Hôm nay,  

Có thể tái sinh như nguyện?

10/04/202614:03:00(Xem: 2808)
blank

Có thể tái sinh như nguyện?
 

Nguyên Giác
 

Phật Giáo Tây Tạng nói rằng có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện, và chuyện đó xảy ra rất bình thường. Nghĩa là, vị tôn giả đó không bị nghiệp lôi kéo, mà chính vị đó có thể chủ động được ý nguyện tái sinh để tiếp tục học pháp hay hoằng pháp. Thí dụ, ngài Đạt Lai Lạt Ma, hay một số vị tăng trưởng và ni trưởng đã có năng lực tâm mạnh như thế. Và khi có một vị tôn túc Phật Giáo Tây Tạng được nói là tái sinh tới hoẳng pháp tại Việt Nam, câu chuyện này lại sôi nổi dư luận. Câu hỏi chúng ta nêu ra trong bài này là: Trong các kinh sơ kỳ -- trong các tạng Kinh Nikaya và Kinh A Hàm -- đã nói như thế nào về các trường hợp tái sinh như nguyện?
 

Chúng ta có thể thấy các Kinh Bản Sanh (Jataka) trong nhóm Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) đã ghi lại nhiều kiếp trước của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cho thấy một chúng sinh hữu tình (vị Bồ Tát) chủ động lựa chọn các kiếp tái sinh nhằm hoàn thiện những phẩm hạnh Ba-la-mật cụ thể để rồi sau cùng thực hiện sứ mệnh giáo hóa thế gian. Tuy nhiên, phần rất lớn trong Kinh Bản Sanh được viết xuống vào khoảng ba thế kỷ sau khi Đức Phật viên tịch, cho nên có thể có một phần sai lạc vì trí nhớ truyền lại không chắc là chính xác.
 

Dò lại kinh trong các bộ Nikaya tiếng Pali và Agama tiếng Hán, chúng ta thấy Đức Phật nói rằng sự tái sinh thường được mô tả là do nghiệp và sự tham ái chi phối. Tuy nhiên, có một số trường hợp cụ thể mà Đức Phật mô tả cách một người có thể định hướng sự tái sinh của chính mình thông qua ý chí (cetana) và nguyện vọng (patthana), với điều kiện là họ đã có sẵn nền tảng tu dưỡng đạo đức cần thiết.
 

Chúng ta thấy rằng, Đức Phật dạy trong Kinh AN 4.55 về trường hợp hai vợ chồng muốn kiếp sau cũng gặp lại nhau thì phải tu dưỡng tương đồng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

“Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.”(1)
 

Như thế, cho dù là cư sĩ, hai vợ chồng này cũng  phải có năng lực tu dưỡng để cùng có tín tâm vào Tam Bảo, cùng giữ giới luật nghiêm túc (bản dịch Bhikkhu Bodhi: same virtuous behavior), cùng có tâm bố thí cúng dường rộng rãi (same generosity), và cùng đẳng cấp trí tuệ (same wisdom) thì kiếp sau hai người sẽ gặp nhau nơi cõi trời (delighting after death in a deva world). Chứ không phải gặp nơi cõi người, bởi vì tín, giới, thí, tuệ siêu đẳng như thế tất nhiên là lên cõi trời gặp nhau.

 Trong Kinh MN 120, Đức Phật cũng dạy cụ thể về tái sinh như nguyện để một người có thể trong kiếp sau được sinh vào một cảnh giới mà người đó muốn  --- Kinh MN 120 ghi rõ lời Đức Phật dạy cho người muốn tái sinh vào trong đại gia tộc Sát đế lỵ, hay trong đại gia tộc cư sĩ, hay trong các cõi chư Thiên, hay sẽ giải thoát ngay trong kiếp này.
 

Đức Phật dạy trong Kinh MN 120, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn (suta), đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy nghĩ như sau: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh cọng trú trong đại gia tộc Sát đế lỵ!” Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Những hành ấy của Tỷ-kheo được an trú, tu tập, làm cho sung mãn như vậy đưa vị ấy thọ sanh tại chỗ ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là đạo, đây là lộ trình đưa đến tái sanh tại chỗ ấy.” (2)
 

Đoạn văn trên. Tiếp theo, cũng lặp lại với ý nguyện muốn tái sinh nơi khác, nơi các cõi cao hơn, nơi các cõi trời, vân vân. Điều kiện là phải tu dưỡng tín, giới, văn, thí, tuệ.

Đức Phật cũng nói về các trường hợp tinh tấn tu học để kiếp sau sẽ tu thêm tới nơi giải thoát. Cụ thể, đó là các vị tinh tấn tu cho tới bậc Thánh quả Bất Lai (A na hàm). Thí dụ, trong hai Kinh AN 4.123 và Kinh AN 4.124, Đức Phật nói về các vị tu tới các bậc trong Tứ thiền. Nơi đây, chúng ta ghi lời Phật dạy trong Kinh AN 4.124, bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly ác pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu.” (3)
 

Một trường hợp rất đặc biệt, nơi đây cho thấy có thể là cội nguồn của truyền thống Bắc Tông, khi lời đại nguyện được tuyên thuyết. Kinh AN 3.103, ghi lời Đức Phật kể lại về những kiếp trước, khi Ngài còn là Bồ Tát, Ngài đã khởi quyết tâm lúc đó là phải tu tới mức giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, theo bản dịch Thầy Minh Châu, trích:
 

“Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt ở đời? Cái gì là nguy hại, cái gì là xuất ly?”. Rồi này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi lên nơi ta: “Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt ở đời. Cái gì ở đời là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hại ở đời. Điều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục, đấy là xuất ly ở đời”. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.” (4)
 

Tuy nhiên, chúng ta không nên chấp rằng có một “cái tôi” hay một “cái tự ngã” nào trong hiện tượng tái sinh. Hãy hình dung như Kinh dạy rằng, khi lửa ngọn nến này tắt, lửa truyền sang ngọn nến khác, và hai ngọn lửa của ngọn nến trước và của ngọn nến sau không phải là một và cũng không phải là khác.

Trong Kinh Milinda Vấn Đạo (trong các bản dịch cổ tương tự, một bản phổ biến dịch là Kinh Na Tiên Tỳ Kheo), Trưởng lão Nagasena trả lời nhà vua về chuyện tái sinh, trích bản Việt dịch của ngài Bhikkhu Indacanda như sau:
 

“Đức vua Milinda đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người đi tái sanh thì cũng chính là người ấy, hay là người khác?”

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Không phải là người ấy, mà cũng không phải là người khác.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Khi đại vương còn nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa, có phải chính đứa bé ấy là đại vương hiện nay đã được trưởng thành?”

“Thưa ngài, không phải. Đứa nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa ấy là khác, trẫm hiện nay trưởng thành là khác.”

“Tâu đại vương, trong khi là như vậy thì cũng sẽ không có người gọi là ‘mẹ,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘cha,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘thầy,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘nghệ nhân,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘bậc giới đức,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘bậc trí.’ Tâu đại vương, phải chăng người mẹ của bào thai mới tượng là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ hai là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ ba là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ tư là khác, người mẹ của người con lúc bé là khác, người mẹ của người con trưởng thành là khác, người học nghề là người khác, người thạo nghề là người khác, người làm việc ác là người khác, người có tay chân bị chặt là người khác?”

“Thưa ngài, không phải. Thưa ngài, nếu được nói như vậy thì ngài có thể đáp lại điều gì?”

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, chính tôi đã là đứa nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa, chính tôi hiện nay đã được trưởng thành, tất cả các sự việc ấy được tổng hợp chung lại nương vào chính thân xác này.”” (5)
 

Nhìn chung, có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện đã được nói trong các kinh sơ kỳ, thí dụ, như trường hợp vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa (tên khai sanh của Đức Phật Thích Ca) là bà Da-du-đà-la (Yaśodharā) và tôn giả La Hầu La (Rahula) đều có mật nguyện tái sinh nhiều đời với Đức Phật.

Thực tế, không phải ai cũng có năng lực để tái sinh như nguyện. Đức Phật đã nói rằng muốn chủ động tái sinh như nguyện là phải tu ráo riết về tín, giới, thí, văn (học Chánh pháp), tuệ. Nhưng chắc chắn rằng đã có nhiều vị tái sinh như nguyện.
 

Nhiều thập niên trước, bổn sư của tôi là cố Hòa Thượng Tịch Chiếu (chùa Tây Tạng Bình Dương) dạy tôi rằng khi đi ra ngoài phố, ngay cả khi thấy một thiếu niên, cũng nên đối xử như gặp một vị đạo cao đức trọng tái sinh. Tôi vẫn luôn giữ thái độ đó với bất kỳ ai trong đời, ngay cả với những người đã từng làm tôi không vui. Không phải là hạnh phúc sao, khi tự thấy chúng ta đang đi đứng nói cười giữa những truyện được kể trong Kinh Phật.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 4.55: https://suttacentral.net/an4.55/vi/minh_chau  

(2) Kinh MN 120: https://suttacentral.net/mn120/vi/minh_chau  

(3) Kinh AN 4.124: https://suttacentral.net/an4.124/vi/minh_chau   

(4) Kinh AN 3.103: https://suttacentral.net/an3.103/vi/minh_chau   

(5) Kinh MMilinda Vấn Đạo: https://suttacentral.net/mil3.2.1/vi/indacanda   

 

 



Bộ Giao thông Vận tải California cũng phải đóng nhiều tuyến đường khác, đồng thời cảnh báo tình trạng trơn trượt cho người lái xe hơi. Cơ quan Thời tiết Quốc gia (National Weather Service) ở Reno, Nevada, cho biết trên Twitter: “Dự kiến ​​việc đi lại sẽ bị hạn chế rất nhiều trên tất cả các tuyến đường. Hôm nay là kiểu ngày mà nếu có thể, quý vị chỉ nên ở nhà. Sắp tới tuyết sẽ còn dày hơn!”
Cơ Quan Giám Sát Thực Phẩm và Thuốc Men Hoa Kỳ (FDA) gần đây đã phê duyệt hai loại thuốc điều trị COVID-19, một của Pfizer và một của Merck, nhưng các chuyên gia cho biết những viên thuốc này sẽ cần có sự theo dõi cẩn thận của bác sĩ và dược sĩ, theo trang TheHill đưa tin ngày Chủ Nhật, 26 tháng 12 năm 2021. Theo trang NBC, Paxlovid của Pfizer được cho phép để sử dụng cho trẻ em từ 12 tuổi trở lên và cho người có bệnh lý nền mãn tính như bệnh tim hoặc tiểu đường. Tuy nhiên, trong thuốc có một thành phần có thể tương tác rất mạnh với các loại thuốc có chứa chất làm loãng máu, statin (nhóm thuốc làm hạ cholesterol trong máu) và thuốc trị trầm cảm, gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng và đe dọa tính mạng.
Viễn Vọng Kính quan sát trị giá 10 tỉ đô la đã lao về đích đến 1 triệu dặm (1.6 triệu kilometers), hay là xa hơn gấp 4 lần bên kia mặt trăng. Nó sẽ mất 1 tháng để tới đó và thêm 5 tháng nữa trước khi những con mắt hồng ngoại của nó sẵn sàng quét vào vũ trụ. Trước hết, tấm gương khổng lồ và tấm kính che nắng của viễn vọng kính cần mở ra; chúng được gấp lại theo kiểu origami của Nhật để vừa trong hình nón mũi hỏa tiễn. Nếu không, viễn vọng kính quan sát sẽ không thể quay ngược thời gian 13.7 tỉ năm như được dự kiến, chỉ trong 100 triệu năm kể từ khi vụ nổ Big Bang hình thành vũ trụ.
Đức Giáo Hoàng Francis hôm Thứ Bảy, 25 tháng 12 năm 2021, đã cầu nguyện cho sự kết thúc đại dịch vi khuẩn corona, sử dụng bài diễn văn Ngày Lễ Giáng Sinh của ngài để thúc giục việc chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người, thuốc ngừa cho người nghèo và đối thoại để giải quyết các xung đột trên thế giới, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Bảy. Giữa lúc gia tăng kỷ lục trong các trường hợp bị lây nhiễm Covid-19 tại Ý trong tuần này, chỉ vài ngàn ngừa đứng dưới mưa tại Quảng Trường Thánh Peter để nghe diễn văn Lễ Giáng Sinh gửi đi cho toàn thế giới hàng năm của Đức Giáo Hoàng Francis.
“Tuy thế, tôi vẫn tin rằng nếu nhà văn Nguyễn Văn Thọ cũng ‘đứng về phe nước mắt’ như vô số người cầm viết khác (thay cho cái thói ‘thượng đội hạ đạp’ cố hữu) thì chắc chắn ông sẽ tránh được rất nhiều điều tiếng hay búa rìu dư luận.” Đó là kết luận của nhà văn Tưởng Năng Tiến về một con người tuy mang tiếng là nhà văn nhưng rất điển hình cho thói xu thời, xu phụ trong xã hội Việt Nam thời nay. Mời đọc.
Trong bài giảng, Đức Giáo Hoàng Francis đã thúc giục tín đồ tập trung vào “sự nhỏ bé” của Chúa Jesus, và nhớ rằng Ngài sinh vào nơi nghèo khổ của thế giới này, không có ngay cả một chiếc nôi đàng hoàng. “Đó là nơi Chúa có mặt, trong sự nhỏ bé,” theo Đức Giáo Hoàng Francis giảng. “Đây là thông điệp: Chúa không vươn lên cao lớn, mà tự hạ mình xuống bé nhỏ. Sự nhỏ bé là con đường mà Ngài chọn để đến với chúng ta, để chạm vào trái tim của chúng ta, để cứu chúng ta và mang chúng ta trở lại với những gì quan trọng thực sự.”
Một sự kiện đặc biệt được bản tin Đài Á Châu Tự Do (RFA) ghi nhận trong bản tin phát đi hôm Thứ Sáu, 24 tháng 12 năm 2021, đã xảy ra trong phiên tòa phúc thẩm diễn ra tại tỉnh Hòa Bình, Miền Bắc VN, khi bà Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Dư đã hô to “đả đảo” Đảng CSVN khi hại bị cáo này nghe tòa tuyên bố y án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với mỗi người.
Hàng triệu người đang đối diện sự gián đoạn đi lại và các hạn chế Covid đã gia tăng vào Lễ Giáng Sinh, trong khi biến thể Omicron tăng lây lan chứng kiến nhiều chuyến bay bị hủy bỏ và các hạn chế vì an toàn đã siết chặt, theo BBC tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Sáu, 24 tháng 12 năm 2021.
Một Hiệp định Thương mại Tự do mới, bao gồm một phần ba nền kinh tế thế giới, sẽ loại bỏ 90% thuế quan giữa 15 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương và dự kiến sẽ thúc đẩy xuất khẩu trong khu vực thêm 42 tỷ USD. Thông tin mới nhất về Hiệp định này do tác giả Đỗ Kim Thêm phiên dịch. Mời đọc.
Tự tử ảnh hưởng đến nhiều người hơn là bạn có thể nghĩ. Trong năm 2020, có 45,800 người Mỹ đã tự sát. Tự tử là nguyên nhân thứ 11 dẫn đầu các nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ và là nguyên nhân thứ hai dẫn đầu cái chết đối với giới thanh niên. Người chết vì tự tử nhiều hơn người chết vì tai nạn xe, giết người hay ung thư vú mỗi năm tại Hoa Kỳ. Từ năm 1999 tới 2018, tỉ lệ tự tử đã gia tăng 35%. Những thống kê này thật ngạc nhiên, chúng chỉ cho thấy chút ít sự tàn phá mà tự tử đã để lại bên sau. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, đối với mỗi vụ tử tử, trung bình 135 người biết về nhân vật đó. Đó là 6 triệu người Mỹ mỗi năm bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự mất mát sinh mạng vì tự tử. Cùng với nỗi đau, nhiều người còn sống mất người thân tự tử cảm thấy tội lỗi. Họ tin rằng họ đã góp phần cho cái chết hay đã có thể ngăn cản được nó. Một số người trải qua suốt cuộc đời còn lại tự hỏi “Điều gì vậy?” Một nghiên cứu cho thấy rằng 92% các bậc cha mẹ là những người mất con em tự tử đã trải qua
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.