Hôm nay,  

Hành trình thơ của Huyền Không: Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc

14/04/202606:02:00(Xem: 3091)

Hành trình thơ của Huyền Không:

Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc
 

Nguyên Giác

 

Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời  nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.

Trong cơ duyên làm việc trong nghề báo, từ Tạp chí Giao Điểm cho tới Việt Báo, tôi đã nhiều lần hội kiến Thầy Mãn Giác, đã thưa hỏi nhiều chuyện về giáo hội, và văn hóa dân tộc. Bây giờ, Thầy Mãn Giác viên tịch đã gần tròn 20 năm. Và trong tuần vừa qua, tôi được trao tặng tuyển tập thơ "Kẻ Lữ Hành Cô Độc" của thi sĩ Huyền Không do nxb Phụ Nữ Việt Nam tái bản trong cơ duyên hội kiến Thượng Tọa Thích Minh Hải, vị trụ trì hiện nay của Chùa Việt Nam Los Angeles. 

Những độc giả quan tâm có thể nhớ rằng "kẻ lữ hành" không chỉ là một thi ảnh trong thơ của thi sĩ Huyền Không, mà cũng đã hiện lên cả trong một bài tham luận Thầy Mãn Giác từ Hoa Kỳ gửi về cho cuộc Hội Thảo Phật Giáo Trong Thời Đại Mới, Cơ Hội Và Thách Thức trong tháng 7/2006 do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn. Bài viết đó được Thầy gửi về Việt Nam ba tháng trước khi Thầy viên tịch.

Trong bài tham luận "Về một hướng đi của Phật giáo Việt Nam" gửi về cho sự kiện trên, Thầy Mãn Giác ghi nhận rằng Đức Phật và Thánh chúng cũng là những kẻ lữ hành, và Thầy kêu gọi trong bài viết, trích:
 

“Thứ nhất, kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường. Kinh nghiệm đó cho chúng ta hai bài học.

1.1. Một, bất hành bất thực. Phật và thánh chúng phải ôm bình bát đi xin mới có ăn.

1.2. Hai, Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng tìm đến Phật. Phật tìm đến quần chúng để được quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại cho quần chúng...” (ngưng trích)
 

Dưới mắt nhìn như thế của một Thiền sư lữ hành, nhà thơ Huyền Không đã thấy đời người chính thực là chiêm bao, nắng mưa, hạt mưa rơi, cuối trời mây bay... như trong bài Kiếp Người của tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc (KLHCĐ), trích:
 

 Đêm ngày qua lại chiêm bao

Nắng mưa là cảnh thuở nào xa xôi

Ba sinh nhớ chuyện luân hồi

Đưa tay đón nhận nổi trôi kiếp người

Sự đời như hạt mưa rơi

Ngàn năm sau nữa cuối trời mây bay.

(KLHCĐ, trang 329)
 blank                                   Bìa tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc

Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác đã được tôn vinh là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của Phật giáo Việt Nam hiện đại—một nhà sư mà cuộc đời Thầy là sự hòa quyện hài hòa giữa học thuật, thi ca và vai trò lãnh đạo tâm linh. Sinh năm 1929 tại miền Trung Việt Nam, Thầy xuất gia từ thuở thiếu thời và sớm nổi bật nhờ vào trí tuệ cũng như lòng tận tụy sâu sắc đối với Phật pháp. 

Trước năm 1975, Thầy Mãn Giác đã tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục Phật giáo tại Việt Nam; Thầy giảng dạy tại nhiều đại học và góp phần làm phong phú thêm đời sống trí thức cho một thế hệ đang nỗ lực dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Hành trình học thuật đã đưa Thầy đến Nhật Bản, nơi Thầy theo đuổi các bậc học cao hơn về triết học Phật giáo, một kho tàng giá trị mà sau này Thầy đã mang về để làm giàu thêm cho Phật giáo Việt Nam.

Ngoài vai trò là một nhà giáo dục, Thầy còn là một thi sĩ tài hoa. Thơ ca của Thầy là một kết hợp hiếm có giữa cảm thọ và tỉnh thức thâm sâu trong đời sống, khi ngồi thiền, khi tụng kinh và một chiều sâu triết lý về lẽ vô thường, lòng từ bi. Những vần thơ của Thầy ông được nhớ tới không chỉ vì vẻ đẹp văn chương, mà còn vì khả năng đơn sơ ghi lại những tuệ giác Phật giáo một cách giản dị và dễ tiếp cận đối với độc giả.

Như trong bài thơ Giao Thừa Tụng Kinh Pháp Hoa, nhà thơ Huyền Không viết vào Xuân Ất Hợi 1995, ghi lại hình ảnh Thầy ngồi giữa trăng sao, nhìn vào tâm soi rọi xem có vương chỗ nào, thấy vô lượng kiếp não phiền trôi qua, và rồi Thầy tụng Kinh Pháp Hoa, nhìn thấy trầm hương tám hướng bay về, trích:
 

Đèn khuya soi sáng Thiền Đường

Tâm ta soi sáng tâm vương chỗ nào

Đêm về ngồi giữa trăng sao

Ý thức đã chín ngọt ngào nằm yên

Rì rào gió lặng rừng thiêng

Biết bao nhiêu kiếp não phiền đi qua

Giao thừa ngồi tụng Pháp Hoa

Mặc cho thay đổi hằng sa nhiệm mầu

Cô đơn chìm với đêm sâu

Trầm hương tám hướng từ đâu bay về.

(KLHCĐ, trang 486-487)
 

Một điểm cũng nổi bật của Thầy Mãn Giác là thái độ dấn thân. Thầy không chỉ tụng kinh, ngồi thiền, thực hiện các bổn phận của một nhà sư trong tự viện, Thầy cũng nhập cuộc, Thầy cũng dấn thân vào đời, đem đạo Phật vào cuộc sống để phục vụ quần chúng. Theo nhận định của Thiền Sư Nhất Hạnh (1926-2022) -- một vị sư hơn Thầy Mãn Giác ba tuổi nhưng cùng sinh ra, xuất gia từ ấu thời và trưởng thành ở Huế, và cùng là những vị nỗ lực canh tân Phật giáo từ khi còn trong nước và cả khi ra hải ngoại –  trong bài dài 7 trang dùng làm Tựa cho thi tập Hương Trần Gian, về thơ của Thầy Mãn Giác rằng:
 

“Huyền Không, khác hơn các nhà thơ Phật giáo ở hiện đại, có một lối thơ mạnh, có tính cách tích cực. Đọc thơ Huyền Không, không còn ai dám bảo đạo Phật là chán đời, là xa đời. Thơ phản ảnh của sức sống tinh thần, không ở lại, không nương tựa, nhắm vào hạnh phúc nhân loại.” (KLHCĐ, trang 25)
 
blank    Hai vị Thiền sư: Thầy Nhất Hạnh (trái), Thầy Mãn Giác (phải)

Mạnh, tích cực, không nương tựa, không chán đời, không xa đời... Nhận định đó của Thầy Nhất Hạnh về thơ Huyền Không có thể thấy rất rõ ràng trong bài Tình Nhân Loại, trích bốn câu cuối như sau:
 

Dù cho lắm cuộc bể dâu

Thương nhau không dám làm đau lòng đời

Đi đâu cũng thấy hoa cười,

Đến đâu cũng thấy lòng người nở hoa.

(KLHCĐ, trang 145)
 

Thái độ tích cực hoằng pháp của Thầy Mãn Giác cũng được nêu rõ trong một bài thơ ngắn, dài bốn câu, Thầy viết bằng chữ Hán, dịch ra Hán Việt, rồi dịch ra ngôn ngữ Việt hiện nay. Trong bài thơ này có chữ “Tào Khê thủy” (dòng suối Tào Khê) là thi ảnh chỉ do dòng Thiền Huệ Năng. Bài thơ được in nơi trang bìa sau thi tập:
 

Tào Khê thủy nhập Mỹ lưu truyền

Giáo ngoại chơn tâm nhị thập niên

Thuyết pháp truyền đăng khai huệ nhãn

Kim Cang nội chiếu thị tiền duyên.

                 Và rồi Thầy dịch là:

Tào Khê vào Mỹ lan xa

Hai mươi năm chẵn chỉ là "truyền riêng"

Con mắt Huệ soi đèn Thiền

Kim Cang rực sáng tiền duyên thuở nào.

Los Angeles, 29.9.1998

(KLHCĐ, trang bìa sau)
 

Trong mọi trường hợp, Thầy Mãn Giác cũng cho thấy nơi bất kể hướng đi xa nào, tâm hồn Thầy cũng gắn liền với mái chùa quê nhà, với văn hóa dân tộc. Cảm xúc đó hiển lộ rõ ràng trong bài thơ Nhớ Chùa, trích:

Biết đến bao giờ trở lại quê

Phân vân lòng gởi nhớ nhung về

Tang thương dù có bao nhiêu nữa

Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

 

Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.

(KLHCĐ, trang 137)
 

Chúng ta có thể chú ý rằng, Thầy Mãn Giác du học Nhật Bản các năm 1960-1965, do vậy trong thời kỳ biến động Phật giáo 1963, Thầy đang ở Tokyo, một nơi rất xa với quê nhà. Và lúc đó, Thầy chỉ biết hướng về quê hương cầu nguyện, như trong bài thơ Đêm Xuân Cầu Nguyện dài 24 dòng, Thầy viết trong đêm Giao Thừa Quý Mão 1963, trích ba khổ thơ cuối bài là:
 

Sông Hằng nước chảy lang thang

Có con Hạc trắng bay ngang thuở nào

Gió về, nước dợn lao xao

Lòng không đóng cửa: ra vào thiên thu

 

Sương ơi, đừng phủ trăng mù

Cho lòng giải thoát vi vu dặm ngàn

Xuân đi, dù lắm hoa tàn

Trước sân có nhánh mai vàng xinh xinh.

 

Chắp tay cầu nguyện thanh bình

Buồm xuôi, gió thuận, gập ghênh qua nhanh

Đêm nay nguyên đán tâm thành

Nghe hương trầm thoảng về quanh mái nhà.

(KLHCĐ, trang 254-255)
 

Năm nay, tròn 20 năm Thi sĩ Huyền Không viên tịch, tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc được ấn hành với Lời Thưa in nơi đầu sách tác bạch rằng:

“Lời Thưa

Thơ của thiền sư - thi sĩ Huyền Không là một cõi thơ đặc biệt, nơi văn chương và thiền học hòa quyện trong sự tĩnh lặng sâu thẳm của tâm thức. Ở đó, chữ nghĩa không chỉ để diễn đạt cảm xúc, mà còn là phương tiện chuyên chở đạo lý, là tiếng vọng thầm thì của cõi lòng trước thân phận con người và vận mệnh quê hương, đất nước và đạo pháp. Thơ Ngài mang đậm sắc thái văn chương tinh luyện, thấm đẫm thiền vị, lan tỏa hương vị tình người, tình quê hương và hồn thiêng sông núi.

Những vần thơ tưởng chừng nhẹ tinh như mây khói, nhưng lại có sức đánh động mạnh mẽ, khơi mở những tầng sâu lắng nhất của tâm hồn người đọc. Qua thời gian, nhiều bài thơ của Ngài đã trở thành những dấu ấn bất hủ, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm diện mạo văn hóa và văn học Phật giáo Việt Nam.

Với tâm niệm tri ân và kính ngưỡng, Tông phong môn hạ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles phát tâm tái bản các tập thơ của Ngài, như một cách lưu giữ gia tài pháp bảo mà Đức Hòa thượng Hội chủ Huyền Không - Thích Mãn Giác để lại cho hàng hậu thế. Tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc, gồm các tập thơ của Ngài đã xuất bản trước đây.

Tuyển tập thơ này không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là hành trang tâm linh, phản chiếu hình ảnh một vị đạo sư đã thực chứng. Trong thơ toát lên phẩm chất của bậc thức giả, thấm nhuần hương vị thiền học. Việc in lại các tập thơ này được thực hiện nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Đức Trưởng lão Hòa thượng Viện chủ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles viên tịch, như một nén tâm hương dâng lên bậc Thây của Tứ chúng, đã trọn đời hiến dâng cho Đạo pháp và Dân tộc.

Lần tái bản này, chỉ khiêm cung tập hợp lại các tập thơ của Ngài, không có bất cứ sự thêm bớt hay diễn giải nào, với mong muốn giữ trọn tinh thần nguyên sơ của cõi thơ Huyền Không. Việc làm này vừa nhằm gìn giữ di sản pháp bảo, vừa thể hiện tấm lòng tri ân đối với vị đạo sư khả kính, người đã có những đóng góp lớn lao cho văn hóa giáo dục Phật giáo, như một pháp thí mang giá trị tâm linh vĩnh cửu.

Nguyện cho những trang thơ này tiếp tục được truyền tay, được đọc và được chiêm nghiệm, để ánh sáng thiền vị và nhân văn mà thiền sư - thi sĩ Huyền Không gửi gắm vẫn mãi lan tỏa, âm thầm mà sâu lắng, trong lòng người hôm nay và mai sau.

Môn hạ Tông phong

Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles”

(KLHCĐ, trang 5-7)
 

Người điểm sách xin ghi nhận một điểm ít biết đối với thế hệ trẻ nơi hải ngoại, rằng chữ “Thiền” trong các thập niên đầu thế kỷ trước đôi khi được các cụ viết là “Thuyền” khi chữ quốc ngữ còn sơ khai – do vậy, nhà thơ Huyền Không có bài từng viết chữ “Thiền môn” là “Thuyền môn”, viết chữ “Thiền định” là “Thuyền định” và vân vân.

Như trong bài thơ Chiếc Ca Sa, ban đầu là từ thi tập Hương Trần Gian (xuất bản lần đầu tại Sài Gòn bởi nhà Liên Hoa vào năm 1953), sau mới in lại vào tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc,  trích như sau:
 

Nơi cảnh Thuyền môn, sóng gió đàn,

Ngàn đời không nhuốm bụi thời gian.

Tâm hồn siêu thoát ngoài vô tận,

Thuyền Định tháng ngày mãi dệt đan...

 

Tự tánh bao giờ có ruổi rong;

Mê, thì đi lạc giữa muôn dòng.

Quay về nhiếp niệm trong giây phút,

Thấy cả muôn đời bến nước trong.

(KLHCĐ, trang 63)
 

Nhiều thập niên sau, nhà thơ Huyền Không dùng chữ theo tiêu chuẩn quốc ngữ đã định hình, không dùng chữ “Thuyền” cho “Thiền” nữa. Như trong bài thơ Đạt Đạo, viết vào ngày “Mồng 9 tháng 9 Canh Thân” tức là năm 1980. Bài thơ Đạt Đạo trích như sau:
 

Qua Thiền Môn: thấy trời xanh

Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang

Khói hương quyện, cảnh mơ màng

Không gian là chiếc y vàng quấn thân

Thiền Môn xưa sạch phong trần

Kim Cang kinh khép trầm luân thoát rồi

Ta từ sanh tử về chơi

Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng.

(KLHCĐ, trang 431)
 

Nhà thơ Huyền Không giải thích như thế nào về thi ảnh “kẻ lữ hành”? Trong bài viết năm 2002, nhà thơ Huyền Không viết trong bài “Mấy Lời Thêm Cho Lần Tái Bản” trích như sau, dẫn ra hình ảnh Đức Phật (người thành Xá-vệ) tới lời tự sự của nhà thơ Nguyễn Du (1766-1820), người từng có ba năm mặc áo nhà sư đi hành cước ba năm tại Trung Quốc. Nhà thơ Huyền Không viết, trích:
 

“Thơ, có một đôi bài nhớ về Người-Xá-Vệ xưa đã đi những cuộc đi trầm trọng của đời mình trên con đường trăng, mới thấy tưởng là ấm áp chung cùng nhưng rồi quay trở lại, Trăng và Người vẫn là hai niềm riêng, cô độc đến lùng. Phải rồi, mỗi người bước vào đời là phải đi một mình trên những còn đường bắt đầu từ chân mây bước hoài không tới. Rồi có khi về lại, chôn về như là nét mơ màng giả dối của đường ranh giới giữa biển và trời, dừng lại mà không gặp gỡ, trở về mà chưa từng hội ngộ, thiên thu lầm lũi...

Bốn mươi năm sau, từ giữa lòng một cuộc lữ chua xót khác nhìn lại, không gian đã chuyển dời, thời gian đã thành sương trên tóc, những người ngày xưa đã mỗi người một nẻo... tôi gặp lại cái mầu sắc tê tái trong tâm sự cũ của Nguyễn Du:

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm...

(Nhiều năm làm lữ khách nước mắt từng chảy dưới đèn.

Lòng nhớ quê nhà ngoài nghìn dặm chỉ còn biết gửi vào bóng trăng).”

(KLHCĐ, trang 277)
 

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy nỗi cô độc của Thầy không chỉ trong bước đi lữ khách, mà hiển lộ ngay cả khi Thầy tụng kinh, nơi Đức Phật từng dạy rằng mỗi người phải tự thân trở thành một hải đảo, tự mỗi người thừa đương Chánh pháp. Bài thơ Tụng Kinh chỉ bốn dòng đã ghi lại:
 

Mở ra Tam tạng Kinh

Ta ngồi đọc một mình

Trăng sao soi từng chữ

Giữa đất trời lặng thinh.

(KLHCĐ, trang 469)  
 

Sau đây là sơ lược tiểu sử Đại Lão  Hòa thượng Thích Mãn Giác do Việt Báo trích từ sách Mừng Khánh Thọ Bẩy Mươi Hoà Thượng Thích Mãn Giác.

Hòa thượng Thích Mãn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ (1929) tại Cố Đô Huế, nguyên gốc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia học Phật từ thuở nhỏ. Đã đảm nhận nhiều trọng trách trong Giáo hội: Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên, Tổng Vụ Văn Hóa và Hội Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Báo Quốc, Hòa Thượng được Tổng Hội PGVN Trung Phần công cử làm Giảng Sư, Hội Trưởng Hội Phật Giáo Đà Lạt từ năm 1953 và sau đó, vào năm 1957, đại diện Tổng Hội ở 5 tỉnh Cao Nguyên Trung Phần.

Đến năm 1960, được học bổng đi du học Nhật Bổn, Tokyo. Cuối năm 1965, tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học, được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa mời về làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sài gòn, chuyên phụ trách giảng dậy Triết Học Ấn Độ Đông Phương. Trong khi đó, Viện Hóa Đạo công cử Hòa Thượng giữ trách vụ Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Điều Hành Viện Đại Học Vạn Hạnh. Ngoài ra Hòa Thượng cũng đảm trách giảng dạy Đại Học Văn Khoa Huế về Triết Học Đông Phương và Văn Học Đại Cương. Hòa Thượng có viết nhiều sách, trong số có 5 thi phẩm mà được mọi người mến mộ qua đạo hiệu Huyền Không.

Cuối tháng 6 năm 1977, Hòa Thương đã đến Mã Lai tỵ nạn bằng thuyền đánh cá. Sau thời gian ba tháng tạm trú trong Trại tỵ nạn, vào 12 tháng 10 năm 1977, Hòa Thượng đã giã từ Trại Tỵ nạn lên đường đi Paris, Pháp Quốc. Sau 3 tháng đi khắp Âu Châu, Hòa Thượng đã tiếp xúc với báo chí, Hội Ân Xá Quốc Tế, Đài BBC Luân Đôn… và đến tháng giêng năm 1978 đến Hoa Kỳ.

Cuối năm 1978, Hòa Thượng đã mời tất cả Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ về Los Angeles, Đại Hội để thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Từ 1978 tới 1998, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã đóng góp nhiều vào công cuộc hoằng dương chánh pháp nơi hải ngoại.
 blankTừ phải: Thượng Tọa Thích Minh Hải, và Cư sĩ Nguyên Giác tại 1 tiệm cơm chay ở Quận Cam.  

Các độc giả quan tâm về tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc của nhà thơ Huyền Không, hay các tác phẩm khác của Hòa Thượng Thích Mãn Giác, có thể liên lạc với:

Thượng Tọa Thích Minh Hải

Trụ trì Tổ Đình Chùa Việt Nam Los Angeles

863 S Berendo St, Los Angeles, CA 90005

 

Tình hình đại dịch trong tuần qua từ Việt Nam đến Mỹ đều có chiều hướng giảm xuống giữa lúc các chính phủ chạy đua để chích thuốc ngừa Covid-19 cho toàn dân. Chuyện đấu đá nhau giữa Cộng Hòa và Dân Chủ cũng làm ảnh hưởng tới việc tài trợ cho chính phủ hoạt động mà nếu không thông qua thì có thể sẽ đóng cửa công sở. Bộ Tứ Mỹ-Ấn-Nhật-Úc họp thượng đỉnh tài Washington trong tuần qua cũng làm nhiều người chú ý.
Những ai yêu thích món McRib hãy chuẩn bị xếp hàng vì món bánh mì thơm ngon và hấp dẫn mà quý vị chờ đợi suốt cả năm sắp về đến! Món McRib lừng danh sẽ trở lại với thực đơn McDonald’s® USA một cách huy hoàng vào mùa thu và quý vị có thể có trong tay miếng bánh mì ngon miệng này bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 trong một thời gian giới hạn tại các tiệm ăn toàn quốc Hoa Kỳ có tham gia vào chương trình.
Canada đã tổ chức ngày lễ toàn quốc đầu tiên vinh danh các nạn nhân và những người còn sống sót của hệ thống nhà trường cư dân bản địa của đất nước này, theo bản tin của CNN tường thuật hôm Thứ Năm, 30 tháng 9 năm 2021. Ngày lễ luật định đến một ngày sau khi một tòa án liên bang đã giữ nguyên phán quyết năm 2016 ra lệnh chính phủ Canada phải bồi thường cho các trẻ em người Da Đỏ là những em bị đưa vào cơ sở nuôi dưỡng. Ngày Quốc Gia Vì Sự Thật và Hòa Giải hôm Thứ Năm và quyết định của tòa án đã nêu bật lịch sử của sự kỳ thị và làm hại đối với các cộng đồng First Nations.
Và bây giờ, tất cả chỉ còn là kỷ niệm! Hôm nay, tôi xin viết những dòng chữ này để chia sẻ cùng quý vị khán thính giả và anh chị em nghệ sĩ, hầu tưởng nhớ đến người con gái Pleiku “mà đỏ, môi hồng” tên là Phi Nhung, một ca sĩ với tấm lòng nhân hậu dành cho tha nhân, cho cuộc đời và cho quê hương, đất nước.
Theo tài liệu được công bố hôm Thứ Năm, đã có 580 vụ tự tử vào năm ngoái so với 504 vụ trong năm trước đó. Trong số đó, số tự tử bởi binh sĩ của Vệ Binh Quốc Gia đã nhảy vọt lên khoảng 35%, từ 76 vụ trong năm 2019 lên 103 vụ vào năm ngoái, và binh sĩ Lục Quân tại ngũ đã chứng kiến tăng gần 20%. Các vụ tự tử trong Thủy Quân Lục Chiến đã tăng hơn 30%, từ 47 vụ lên tới 62 vụ; trong khi lực lượng Dự Bị Thủy Quân Lục Chiến từ 9 vụ tự tử lên 10 vụ.
Hạ Viện đã chấp thuận dự luật tài trợ ngắn hạn với tỉ số phiếu 254-175 không lâu sau khi Thượng Viện thông qua với tỉ số phiếu 65-35. Một đa số lớn các nhà lập pháp Cộng Hòa tại cả hai viện đã bỏ phiếu chống. Dự luật cần thiết để giữ chính phủ hoạt động một khi năm tài khóa hiện nay chấm dứt vào giữa đêm Thứ Năm. Việc thông qua sẽ cho các nhà lập pháp thêm thời gian để soạn thảo các dự luật chi tiêu mà sẽ tài trợ cho các cơ quan liên bang và các chương trình họ điều hành.
Chủ quyền của một quốc gia là chuyện sinh tử của một dân tộc, bởi thế khi Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng bắt nạt và đầy tham vọng xâm chiếm Biển Đông thì các nước có tuyên bố chủ quyền trong vùng biển này tức khắc phải lên tiếng phản đối, mà cụ thể gần nhất là việc ngoại trưởng Phi Luật Tân yêu cầu Bộ Ngoại Giao của nước này gửi 3 công hàm phản đối các hoạt động trái pháp luật của TQ ở Biển Đông, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Năm, 30 tháng 9 năm 2021.
Có ít nhất 116 người bị giết sau cuộc bạo động trong nhà tù tại Ecuador hôm Thứ Ba. Trong đó, có 5 người bị chặt đầu, và 80 người khác bị thương trong cuộc chiến băng đảng liên hệ các đường dây ma túy quốc tế tại nhà tù Litoral Penitentiary ở thị trấn Guayaquil, theo báo Wall Street Journal.
Lễ Khánh Thành Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị sẽ là ngày thứ bảy, 13 tháng 11 được dự trù vào lúc 11 giờ sáng tại Công Viên Lịch Sử (History Park), San Jose, bên cạnh Bảo Tàng Việt Việt Nam. UBXDTD sẽ phối hợp cùng với Bảo Tàng Viện Việt Nam để tổ chức buổi lễ.
Bộ Trưởng Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh của California, Tiến sĩ Mark Ghaly cung cấp thông tin tóm tắt về Kế Hoạch Hành Động của Vắc-xin tại California, cụ thể là thông tin chi tiết về cách tiểu bang chuẩn bị để phân phối vắc-xin tăng cường trên toàn tiểu bang
Các viên chức đứng đầu quốc phòng Hoa Kỳ đã nói rằng việc xâm chiếm Afghanistan của Taliban có thể theo dõi ngược lại một thương lượng giữa nhóm này và chính phủ Trump, theo bản tin của BBC Tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Tư, 29 tháng 9 năm 2021. Hiệp ước được gọi là Doha đã được ký vào tháng 2 năm 2020 và ấn định ngày cho cuộc rút quân đội Hoa Kỳ. Tướng Frank McKenzie nói rằng hiệp ước này đã có “hiệu quả tai hại thật sự” lên chính phủ Afghan và quân đội. Bộ Trưởng Quốc Phòng Lloyd Austin đã đồng ý điều đó, nói rằng thỏa thuận nói trên đã giúp Taliban “mạnh hơn.”
Hai nhà lãnh đạo này đang cố gắng làm nhẹ đi những khác biệt tại Quốc Hội mà đã làm hao mòn thế đa số của Đảng Dân Chủ trong 2 tuần qua. Và họ đã cố gắng để kéo các đồng viện của họ và Tổng Thống Joe Biden lại với nhau. Chủ Tịch Hạ Viện và Lãnh Đạo Dân Chủ tại Thượng Viện đã tới Bạch Ốc vào xế trưa Thứ Tư để cố gắng và củng cố kế hoạch việc làm và gia đình của Biden, mà đang trên bờ vực sụp đổ khi các nhà nghị sĩ trung dung tại Thượng Viện từ chối cắt bỏ một thương lượng về chi tiêu xã hội trước cuộc bỏ phiếu được dự định của Hạ Viện về gói hạ tầng cơ sở.
Một cuộc chiến giữa các băng đảng trong một nhà tù tại thành phố biển Guayaquil của Ecuador đã giết chết ít nhất 100 tù nhân và làm bị thương 52 người khác trong sự kiện mà các viên chức thẩm quyền nói là cuộc thảm sát nhà tù tồi tệ nhất trong lịch sử của nước này, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Tư, 29 tháng 9 năm 2021. Ít nhất 5 người đã được báo cáo bị chặt đầu, theo các viên chức cho biết hôm Thứ Tư.
Không biết trăm, ngàn năm nữa, nhân loại còn có cơ may gặp lại một thiên tài như Albert Einstein? Cụ là bậc thần thánh trong ngành Vật lý học, ngàn năm một thủa giáng trần để nâng cao tầm hiểu biết của con người lên một tầng cao chót vót. Vậy mà kẻ phàm phu này, có một thời gian dài, cứ nghi ông cụ vì vô tình, hoặc đãng trí, đã tỏ ra thiếu tinh thần trách nhiệm. Trách nhiệm với chính một sản phẩm của mình, với những ai tin dùng nó. Sau khi lập thuyết Tương Đối Đặc Biệt (TĐĐB), Einstein đã có nhiều cơ hội để thấy những chỗ bất ổn, sai lầm nghiêm trọng, khiến thuyết không thể sống sót.
Cách nay 75 năm, vào ngày 21 tháng 9 năm 1946, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cùng luật sư Mai Văn Dậu, ông Nguyễn Văn Sâm, ông Trần Văn Ân và giáo sư Nguyễn Hoàn Bích (Nguyễn Bảo Toàn) tuyên bố thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, viết tắt là Đảng Dân Xã.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.