Hôm nay,  

Hành trình thơ của Huyền Không: Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc

14/04/202606:02:00(Xem: 2391)

Hành trình thơ của Huyền Không:

Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc
 

Nguyên Giác

 

Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời  nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.

Trong cơ duyên làm việc trong nghề báo, từ Tạp chí Giao Điểm cho tới Việt Báo, tôi đã nhiều lần hội kiến Thầy Mãn Giác, đã thưa hỏi nhiều chuyện về giáo hội, và văn hóa dân tộc. Bây giờ, Thầy Mãn Giác viên tịch đã gần tròn 20 năm. Và trong tuần vừa qua, tôi được trao tặng tuyển tập thơ "Kẻ Lữ Hành Cô Độc" của thi sĩ Huyền Không do nxb Phụ Nữ Việt Nam tái bản trong cơ duyên hội kiến Thượng Tọa Thích Minh Hải, vị trụ trì hiện nay của Chùa Việt Nam Los Angeles. 

Những độc giả quan tâm có thể nhớ rằng "kẻ lữ hành" không chỉ là một thi ảnh trong thơ của thi sĩ Huyền Không, mà cũng đã hiện lên cả trong một bài tham luận Thầy Mãn Giác từ Hoa Kỳ gửi về cho cuộc Hội Thảo Phật Giáo Trong Thời Đại Mới, Cơ Hội Và Thách Thức trong tháng 7/2006 do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn. Bài viết đó được Thầy gửi về Việt Nam ba tháng trước khi Thầy viên tịch.

Trong bài tham luận "Về một hướng đi của Phật giáo Việt Nam" gửi về cho sự kiện trên, Thầy Mãn Giác ghi nhận rằng Đức Phật và Thánh chúng cũng là những kẻ lữ hành, và Thầy kêu gọi trong bài viết, trích:
 

“Thứ nhất, kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường. Kinh nghiệm đó cho chúng ta hai bài học.

1.1. Một, bất hành bất thực. Phật và thánh chúng phải ôm bình bát đi xin mới có ăn.

1.2. Hai, Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng tìm đến Phật. Phật tìm đến quần chúng để được quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại cho quần chúng...” (ngưng trích)
 

Dưới mắt nhìn như thế của một Thiền sư lữ hành, nhà thơ Huyền Không đã thấy đời người chính thực là chiêm bao, nắng mưa, hạt mưa rơi, cuối trời mây bay... như trong bài Kiếp Người của tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc (KLHCĐ), trích:
 

 Đêm ngày qua lại chiêm bao

Nắng mưa là cảnh thuở nào xa xôi

Ba sinh nhớ chuyện luân hồi

Đưa tay đón nhận nổi trôi kiếp người

Sự đời như hạt mưa rơi

Ngàn năm sau nữa cuối trời mây bay.

(KLHCĐ, trang 329)
 blank                                   Bìa tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc

Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác đã được tôn vinh là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của Phật giáo Việt Nam hiện đại—một nhà sư mà cuộc đời Thầy là sự hòa quyện hài hòa giữa học thuật, thi ca và vai trò lãnh đạo tâm linh. Sinh năm 1929 tại miền Trung Việt Nam, Thầy xuất gia từ thuở thiếu thời và sớm nổi bật nhờ vào trí tuệ cũng như lòng tận tụy sâu sắc đối với Phật pháp. 

Trước năm 1975, Thầy Mãn Giác đã tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục Phật giáo tại Việt Nam; Thầy giảng dạy tại nhiều đại học và góp phần làm phong phú thêm đời sống trí thức cho một thế hệ đang nỗ lực dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Hành trình học thuật đã đưa Thầy đến Nhật Bản, nơi Thầy theo đuổi các bậc học cao hơn về triết học Phật giáo, một kho tàng giá trị mà sau này Thầy đã mang về để làm giàu thêm cho Phật giáo Việt Nam.

Ngoài vai trò là một nhà giáo dục, Thầy còn là một thi sĩ tài hoa. Thơ ca của Thầy là một kết hợp hiếm có giữa cảm thọ và tỉnh thức thâm sâu trong đời sống, khi ngồi thiền, khi tụng kinh và một chiều sâu triết lý về lẽ vô thường, lòng từ bi. Những vần thơ của Thầy ông được nhớ tới không chỉ vì vẻ đẹp văn chương, mà còn vì khả năng đơn sơ ghi lại những tuệ giác Phật giáo một cách giản dị và dễ tiếp cận đối với độc giả.

Như trong bài thơ Giao Thừa Tụng Kinh Pháp Hoa, nhà thơ Huyền Không viết vào Xuân Ất Hợi 1995, ghi lại hình ảnh Thầy ngồi giữa trăng sao, nhìn vào tâm soi rọi xem có vương chỗ nào, thấy vô lượng kiếp não phiền trôi qua, và rồi Thầy tụng Kinh Pháp Hoa, nhìn thấy trầm hương tám hướng bay về, trích:
 

Đèn khuya soi sáng Thiền Đường

Tâm ta soi sáng tâm vương chỗ nào

Đêm về ngồi giữa trăng sao

Ý thức đã chín ngọt ngào nằm yên

Rì rào gió lặng rừng thiêng

Biết bao nhiêu kiếp não phiền đi qua

Giao thừa ngồi tụng Pháp Hoa

Mặc cho thay đổi hằng sa nhiệm mầu

Cô đơn chìm với đêm sâu

Trầm hương tám hướng từ đâu bay về.

(KLHCĐ, trang 486-487)
 

Một điểm cũng nổi bật của Thầy Mãn Giác là thái độ dấn thân. Thầy không chỉ tụng kinh, ngồi thiền, thực hiện các bổn phận của một nhà sư trong tự viện, Thầy cũng nhập cuộc, Thầy cũng dấn thân vào đời, đem đạo Phật vào cuộc sống để phục vụ quần chúng. Theo nhận định của Thiền Sư Nhất Hạnh (1926-2022) -- một vị sư hơn Thầy Mãn Giác ba tuổi nhưng cùng sinh ra, xuất gia từ ấu thời và trưởng thành ở Huế, và cùng là những vị nỗ lực canh tân Phật giáo từ khi còn trong nước và cả khi ra hải ngoại –  trong bài dài 7 trang dùng làm Tựa cho thi tập Hương Trần Gian, về thơ của Thầy Mãn Giác rằng:
 

“Huyền Không, khác hơn các nhà thơ Phật giáo ở hiện đại, có một lối thơ mạnh, có tính cách tích cực. Đọc thơ Huyền Không, không còn ai dám bảo đạo Phật là chán đời, là xa đời. Thơ phản ảnh của sức sống tinh thần, không ở lại, không nương tựa, nhắm vào hạnh phúc nhân loại.” (KLHCĐ, trang 25)
 
blank    Hai vị Thiền sư: Thầy Nhất Hạnh (trái), Thầy Mãn Giác (phải)

Mạnh, tích cực, không nương tựa, không chán đời, không xa đời... Nhận định đó của Thầy Nhất Hạnh về thơ Huyền Không có thể thấy rất rõ ràng trong bài Tình Nhân Loại, trích bốn câu cuối như sau:
 

Dù cho lắm cuộc bể dâu

Thương nhau không dám làm đau lòng đời

Đi đâu cũng thấy hoa cười,

Đến đâu cũng thấy lòng người nở hoa.

(KLHCĐ, trang 145)
 

Thái độ tích cực hoằng pháp của Thầy Mãn Giác cũng được nêu rõ trong một bài thơ ngắn, dài bốn câu, Thầy viết bằng chữ Hán, dịch ra Hán Việt, rồi dịch ra ngôn ngữ Việt hiện nay. Trong bài thơ này có chữ “Tào Khê thủy” (dòng suối Tào Khê) là thi ảnh chỉ do dòng Thiền Huệ Năng. Bài thơ được in nơi trang bìa sau thi tập:
 

Tào Khê thủy nhập Mỹ lưu truyền

Giáo ngoại chơn tâm nhị thập niên

Thuyết pháp truyền đăng khai huệ nhãn

Kim Cang nội chiếu thị tiền duyên.

                 Và rồi Thầy dịch là:

Tào Khê vào Mỹ lan xa

Hai mươi năm chẵn chỉ là "truyền riêng"

Con mắt Huệ soi đèn Thiền

Kim Cang rực sáng tiền duyên thuở nào.

Los Angeles, 29.9.1998

(KLHCĐ, trang bìa sau)
 

Trong mọi trường hợp, Thầy Mãn Giác cũng cho thấy nơi bất kể hướng đi xa nào, tâm hồn Thầy cũng gắn liền với mái chùa quê nhà, với văn hóa dân tộc. Cảm xúc đó hiển lộ rõ ràng trong bài thơ Nhớ Chùa, trích:

Biết đến bao giờ trở lại quê

Phân vân lòng gởi nhớ nhung về

Tang thương dù có bao nhiêu nữa

Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

 

Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.

(KLHCĐ, trang 137)
 

Chúng ta có thể chú ý rằng, Thầy Mãn Giác du học Nhật Bản các năm 1960-1965, do vậy trong thời kỳ biến động Phật giáo 1963, Thầy đang ở Tokyo, một nơi rất xa với quê nhà. Và lúc đó, Thầy chỉ biết hướng về quê hương cầu nguyện, như trong bài thơ Đêm Xuân Cầu Nguyện dài 24 dòng, Thầy viết trong đêm Giao Thừa Quý Mão 1963, trích ba khổ thơ cuối bài là:
 

Sông Hằng nước chảy lang thang

Có con Hạc trắng bay ngang thuở nào

Gió về, nước dợn lao xao

Lòng không đóng cửa: ra vào thiên thu

 

Sương ơi, đừng phủ trăng mù

Cho lòng giải thoát vi vu dặm ngàn

Xuân đi, dù lắm hoa tàn

Trước sân có nhánh mai vàng xinh xinh.

 

Chắp tay cầu nguyện thanh bình

Buồm xuôi, gió thuận, gập ghênh qua nhanh

Đêm nay nguyên đán tâm thành

Nghe hương trầm thoảng về quanh mái nhà.

(KLHCĐ, trang 254-255)
 

Năm nay, tròn 20 năm Thi sĩ Huyền Không viên tịch, tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc được ấn hành với Lời Thưa in nơi đầu sách tác bạch rằng:

“Lời Thưa

Thơ của thiền sư - thi sĩ Huyền Không là một cõi thơ đặc biệt, nơi văn chương và thiền học hòa quyện trong sự tĩnh lặng sâu thẳm của tâm thức. Ở đó, chữ nghĩa không chỉ để diễn đạt cảm xúc, mà còn là phương tiện chuyên chở đạo lý, là tiếng vọng thầm thì của cõi lòng trước thân phận con người và vận mệnh quê hương, đất nước và đạo pháp. Thơ Ngài mang đậm sắc thái văn chương tinh luyện, thấm đẫm thiền vị, lan tỏa hương vị tình người, tình quê hương và hồn thiêng sông núi.

Những vần thơ tưởng chừng nhẹ tinh như mây khói, nhưng lại có sức đánh động mạnh mẽ, khơi mở những tầng sâu lắng nhất của tâm hồn người đọc. Qua thời gian, nhiều bài thơ của Ngài đã trở thành những dấu ấn bất hủ, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm diện mạo văn hóa và văn học Phật giáo Việt Nam.

Với tâm niệm tri ân và kính ngưỡng, Tông phong môn hạ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles phát tâm tái bản các tập thơ của Ngài, như một cách lưu giữ gia tài pháp bảo mà Đức Hòa thượng Hội chủ Huyền Không - Thích Mãn Giác để lại cho hàng hậu thế. Tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc, gồm các tập thơ của Ngài đã xuất bản trước đây.

Tuyển tập thơ này không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là hành trang tâm linh, phản chiếu hình ảnh một vị đạo sư đã thực chứng. Trong thơ toát lên phẩm chất của bậc thức giả, thấm nhuần hương vị thiền học. Việc in lại các tập thơ này được thực hiện nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Đức Trưởng lão Hòa thượng Viện chủ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles viên tịch, như một nén tâm hương dâng lên bậc Thây của Tứ chúng, đã trọn đời hiến dâng cho Đạo pháp và Dân tộc.

Lần tái bản này, chỉ khiêm cung tập hợp lại các tập thơ của Ngài, không có bất cứ sự thêm bớt hay diễn giải nào, với mong muốn giữ trọn tinh thần nguyên sơ của cõi thơ Huyền Không. Việc làm này vừa nhằm gìn giữ di sản pháp bảo, vừa thể hiện tấm lòng tri ân đối với vị đạo sư khả kính, người đã có những đóng góp lớn lao cho văn hóa giáo dục Phật giáo, như một pháp thí mang giá trị tâm linh vĩnh cửu.

Nguyện cho những trang thơ này tiếp tục được truyền tay, được đọc và được chiêm nghiệm, để ánh sáng thiền vị và nhân văn mà thiền sư - thi sĩ Huyền Không gửi gắm vẫn mãi lan tỏa, âm thầm mà sâu lắng, trong lòng người hôm nay và mai sau.

Môn hạ Tông phong

Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles”

(KLHCĐ, trang 5-7)
 

Người điểm sách xin ghi nhận một điểm ít biết đối với thế hệ trẻ nơi hải ngoại, rằng chữ “Thiền” trong các thập niên đầu thế kỷ trước đôi khi được các cụ viết là “Thuyền” khi chữ quốc ngữ còn sơ khai – do vậy, nhà thơ Huyền Không có bài từng viết chữ “Thiền môn” là “Thuyền môn”, viết chữ “Thiền định” là “Thuyền định” và vân vân.

Như trong bài thơ Chiếc Ca Sa, ban đầu là từ thi tập Hương Trần Gian (xuất bản lần đầu tại Sài Gòn bởi nhà Liên Hoa vào năm 1953), sau mới in lại vào tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc,  trích như sau:
 

Nơi cảnh Thuyền môn, sóng gió đàn,

Ngàn đời không nhuốm bụi thời gian.

Tâm hồn siêu thoát ngoài vô tận,

Thuyền Định tháng ngày mãi dệt đan...

 

Tự tánh bao giờ có ruổi rong;

Mê, thì đi lạc giữa muôn dòng.

Quay về nhiếp niệm trong giây phút,

Thấy cả muôn đời bến nước trong.

(KLHCĐ, trang 63)
 

Nhiều thập niên sau, nhà thơ Huyền Không dùng chữ theo tiêu chuẩn quốc ngữ đã định hình, không dùng chữ “Thuyền” cho “Thiền” nữa. Như trong bài thơ Đạt Đạo, viết vào ngày “Mồng 9 tháng 9 Canh Thân” tức là năm 1980. Bài thơ Đạt Đạo trích như sau:
 

Qua Thiền Môn: thấy trời xanh

Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang

Khói hương quyện, cảnh mơ màng

Không gian là chiếc y vàng quấn thân

Thiền Môn xưa sạch phong trần

Kim Cang kinh khép trầm luân thoát rồi

Ta từ sanh tử về chơi

Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng.

(KLHCĐ, trang 431)
 

Nhà thơ Huyền Không giải thích như thế nào về thi ảnh “kẻ lữ hành”? Trong bài viết năm 2002, nhà thơ Huyền Không viết trong bài “Mấy Lời Thêm Cho Lần Tái Bản” trích như sau, dẫn ra hình ảnh Đức Phật (người thành Xá-vệ) tới lời tự sự của nhà thơ Nguyễn Du (1766-1820), người từng có ba năm mặc áo nhà sư đi hành cước ba năm tại Trung Quốc. Nhà thơ Huyền Không viết, trích:
 

“Thơ, có một đôi bài nhớ về Người-Xá-Vệ xưa đã đi những cuộc đi trầm trọng của đời mình trên con đường trăng, mới thấy tưởng là ấm áp chung cùng nhưng rồi quay trở lại, Trăng và Người vẫn là hai niềm riêng, cô độc đến lùng. Phải rồi, mỗi người bước vào đời là phải đi một mình trên những còn đường bắt đầu từ chân mây bước hoài không tới. Rồi có khi về lại, chôn về như là nét mơ màng giả dối của đường ranh giới giữa biển và trời, dừng lại mà không gặp gỡ, trở về mà chưa từng hội ngộ, thiên thu lầm lũi...

Bốn mươi năm sau, từ giữa lòng một cuộc lữ chua xót khác nhìn lại, không gian đã chuyển dời, thời gian đã thành sương trên tóc, những người ngày xưa đã mỗi người một nẻo... tôi gặp lại cái mầu sắc tê tái trong tâm sự cũ của Nguyễn Du:

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm...

(Nhiều năm làm lữ khách nước mắt từng chảy dưới đèn.

Lòng nhớ quê nhà ngoài nghìn dặm chỉ còn biết gửi vào bóng trăng).”

(KLHCĐ, trang 277)
 

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy nỗi cô độc của Thầy không chỉ trong bước đi lữ khách, mà hiển lộ ngay cả khi Thầy tụng kinh, nơi Đức Phật từng dạy rằng mỗi người phải tự thân trở thành một hải đảo, tự mỗi người thừa đương Chánh pháp. Bài thơ Tụng Kinh chỉ bốn dòng đã ghi lại:
 

Mở ra Tam tạng Kinh

Ta ngồi đọc một mình

Trăng sao soi từng chữ

Giữa đất trời lặng thinh.

(KLHCĐ, trang 469)  
 

Sau đây là sơ lược tiểu sử Đại Lão  Hòa thượng Thích Mãn Giác do Việt Báo trích từ sách Mừng Khánh Thọ Bẩy Mươi Hoà Thượng Thích Mãn Giác.

Hòa thượng Thích Mãn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ (1929) tại Cố Đô Huế, nguyên gốc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia học Phật từ thuở nhỏ. Đã đảm nhận nhiều trọng trách trong Giáo hội: Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên, Tổng Vụ Văn Hóa và Hội Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Báo Quốc, Hòa Thượng được Tổng Hội PGVN Trung Phần công cử làm Giảng Sư, Hội Trưởng Hội Phật Giáo Đà Lạt từ năm 1953 và sau đó, vào năm 1957, đại diện Tổng Hội ở 5 tỉnh Cao Nguyên Trung Phần.

Đến năm 1960, được học bổng đi du học Nhật Bổn, Tokyo. Cuối năm 1965, tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học, được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa mời về làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sài gòn, chuyên phụ trách giảng dậy Triết Học Ấn Độ Đông Phương. Trong khi đó, Viện Hóa Đạo công cử Hòa Thượng giữ trách vụ Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Điều Hành Viện Đại Học Vạn Hạnh. Ngoài ra Hòa Thượng cũng đảm trách giảng dạy Đại Học Văn Khoa Huế về Triết Học Đông Phương và Văn Học Đại Cương. Hòa Thượng có viết nhiều sách, trong số có 5 thi phẩm mà được mọi người mến mộ qua đạo hiệu Huyền Không.

Cuối tháng 6 năm 1977, Hòa Thương đã đến Mã Lai tỵ nạn bằng thuyền đánh cá. Sau thời gian ba tháng tạm trú trong Trại tỵ nạn, vào 12 tháng 10 năm 1977, Hòa Thượng đã giã từ Trại Tỵ nạn lên đường đi Paris, Pháp Quốc. Sau 3 tháng đi khắp Âu Châu, Hòa Thượng đã tiếp xúc với báo chí, Hội Ân Xá Quốc Tế, Đài BBC Luân Đôn… và đến tháng giêng năm 1978 đến Hoa Kỳ.

Cuối năm 1978, Hòa Thượng đã mời tất cả Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ về Los Angeles, Đại Hội để thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Từ 1978 tới 1998, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã đóng góp nhiều vào công cuộc hoằng dương chánh pháp nơi hải ngoại.
 blankTừ phải: Thượng Tọa Thích Minh Hải, và Cư sĩ Nguyên Giác tại 1 tiệm cơm chay ở Quận Cam.  

Các độc giả quan tâm về tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc của nhà thơ Huyền Không, hay các tác phẩm khác của Hòa Thượng Thích Mãn Giác, có thể liên lạc với:

Thượng Tọa Thích Minh Hải

Trụ trì Tổ Đình Chùa Việt Nam Los Angeles

863 S Berendo St, Los Angeles, CA 90005

 

Nhiều đương đơn đã nhận được thư mời phỏng vấn vào tháng 5- 2020. Tuy nhiên, không có những cuộc phỏng vấn cấp chiếu khán di dân được tiến hành cho đến ngày hôm nay. Cho dù nhận được thư phỏng vấn gần đây, các đương đơn không nên đến Tòa Lãnh sự khi trang mạng của Tòa Lãnh sự vẫn loan báo các cuộc phỏng vấn bị hủy bỏ.
Tất cả các tiểu bang tại Hoa Kỳ đều tái mở cửa từng phần hôm Thứ Tư, 20 tháng 5 khi Connecticut nới lỏng các hạn chế vi khuẩn corona dù ít nhất 17 tiểu bang đang chứng kiến sự gia tang các trường hợp lây nhiễm Covid-19, theo CNN cho biết. Connecticut hôm Thứ Tư cho phép, với các hạn chế, người dân sử dụng không giản ăn uống bên ngoài trời, các văn phòng, các tiệm bán lẻ và thương xá, các viện bảo tang và sở thú, theo CNN cho hay.
Đại dịch vi khuẩn corona đã kéo dài nhiều tháng qua mang theo nó những thiệt hại kinh hoàng về kinh tế và nhân mạng trên toàn thế giới, nhất là Hoa Kỳ. Trong lịch sử loài người cũng đã chứng kiến nhiều trận đại dịch kinh khủng như thế. Ngoài mặt tiêu cực quá lớn mà đại dịch phủ trùm lên thế giới, các nhà phân tích cũng đã cho thấy một số điểm tích cực xuất hiện. Phó Giáo Sư dạy về Phát Triển Cộng Đồng và Khu Vực tại Đại Học UC Davis là Catherine Brinkley đã chỉ ra một số điểm tích cực từ đại dịch đối với các thành phố Mỹ trong bài viết “How pandemics have changed American cities – offen for the better,” được đăng trên trang mạng www.theconversation.com. Việt báo xin đăng bản dịch Việt của Thụy Âm để cống hiến cho độc giả tường lãm *** Kinh nghiệm của Thành Phố New York như là trung tâm của đại dịch COVID-19 tại Hoa Kỳ đang làm tăng các vấn nạn về cuộc sống thành thị. Các cư dân bị cách ly lo sợ về tương lai trong thành phố được biết là nơi đông đúc nhà cửa
Hơn 4 triệu người Mỹ đã khai thất nghiệp vào tuần trước, theo Bộ Lao Động cho biết hôm Thứ Năm, 21 tháng 5. Điều đó đã mang tổng số người khai thất nghiệp lên tới hơn 43 triệu, theo cơ bản được điều chỉnh theo mủa, kể từ đại dịch vi khuẩn corona lây lan trên toàn quốc. Nói cách khác, ¼ người lao động tại Mỹ đã khai thất nghiệp trong vòng 10 tuần lễ qua. “Khai thất nghiệp trong thời gian khủng hoảng vi khuẩn corona đã vượt khỏi 37 triệu người khai trong vòng 18 tháng của Đại Suy Thoái,” theo Daniel Zhao, kinh tế gia kỳ cựu tại Glassdoor, cho biết trong một thông báo. “Thị trường lao động vẫn nằm trong hố sâu mà nó phải leo ra khỏi.”
Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Năm, 21 tháng 5 đã không đeo khẩu trang bảo vệ vi khuẩn corona trong một phần thời gian đi thăm một nhà máy của Hãng Chế Tạo Xe Hơi Ford tại Michigan, dù luật tiểu bang và chính sách của công ty yêu cầu đeo khẩu trang ở đó. Trump, thường từ chối đeo khẩu trang nơi công cộng, đã viếng thăm Nhà Máy Rawsonville Components Plant của Ford tại Ypsilanti, là nơi có chính sách yêu cầu đeo khẩu trang ở đó. Nhà máy hiện đang chế tạo máy thở để đáp ứng với đại dịch Covid-19 tại Hoa Kỳ.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đưa ra cảnh báo Trung Quốc qua tuyên bố bởi quốc hội bù nhìn rằng một dự luật an ninh quốc gia tại Hồng Kông sẽ được lên chương trình nghị sự trong cuộc họp sắp tới, một động thái có vẻ sẽ đổ thêm dầu vào sự giận dữ và các cuộc biểu tình chống đối tại thành phố bán tự trị này, theo CNN tường trình cho biết hôm Thứ Năm, 21 tháng 5.
Vào trưa Thứ Ba 18/05/2020, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa hạt 48) đã có buổi ghé thăm văn phòng Đài Truyền Hình SBTN, trao bằng tưởng lục cho SBTN, tổ chức Rise và hơn 70 ca nhạc sĩ gốc Việt đã tham gia cho chương trình ca nhạc online “Sing For Our Heroes”.
Vụ nổ súng hôm Thứ Năm, 21 tháng 5 tại Căn Cứ Naval Air Station Corpus Christi tại Texas có liên hệ tới khủng bố, theo các viên chức FBI cho biết, theo CNN tường trình. Các viên chức trước đó nói rằng tay sung là “độc lập,” nhưng có thể có người thứ hai vẫn còn tại đào, theo viên chức FBI Leah Greeves cho biết trong cuộc họp báo ngắn gọn. Nhân viên này đã không cung cấp thêm thông tin. Tay súng đã bị giết chết, theo Greeves cho hay.
Nhà báo Phạm Thành (tên đủ là Phạm Chí Thành), là người sáng lập blog Bà Đầm Xòe và viết nhiều sách chỉ trích chế độ CSVN và ông Nguyễn Phú Trọng đã bắt tại Hà Nội hôm 21 tháng 5 năm 2020, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết.
Với những thay đổi khi chuyển sang Giai đoạn 2 trong cơn dịch COVID-19 tại quận Cam, Thành phố Garden Grove sẽ cấp giấy phép tạm thời cho các nhà hàng mở lại với những yêu cầu nghiêm ngặt về sức khỏe và an toàn. Các quán ăn, nhà hàng tại địa phương hiện có thể nộp đơn xin cấp giấy phép ăn uống ngoài trời có hiệu lực trong vòng 60 ngày để mở rộng khu vực ăn uống bên ngoài vỉa hè nếu nhà hàng tọa lạc ở trong một trung tâm mua sắm (shopping center), hoặc trong các bãi đậu xe do nhà hàng sở hữu.
75% dân Mỹ tin rằng Hoa Kỳ nên tiếp tục những nỗ lực chận đứng sự lây lan của con virus Corona. Mùa xuân khốc liệt năm nay, nước Mỹ đã phải đối đầu với hai cuộc khủng hoảng. Và với thời gian 14 tuần lễ vừa qua, đã có hơn 84,000 người Mỹ chết vì đại dịch. Con số đó lớn gấp 28 lần số tử vong của khủng bố 9/11 (3,000 người chết), hơn cả số quân nhân Mỹ tử trận trong chiến tranh Việt Nam (58,220 hy sinh) và chiếm 25% tổng số người chết vì đại dịch trên toàn cầu. Cùng lúc đó, các biện pháp phong tỏa mọi hoạt động kinh tế, xã hội với quy mô toàn quốc đã khiến 33 triệu người mất công ăn việc làm, buộc hàng trăm ngàn các doanh nghiệp nhỏ phải tạm đóng cửa và là nguyên nhân gây ra tình trạng 20% trẻ em Mỹ lâm vào cảnh bấp bênh ăn bữa nào biết bữa ấy.
Tại Saigon (TP Ho Chi Minh) cảnh sát bắt giữ và đối xử tàn tệ hai nhân viên làm việc cho nhà xuất bản Tự do (Liberal Publishing House). Con gái của một trong hai người nói trên, ông Thủy Tuất, người giao sách của nhà xuất bản, đã bị bắt giữ. Kể từ đầu tháng 10 năm 2019, hàng chục người thường quan hệ với nhà xuất bản Tự do đã bị công an nhòm ngó, theo dõi. Họ là những người hoặc đang và đã làm việc cho nhà xuất bản hoặc bị cho là đã mua hoặc đọc sách của nhà xuất bản.
Thời gian qua các nhà ngoại giao Trung cộng hung hăng tấn công bất cứ nước nào nghi ngờ về sự minh bạch và thành công của Trung cộng trong xử lý đại dịch do virus corona gây ra. Thủ tướng Úc ông Scott Morrison lại đề nghị tiến hành điều tra về nguồn gốc và cách thức các quốc gia xử lý đại dịch, nên nước Úc lãnh chịu phản ứng hung bạo nhất, nhưng chính nhờ vậy người Úc mới thức tỉnh đồng lòng “thoát Trung”, một bài học đáng giá để chúng ta học hỏi.
Thèm ngọt là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể, để củng cố năng lượng. Carbohydrate hay Glucide là những hợp chất bao gồm đường (sugar), bột đường hay tinh bột (amidon, starch) và chất xơ (fibre). Những chất nầy rất cần thiết cho chúng ta để sống. Nhưng ngọt quá đôi khi cũng nguy hiểm lắm đó!
Xét trên bình diện vật lý, thuyết Big Bang “tồi tệ hết thuốc chữa” (atrocious and unjustifiable from a physical point of view.) Bạn đọc đừng giật mình, nhăn mặt. Lời chỉ trích nặng nề ấy của Einstein, không phải của tôi. Năm 1927, Georges Lemaître , một tu sĩ và cũng là khoa học gia lừng danh người Bỉ, trình làng thuyết “Big Bang”, giải thích nguồn gốc và sự hình thành của vũ trụ. Theo thuyết này thì vũ trụ khởi đầu từ một nguyên tử nguyên thủy (primeval atom – primordial atom), tạm gọi là Nguyên Tử Gốc chứa đựng đủ mọi loại vật chất, phóng xạ, cùng thời gian, không gian. Tất cả được ép, nén chặt vào một khối nhỏ đường kính cỡ vài ly (millimeter). Rồi cái khối nhỏ như viên sỏi tí tẹo ấy nổ ra, chỉ trong một phần tỷ tỷ của một giây, đã bung ra lớn khủng khiếp, và sau khoảng 13 tỷ 800 triệu năm thì Nguyên Tử Gốc trở thành Năm 1927, Georges Lemaître , một tu sĩ và cũng là khoa học gia lừng danh người Bỉ, trình làng thuyết “Big Bang”, giải thích nguồn gốc và sự hình thành củ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.