Hôm nay,  

Hành trình thơ của Huyền Không: Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc

14/04/202606:02:00(Xem: 2460)

Hành trình thơ của Huyền Không:

Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc
 

Nguyên Giác

 

Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời  nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.

Trong cơ duyên làm việc trong nghề báo, từ Tạp chí Giao Điểm cho tới Việt Báo, tôi đã nhiều lần hội kiến Thầy Mãn Giác, đã thưa hỏi nhiều chuyện về giáo hội, và văn hóa dân tộc. Bây giờ, Thầy Mãn Giác viên tịch đã gần tròn 20 năm. Và trong tuần vừa qua, tôi được trao tặng tuyển tập thơ "Kẻ Lữ Hành Cô Độc" của thi sĩ Huyền Không do nxb Phụ Nữ Việt Nam tái bản trong cơ duyên hội kiến Thượng Tọa Thích Minh Hải, vị trụ trì hiện nay của Chùa Việt Nam Los Angeles. 

Những độc giả quan tâm có thể nhớ rằng "kẻ lữ hành" không chỉ là một thi ảnh trong thơ của thi sĩ Huyền Không, mà cũng đã hiện lên cả trong một bài tham luận Thầy Mãn Giác từ Hoa Kỳ gửi về cho cuộc Hội Thảo Phật Giáo Trong Thời Đại Mới, Cơ Hội Và Thách Thức trong tháng 7/2006 do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn. Bài viết đó được Thầy gửi về Việt Nam ba tháng trước khi Thầy viên tịch.

Trong bài tham luận "Về một hướng đi của Phật giáo Việt Nam" gửi về cho sự kiện trên, Thầy Mãn Giác ghi nhận rằng Đức Phật và Thánh chúng cũng là những kẻ lữ hành, và Thầy kêu gọi trong bài viết, trích:
 

“Thứ nhất, kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường. Kinh nghiệm đó cho chúng ta hai bài học.

1.1. Một, bất hành bất thực. Phật và thánh chúng phải ôm bình bát đi xin mới có ăn.

1.2. Hai, Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng tìm đến Phật. Phật tìm đến quần chúng để được quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại cho quần chúng...” (ngưng trích)
 

Dưới mắt nhìn như thế của một Thiền sư lữ hành, nhà thơ Huyền Không đã thấy đời người chính thực là chiêm bao, nắng mưa, hạt mưa rơi, cuối trời mây bay... như trong bài Kiếp Người của tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc (KLHCĐ), trích:
 

 Đêm ngày qua lại chiêm bao

Nắng mưa là cảnh thuở nào xa xôi

Ba sinh nhớ chuyện luân hồi

Đưa tay đón nhận nổi trôi kiếp người

Sự đời như hạt mưa rơi

Ngàn năm sau nữa cuối trời mây bay.

(KLHCĐ, trang 329)
 blank                                   Bìa tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc

Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác đã được tôn vinh là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của Phật giáo Việt Nam hiện đại—một nhà sư mà cuộc đời Thầy là sự hòa quyện hài hòa giữa học thuật, thi ca và vai trò lãnh đạo tâm linh. Sinh năm 1929 tại miền Trung Việt Nam, Thầy xuất gia từ thuở thiếu thời và sớm nổi bật nhờ vào trí tuệ cũng như lòng tận tụy sâu sắc đối với Phật pháp. 

Trước năm 1975, Thầy Mãn Giác đã tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục Phật giáo tại Việt Nam; Thầy giảng dạy tại nhiều đại học và góp phần làm phong phú thêm đời sống trí thức cho một thế hệ đang nỗ lực dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Hành trình học thuật đã đưa Thầy đến Nhật Bản, nơi Thầy theo đuổi các bậc học cao hơn về triết học Phật giáo, một kho tàng giá trị mà sau này Thầy đã mang về để làm giàu thêm cho Phật giáo Việt Nam.

Ngoài vai trò là một nhà giáo dục, Thầy còn là một thi sĩ tài hoa. Thơ ca của Thầy là một kết hợp hiếm có giữa cảm thọ và tỉnh thức thâm sâu trong đời sống, khi ngồi thiền, khi tụng kinh và một chiều sâu triết lý về lẽ vô thường, lòng từ bi. Những vần thơ của Thầy ông được nhớ tới không chỉ vì vẻ đẹp văn chương, mà còn vì khả năng đơn sơ ghi lại những tuệ giác Phật giáo một cách giản dị và dễ tiếp cận đối với độc giả.

Như trong bài thơ Giao Thừa Tụng Kinh Pháp Hoa, nhà thơ Huyền Không viết vào Xuân Ất Hợi 1995, ghi lại hình ảnh Thầy ngồi giữa trăng sao, nhìn vào tâm soi rọi xem có vương chỗ nào, thấy vô lượng kiếp não phiền trôi qua, và rồi Thầy tụng Kinh Pháp Hoa, nhìn thấy trầm hương tám hướng bay về, trích:
 

Đèn khuya soi sáng Thiền Đường

Tâm ta soi sáng tâm vương chỗ nào

Đêm về ngồi giữa trăng sao

Ý thức đã chín ngọt ngào nằm yên

Rì rào gió lặng rừng thiêng

Biết bao nhiêu kiếp não phiền đi qua

Giao thừa ngồi tụng Pháp Hoa

Mặc cho thay đổi hằng sa nhiệm mầu

Cô đơn chìm với đêm sâu

Trầm hương tám hướng từ đâu bay về.

(KLHCĐ, trang 486-487)
 

Một điểm cũng nổi bật của Thầy Mãn Giác là thái độ dấn thân. Thầy không chỉ tụng kinh, ngồi thiền, thực hiện các bổn phận của một nhà sư trong tự viện, Thầy cũng nhập cuộc, Thầy cũng dấn thân vào đời, đem đạo Phật vào cuộc sống để phục vụ quần chúng. Theo nhận định của Thiền Sư Nhất Hạnh (1926-2022) -- một vị sư hơn Thầy Mãn Giác ba tuổi nhưng cùng sinh ra, xuất gia từ ấu thời và trưởng thành ở Huế, và cùng là những vị nỗ lực canh tân Phật giáo từ khi còn trong nước và cả khi ra hải ngoại –  trong bài dài 7 trang dùng làm Tựa cho thi tập Hương Trần Gian, về thơ của Thầy Mãn Giác rằng:
 

“Huyền Không, khác hơn các nhà thơ Phật giáo ở hiện đại, có một lối thơ mạnh, có tính cách tích cực. Đọc thơ Huyền Không, không còn ai dám bảo đạo Phật là chán đời, là xa đời. Thơ phản ảnh của sức sống tinh thần, không ở lại, không nương tựa, nhắm vào hạnh phúc nhân loại.” (KLHCĐ, trang 25)
 
blank    Hai vị Thiền sư: Thầy Nhất Hạnh (trái), Thầy Mãn Giác (phải)

Mạnh, tích cực, không nương tựa, không chán đời, không xa đời... Nhận định đó của Thầy Nhất Hạnh về thơ Huyền Không có thể thấy rất rõ ràng trong bài Tình Nhân Loại, trích bốn câu cuối như sau:
 

Dù cho lắm cuộc bể dâu

Thương nhau không dám làm đau lòng đời

Đi đâu cũng thấy hoa cười,

Đến đâu cũng thấy lòng người nở hoa.

(KLHCĐ, trang 145)
 

Thái độ tích cực hoằng pháp của Thầy Mãn Giác cũng được nêu rõ trong một bài thơ ngắn, dài bốn câu, Thầy viết bằng chữ Hán, dịch ra Hán Việt, rồi dịch ra ngôn ngữ Việt hiện nay. Trong bài thơ này có chữ “Tào Khê thủy” (dòng suối Tào Khê) là thi ảnh chỉ do dòng Thiền Huệ Năng. Bài thơ được in nơi trang bìa sau thi tập:
 

Tào Khê thủy nhập Mỹ lưu truyền

Giáo ngoại chơn tâm nhị thập niên

Thuyết pháp truyền đăng khai huệ nhãn

Kim Cang nội chiếu thị tiền duyên.

                 Và rồi Thầy dịch là:

Tào Khê vào Mỹ lan xa

Hai mươi năm chẵn chỉ là "truyền riêng"

Con mắt Huệ soi đèn Thiền

Kim Cang rực sáng tiền duyên thuở nào.

Los Angeles, 29.9.1998

(KLHCĐ, trang bìa sau)
 

Trong mọi trường hợp, Thầy Mãn Giác cũng cho thấy nơi bất kể hướng đi xa nào, tâm hồn Thầy cũng gắn liền với mái chùa quê nhà, với văn hóa dân tộc. Cảm xúc đó hiển lộ rõ ràng trong bài thơ Nhớ Chùa, trích:

Biết đến bao giờ trở lại quê

Phân vân lòng gởi nhớ nhung về

Tang thương dù có bao nhiêu nữa

Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

 

Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.

(KLHCĐ, trang 137)
 

Chúng ta có thể chú ý rằng, Thầy Mãn Giác du học Nhật Bản các năm 1960-1965, do vậy trong thời kỳ biến động Phật giáo 1963, Thầy đang ở Tokyo, một nơi rất xa với quê nhà. Và lúc đó, Thầy chỉ biết hướng về quê hương cầu nguyện, như trong bài thơ Đêm Xuân Cầu Nguyện dài 24 dòng, Thầy viết trong đêm Giao Thừa Quý Mão 1963, trích ba khổ thơ cuối bài là:
 

Sông Hằng nước chảy lang thang

Có con Hạc trắng bay ngang thuở nào

Gió về, nước dợn lao xao

Lòng không đóng cửa: ra vào thiên thu

 

Sương ơi, đừng phủ trăng mù

Cho lòng giải thoát vi vu dặm ngàn

Xuân đi, dù lắm hoa tàn

Trước sân có nhánh mai vàng xinh xinh.

 

Chắp tay cầu nguyện thanh bình

Buồm xuôi, gió thuận, gập ghênh qua nhanh

Đêm nay nguyên đán tâm thành

Nghe hương trầm thoảng về quanh mái nhà.

(KLHCĐ, trang 254-255)
 

Năm nay, tròn 20 năm Thi sĩ Huyền Không viên tịch, tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc được ấn hành với Lời Thưa in nơi đầu sách tác bạch rằng:

“Lời Thưa

Thơ của thiền sư - thi sĩ Huyền Không là một cõi thơ đặc biệt, nơi văn chương và thiền học hòa quyện trong sự tĩnh lặng sâu thẳm của tâm thức. Ở đó, chữ nghĩa không chỉ để diễn đạt cảm xúc, mà còn là phương tiện chuyên chở đạo lý, là tiếng vọng thầm thì của cõi lòng trước thân phận con người và vận mệnh quê hương, đất nước và đạo pháp. Thơ Ngài mang đậm sắc thái văn chương tinh luyện, thấm đẫm thiền vị, lan tỏa hương vị tình người, tình quê hương và hồn thiêng sông núi.

Những vần thơ tưởng chừng nhẹ tinh như mây khói, nhưng lại có sức đánh động mạnh mẽ, khơi mở những tầng sâu lắng nhất của tâm hồn người đọc. Qua thời gian, nhiều bài thơ của Ngài đã trở thành những dấu ấn bất hủ, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm diện mạo văn hóa và văn học Phật giáo Việt Nam.

Với tâm niệm tri ân và kính ngưỡng, Tông phong môn hạ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles phát tâm tái bản các tập thơ của Ngài, như một cách lưu giữ gia tài pháp bảo mà Đức Hòa thượng Hội chủ Huyền Không - Thích Mãn Giác để lại cho hàng hậu thế. Tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc, gồm các tập thơ của Ngài đã xuất bản trước đây.

Tuyển tập thơ này không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là hành trang tâm linh, phản chiếu hình ảnh một vị đạo sư đã thực chứng. Trong thơ toát lên phẩm chất của bậc thức giả, thấm nhuần hương vị thiền học. Việc in lại các tập thơ này được thực hiện nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Đức Trưởng lão Hòa thượng Viện chủ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles viên tịch, như một nén tâm hương dâng lên bậc Thây của Tứ chúng, đã trọn đời hiến dâng cho Đạo pháp và Dân tộc.

Lần tái bản này, chỉ khiêm cung tập hợp lại các tập thơ của Ngài, không có bất cứ sự thêm bớt hay diễn giải nào, với mong muốn giữ trọn tinh thần nguyên sơ của cõi thơ Huyền Không. Việc làm này vừa nhằm gìn giữ di sản pháp bảo, vừa thể hiện tấm lòng tri ân đối với vị đạo sư khả kính, người đã có những đóng góp lớn lao cho văn hóa giáo dục Phật giáo, như một pháp thí mang giá trị tâm linh vĩnh cửu.

Nguyện cho những trang thơ này tiếp tục được truyền tay, được đọc và được chiêm nghiệm, để ánh sáng thiền vị và nhân văn mà thiền sư - thi sĩ Huyền Không gửi gắm vẫn mãi lan tỏa, âm thầm mà sâu lắng, trong lòng người hôm nay và mai sau.

Môn hạ Tông phong

Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles”

(KLHCĐ, trang 5-7)
 

Người điểm sách xin ghi nhận một điểm ít biết đối với thế hệ trẻ nơi hải ngoại, rằng chữ “Thiền” trong các thập niên đầu thế kỷ trước đôi khi được các cụ viết là “Thuyền” khi chữ quốc ngữ còn sơ khai – do vậy, nhà thơ Huyền Không có bài từng viết chữ “Thiền môn” là “Thuyền môn”, viết chữ “Thiền định” là “Thuyền định” và vân vân.

Như trong bài thơ Chiếc Ca Sa, ban đầu là từ thi tập Hương Trần Gian (xuất bản lần đầu tại Sài Gòn bởi nhà Liên Hoa vào năm 1953), sau mới in lại vào tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc,  trích như sau:
 

Nơi cảnh Thuyền môn, sóng gió đàn,

Ngàn đời không nhuốm bụi thời gian.

Tâm hồn siêu thoát ngoài vô tận,

Thuyền Định tháng ngày mãi dệt đan...

 

Tự tánh bao giờ có ruổi rong;

Mê, thì đi lạc giữa muôn dòng.

Quay về nhiếp niệm trong giây phút,

Thấy cả muôn đời bến nước trong.

(KLHCĐ, trang 63)
 

Nhiều thập niên sau, nhà thơ Huyền Không dùng chữ theo tiêu chuẩn quốc ngữ đã định hình, không dùng chữ “Thuyền” cho “Thiền” nữa. Như trong bài thơ Đạt Đạo, viết vào ngày “Mồng 9 tháng 9 Canh Thân” tức là năm 1980. Bài thơ Đạt Đạo trích như sau:
 

Qua Thiền Môn: thấy trời xanh

Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang

Khói hương quyện, cảnh mơ màng

Không gian là chiếc y vàng quấn thân

Thiền Môn xưa sạch phong trần

Kim Cang kinh khép trầm luân thoát rồi

Ta từ sanh tử về chơi

Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng.

(KLHCĐ, trang 431)
 

Nhà thơ Huyền Không giải thích như thế nào về thi ảnh “kẻ lữ hành”? Trong bài viết năm 2002, nhà thơ Huyền Không viết trong bài “Mấy Lời Thêm Cho Lần Tái Bản” trích như sau, dẫn ra hình ảnh Đức Phật (người thành Xá-vệ) tới lời tự sự của nhà thơ Nguyễn Du (1766-1820), người từng có ba năm mặc áo nhà sư đi hành cước ba năm tại Trung Quốc. Nhà thơ Huyền Không viết, trích:
 

“Thơ, có một đôi bài nhớ về Người-Xá-Vệ xưa đã đi những cuộc đi trầm trọng của đời mình trên con đường trăng, mới thấy tưởng là ấm áp chung cùng nhưng rồi quay trở lại, Trăng và Người vẫn là hai niềm riêng, cô độc đến lùng. Phải rồi, mỗi người bước vào đời là phải đi một mình trên những còn đường bắt đầu từ chân mây bước hoài không tới. Rồi có khi về lại, chôn về như là nét mơ màng giả dối của đường ranh giới giữa biển và trời, dừng lại mà không gặp gỡ, trở về mà chưa từng hội ngộ, thiên thu lầm lũi...

Bốn mươi năm sau, từ giữa lòng một cuộc lữ chua xót khác nhìn lại, không gian đã chuyển dời, thời gian đã thành sương trên tóc, những người ngày xưa đã mỗi người một nẻo... tôi gặp lại cái mầu sắc tê tái trong tâm sự cũ của Nguyễn Du:

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm...

(Nhiều năm làm lữ khách nước mắt từng chảy dưới đèn.

Lòng nhớ quê nhà ngoài nghìn dặm chỉ còn biết gửi vào bóng trăng).”

(KLHCĐ, trang 277)
 

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy nỗi cô độc của Thầy không chỉ trong bước đi lữ khách, mà hiển lộ ngay cả khi Thầy tụng kinh, nơi Đức Phật từng dạy rằng mỗi người phải tự thân trở thành một hải đảo, tự mỗi người thừa đương Chánh pháp. Bài thơ Tụng Kinh chỉ bốn dòng đã ghi lại:
 

Mở ra Tam tạng Kinh

Ta ngồi đọc một mình

Trăng sao soi từng chữ

Giữa đất trời lặng thinh.

(KLHCĐ, trang 469)  
 

Sau đây là sơ lược tiểu sử Đại Lão  Hòa thượng Thích Mãn Giác do Việt Báo trích từ sách Mừng Khánh Thọ Bẩy Mươi Hoà Thượng Thích Mãn Giác.

Hòa thượng Thích Mãn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ (1929) tại Cố Đô Huế, nguyên gốc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia học Phật từ thuở nhỏ. Đã đảm nhận nhiều trọng trách trong Giáo hội: Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên, Tổng Vụ Văn Hóa và Hội Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Báo Quốc, Hòa Thượng được Tổng Hội PGVN Trung Phần công cử làm Giảng Sư, Hội Trưởng Hội Phật Giáo Đà Lạt từ năm 1953 và sau đó, vào năm 1957, đại diện Tổng Hội ở 5 tỉnh Cao Nguyên Trung Phần.

Đến năm 1960, được học bổng đi du học Nhật Bổn, Tokyo. Cuối năm 1965, tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học, được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa mời về làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sài gòn, chuyên phụ trách giảng dậy Triết Học Ấn Độ Đông Phương. Trong khi đó, Viện Hóa Đạo công cử Hòa Thượng giữ trách vụ Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Điều Hành Viện Đại Học Vạn Hạnh. Ngoài ra Hòa Thượng cũng đảm trách giảng dạy Đại Học Văn Khoa Huế về Triết Học Đông Phương và Văn Học Đại Cương. Hòa Thượng có viết nhiều sách, trong số có 5 thi phẩm mà được mọi người mến mộ qua đạo hiệu Huyền Không.

Cuối tháng 6 năm 1977, Hòa Thương đã đến Mã Lai tỵ nạn bằng thuyền đánh cá. Sau thời gian ba tháng tạm trú trong Trại tỵ nạn, vào 12 tháng 10 năm 1977, Hòa Thượng đã giã từ Trại Tỵ nạn lên đường đi Paris, Pháp Quốc. Sau 3 tháng đi khắp Âu Châu, Hòa Thượng đã tiếp xúc với báo chí, Hội Ân Xá Quốc Tế, Đài BBC Luân Đôn… và đến tháng giêng năm 1978 đến Hoa Kỳ.

Cuối năm 1978, Hòa Thượng đã mời tất cả Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ về Los Angeles, Đại Hội để thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Từ 1978 tới 1998, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã đóng góp nhiều vào công cuộc hoằng dương chánh pháp nơi hải ngoại.
 blankTừ phải: Thượng Tọa Thích Minh Hải, và Cư sĩ Nguyên Giác tại 1 tiệm cơm chay ở Quận Cam.  

Các độc giả quan tâm về tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc của nhà thơ Huyền Không, hay các tác phẩm khác của Hòa Thượng Thích Mãn Giác, có thể liên lạc với:

Thượng Tọa Thích Minh Hải

Trụ trì Tổ Đình Chùa Việt Nam Los Angeles

863 S Berendo St, Los Angeles, CA 90005

 

Nhiều nhà chuyên môn đã tìm cách giúp người dân Mỹ chuẩn bị đời sống tinh thần vững vàng để vượt qua mùa đại dịch. Tiến Sĩ Giáo Dục Bạch Xuân Khỏe là một trong số này. Thực ra, Tiến Sĩ Khỏe không xa lạ đối với cộng đồng giáo dục California. Là một giáo viên trung học tại Sacramento, trước đây anh đã từng có những buổi huấn luyện cho các giáo viên thuộc các học khu California về chủ đề ứng dụng thực tập Chánh Niệm (Mindfulness) tại các trường học, giúp học sinh tăng cường khả năng học tập, và có sức khỏe tâm lý vững vàng hơn. Trong mùa dịch COVID-19, những buổi hướng dẫn của anh đã được thực hiện theo dạng trực tuyến trên mạng. Đại Học Stanford và The California Teachers Association (CTA) đã phối hợp tổ chức hai buổi webinar: vào ngày 21 tháng 04 có chủ đề “Mindfulness and Self-Care for Educators in the Time of Pandemic”, và ngày 5 tháng 5 có chủ đề “The Science of Mindfulness and Self-Care”. Hai diễn giả là Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ và Jason Dilg- Giám Đốc Điều Hành của tổ chức Be Mindfu
Vào chiều ngày Chủ Nhật 5 tháng 7 2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh tiếp tục chương trình giảng pháp trên mạng cho nhóm Giới Trẻ Mây Từ và các Phật tử. Tuần này chủ đề bài giảng là Cư Trần Lạc Đạo, hay Ở Đời Vui Đạo. Cư Trần Lạc Đạo là bài thơ thiền nổi tiếng của đức vua Trần Nhân Tông, cũng được gọi là Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài là vị vua đời Trần với chiến công lẫy lừng ba lần đại phá quân Nguyên. Ngài cũng là sơ tổ của Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền Việt Nam với đặc điểm nhập thế.
Chúng ta, trong đó có bạn và cả tôi nữa, ít nhiều đều là dân ghiền Internet chẳng khác nào mình ghiền…một loại ma túy tinh thần nào đó. Lợi ích của Internet thì đã quá rõ ràng rồi, tuy nhiên nó cũng đã bị một số người chỉ trích và kết án thậm tệ như là một trong nhiều nguyên nhân gây nên tội phạm trong xã hội. Ngoài ra, nó còn bị American Psychiatric Association gán thêm cho một tội khác nữa, đó là việc lạm dụng Internet một cách thái quá có thể làm cho người sử dụng bị xáo trộn về tâm thần, một hiện tượng mà các nhà tâm lý học gọi là Internet Addiction Disorder hay IAD. Cũng may là American Medical Association đã không nhìn nhận IAD là chẩn đoán của một bệnh lý thật thụ.
Họ có biết những người dũng cảm, trung kiên cho phong trào tranh đấu vì quyền nghiệp đoàn độc lâp đã bị những bản án khốc liệt, đã ở tù và đang ở tù như Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Nguyễn Hoàng quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Trương Minh Đức, Hoàng Đức Bình...
Trước 1975, ở bùng binh ngã Sáu (kế góc đường Gia Long và Lê Văn Duyệt) có cái biển nhỏ xíu xiu: Sài Gòn – Nam Vang 280 KM. Mỗi lần đi ngang qua đây, tôi đều nhớ đến cái câu ca dao mà mình được nghe từ thưở ấu thơ: Nam Vang đi dễ khó về… Bây giờ thì đi hay về từ Cambodia đều dễ ợt nhưng gần như không còn ma nào muốn hẻo lánh tới cái Xứ Chùa Tháp nghèo nàn này nữa. Cũng nhếch nhác ngột ngạt thấy bà luôn, ai mà tới đó làm chi… cho má nó khi. Thời buổi này phải đi Sing mới đã, dù qua đây rất khó và về thì cũng vậy – cũng chả dễ dàng gì.
Bác Sĩ Anthony Fauci hôm Thứ Ba, 7 tháng 7, cảnh báo rằng người Mỹ không nên hài lòng với việc giảm số tử vong trong số những bệnh nhân vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ dù Tổng Thống Donald Trump ca tụng khuynh hướng này như là chứng cứ của sự đối phó thành công đối với vi khuẩn, theo bản tin CNN cho biết. “Là sai lầm để hài lòng với tỉ lệ thấp hơn của tử vong,” theo BS Fauci cho biết trong cuộc họp báo trực tiếp qua mạng với Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Doug Jones của Alabama. “Có rất nhiều thứ khác mà rất là nguy hiểm và xấu về vi khuẩn này, đừng để bạn rơi vào tự mãn sai lần.” Lời bình luận của ông đưa ra sau khi Bạch Ốc liên tục chỉ ra sự sút giảm tỉ lệ tử vong tại Hoa Kỳ như là chứng thực của đối phó đúng dù nhiều tiểu bang trên toàn quốc đang vật lộn với những gia tăng cao điểm đột biến trong vi khuẩn.
Tổng Thống Brazil Jair Bolsonaro, người đã đùa giỡn với những hiểm nguy của vi khuẩn, đã tuyên bố thử nghiệm dương tính trong lúc ông phát biểu trên truyền hình toàn quốc hôm Thứ Ba, 7 tháng 7. Ông là nhà lãnh đạo thứ hai trên thế giới, sau Thủ Tướng Anh Boris Johnson, xác nhận bị truyền nhiễm vi khuẩn. Với hơn 1.6 triệu trường hợp bị lây vi khuẩn được xác nhận tính tới Thứ Ba, Brazil là nước bị lây lan nhiều thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ. Hơn 65,000 người đã thiệt mạng vì các biến chứng liên quan tới Covid-19 – cũng là nước có số tử vong cao thứ hai trên toàn cầu chỉ sau Mỹ. Các nhà nghiên cứu Brazil tin rằng con số thực sự còn nhiều hơn, cao hơn con số chính thức công bố.
Cháu gái của Tổng Thống Donald Trump là Mary Trump đã san bằng việc chỉ trích về sự chỉ trích Tổng Thống trong cuốn sách sắp ra mắt của cô, cáo buộc ông Trump là một “người mắc chứng rối loạn nhân cách thể hiện ở thái độ và hành vi chống đối xã hội cực đoan và thiếu lương tâm” (sociopath) và buộc tội rằng “sự kiêu ngạo và cố ý” của Trump có từ những ngày xưa của ông đe dọa đất nước, theo bản tin CNN cho biết hôm 7 tháng 7. “Donald, theo sự dẫn dắt của ông nội tôi và với sự đồng lõa, im lặng và không hành động của anh chị em, đã hủy hoại cha tôi. Tôi không thể để ông ta phá hoại đất nước tôi,” theo Mary Trump viết trong cuốn sách, mà CNN có được một bản cho biết.
Tổng Thống Donald Trump đã chính thức rút Hoa Kỳ ra khỏi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), theo bản tin của BBC tiếng Anh cho biết hôm 7 tháng 7 năm 2020. Tổng thống đã làm rõ điều này vào cuối tháng 5, cáo buộc WHO về việc bị TQ khống chế trong đại dịch vi khuẩn corona. Bất kể lời kêu gọi từ Liên Âu và những nước khác, ông Trump nói ông rút khỏi tổ chức này và lấy tài trợ đem cho nơi khác. Hôm nay ông Trump đã thông báo với Liên Hiệp Quốc và Quốc Hội về quyết tâm của ông, dù tiến trình này có thể mất ít nhất một năm.
Facebooker Nguyễn Đức Quốc Vượng đã bị tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại Việt Nam kết án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm 7 tháng 7 năm 2020.
Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt Nam vừa ra đời dù chưa thực sự được chính quyền CSVN cấp giấy pháp hoạt động là một sự kiện đáng lưu ý, nhưng việc chính quyền CSVN vì sức ép quốc tế để ngỏ cho sự thành lập tổ chức này có cùng nghĩa với việc họ sẽ để yên cho nghiệp đoàn độc lập này được trọn quyền độc lập hoạt động hay không là vấn đề khác, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 7 tháng 7 năm 2020.
“Vật dưỡng nhơn”, đó là câu tôi thường nghe Ông nội tôi nói ngày trước lúc tôi còn nhỏ. Con người đã biết ăn thịt từ thuở thật xa xưa rồi. Ngày nay, đối với một vài xứ đang phát triển, một bữa ăn có nhiều thịt là dấu hiệu của sự giàu sang và sự sung túc của gia đình. Giàu thì ăn thịt ăn cá, còn nghèo thì ăn rau ăn độn. Trong thực tế, ngày nay Tây phương đã thay đổi cái nhìn về thịt vì khoa học cho biết nó là đầu mối của nhiều vấn đề sức khỏe. Tác giả có được cơ duyên làm việc trên 23 năm ngay trong tuyến đầu của ngành thịt tại Canada nên cũng biết được đôi chút mặt trái cùng những hỉ nộ ái ố của kỹ nghệ thịt.
Cơn ho trở lại, không báo trước, không có lý do. Cơn ho không dữ dội như khi tôi đang bị nhiễm virus nhưng làm cho tôi thấy mình bị yếu đi Như nhiều người khác, tôi nhận ra rằng tôi đang phải sống và chịu đựng "cơn hậu địa chấn", ảnh hưởng lâu dài sau khi đã được chữa lành cúm Vũ Hán. Tôi bị nhiễm Coronavirus vào giữa tháng 4. Toàn bộ triệu chứng đến rất nhanh chóng. Bỗng nhiên tôi cảm thấy suy nhược, rất mệt mỏi, và tôi bị ho, một loại ho chưa bao giờ thấy trong đời.
Viện Kinh tế Đức (IW) đã phân tích cho nhật báo "Spiegel" khi nào bạn chính thức được coi là giàu có ở Đức và do đó là một phần trong mười phần trăm hàng đầu của dân số. Viện IW đã kiểm tra thu nhập và cơ cấu gia đình của tổng số 16.000 gia đình. Kết quả: Tất cả những người kiếm được hơn 3.529 € một tháng (tính ra khoảng 3990 USD !) đã trừ thuế (net income) đều thuộc hạng giàu có - chắc chắn ít hơn nhiều người nghĩ. Tuy nhiên, nghiên cứu đã kiểm tra không chỉ các tài sản tài chính, mà tổng thu nhập. Điều này cũng bao gồm bất động sản hoặc cổ phiếu.
11 giờ sáng ngày 4 tháng 7/2020 trước tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ thành phố Westminster, được mệnh danh lả thủ phủ của người Việt Nam chống Cộng Sản, đồng bào báo chí truyền thông đã đợi sẵn đoàn xe Jeep của ông Phạm Công, chủ tịch Hội cựu quân nhân Việt Mỹ và đồng minh, kiêm chủ tịch hội Quân Xã Việt Mỹ từ từ tiến đến. Ký giả Thanh Phong của báo Viễn Đông, ký giả Thanh Huy của Việt Báo, đang đứng dưới bóng cây đợi đoàn xe Jeep tới, cả hai ông là sĩ quan QLVNCH đã ở tù nhiều năm dưới chế độ Cộng Sản, ngồi bút của các ông rất sắt bén.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.