Trích Hegseth Vì Ép Tướng Donahue Về Hưu Sớm • Trump Hoãn Ký Luật Nhà Ở Gây Áp Lực Lên Quốc Hội • Bưu Điện Mỹ Dọa Ngưng Chuyển Phiếu Bầu Qua Thư Ở Các Tiểu Bang Không Nộp Dữ Liệu Cử Tri • Ukraine Đánh Trúng Nhà Máy Khí Đốt Lớn Và Trung Tâm Vệ Tinh Quân Sự Của Nga • Khảo Sát Mới: Người Mỹ Bị Lừa Đảo Dồn Dập Nhưng Ít Báo Cáo • Cổ Động Viên Mexico Lại Hô Khẩu Hiệu Kỳ Thị Đồng Tính...
- Tướng Donahue là lính Mỹ cuối cùng rời Afghanistan vào khuya ngày 30/8/2021, được 2 đảng và lính ca ngợi là chiến binh xuất sắc nhất ở mọi cấp độ. - Vợ của quan chức Nhà Trắng chụp mũ Tướng Donahue là không đủ trung thành.
Các cuộc khảo sát trên khắp Mỹ Latin cho thấy 67% người được hỏi xem tình trạng mất an ninh là quan trọng nhất, trên cả vấn đề dân chủ, pháp lý, nhân quyền. Các nền dân chủ đang thất bại trong việc đưa ra các giải pháp cho vấn đề này. Có vẻ như những gì đang xảy ra với nền chính trị Hoa Kỳ cũng là khuynh hướng của một số các nước láng giềng phương Nam.
Bản tin sau đây của báo South China Morning Post: Vì sao "lối đi vòng" qua Việt Nam của hàng hóa Trung Quốc xuất sang Mỹ đi vào ngõ cụt? Liệu có thể tìm thấy một "bến đỗ" an toàn khác tại Việt Nam, hay việc cố gắng làm vậy chỉ là hành động viển vông đối với các doanh nghiệp Trung Quốc đang muốn đi trước một bước so với ông Trump và né tránh thuế quan?
Những buổi cầu nguyện trong im lặng, những biểu ngữ phản đối với lời lẽ thận trọng và những chiếc áo phông kêu gọi giữ lại khu dân cư – người dân Hà Nội đang thể hiện sự phản đối công khai hiếm hoi đối với một dự án tái phát triển quy mô lớn có thể khiến hàng trăm nghìn người phải di dời.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.