Hôm nay,  

Vn Huấn Luyện Sư Đoàn Dư Luận Viên Và Ai Để Làm Tin Giả Nhuộm Đỏ Cả Nước

08/05/202610:37:00(Xem: 1638)
blank

Bị Mỹ cưỡng ép VN mở rộng kinh tế và tăng quyền cho người lao động, CSVN huấn luyện sư đoàn dư luận viên và AI để làm tin giả nhuộm đỏ cả nước: dẫn dắt cả nước thảo luận xã hội và tự động xóa bỏ nội dung bất đồng chính kiến. Mỹ muốn giúp VN ổn định để khỏi nghiêng về TQ

Theo báo The Standard và Reuters, Đảng Cộng sản Việt Nam dự định sử dụng người nổi tiếng và trí tuệ nhân tạo AI trong chiến dịch tuyên truyền kỹ thuật số. Đảng Cộng sản cầm quyền Việt Nam chuẩn bị cải tổ triệt để bộ máy tuyên truyền của mình, chuyển từ lối hùng biện truyền thống sang chiến lược ưu tiên kỹ thuật số, sử dụng người nổi tiếng trên mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo.

Các tài liệu nội bộ mà Reuters thu được tiết lộ một lộ trình đầy tham vọng nhằm hiện đại hóa ảnh hưởng của nhà nước. Chiến lược này đặt mục tiêu xây dựng mạng lưới ít nhất 1.000 người nổi tiếng và 5.000 chuyên gia trí tuệ nhân tạo vào năm 2030.

Mục tiêu là làm ngập tràn không gian kỹ thuật số bằng nội dung “tích cực”, đảm bảo hệ tư tưởng của đảng gây được tiếng vang với thế hệ trẻ am hiểu công nghệ, những người ngày càng xa lánh truyền hình nhà nước để chuyển sang TikTok và Facebook.

Tạo ra “Miễn dịch ý thức hệ” (‘Ideological Immunity’): Chiến lược được đề xuất được thiết kế để tạo ra cái mà các tài liệu mô tả là “miễn dịch ý thức hệ” trong toàn xã hội. Bằng cách chi phối câu chuyện, chính quyền hy vọng sẽ bảo vệ công chúng khỏi những gì họ cho là “thông tin có hại, độc hại và sai lệch”.

Dưới sự lãnh đạo của Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Tô Lâm, một cựu lãnh đạo an ninh nội địa, đảng đang siết chặt kiểm soát đối với dư luận. Dự thảo đặt ra mục tiêu rõ ràng: đến cuối thập kỷ này, 80% nội dung tiếng Việt trên mạng phải là “tích cực”.

Để đạt được điều này, đảng dự định triển khai các công cụ trí tuệ nhân tạo do các công ty công nghệ trong nước phát triển để “dẫn dắt thảo luận xã hội” và tự động xóa bỏ nội dung bất đồng chính kiến. Mục tiêu là loại bỏ 90% bài đăng “vi phạm” trong vòng 24 giờ kể từ khi đăng tải.

Sự trỗi dậy của những người có tầm ảnh hưởng được nhà nước tài trợ: Để thu hẹp khoảng cách với giới trẻ, đảng đang chuyển hướng sang các hình thức dễ tiếp cận hơn, bao gồm podcast, video ngắn và các chiến dịch truyền thông xã hội có mục tiêu cụ thể.

Những người có tầm ảnh hưởng được tuyển dụng dự kiến ​​sẽ đăng tải các tài liệu đã được phê duyệt và quảng bá các hoạt động của chính phủ để đổi lấy các đặc quyền như các chuyến đi được tài trợ, mặc dù được cho là không có khoản bồi thường tài chính trực tiếp nào trong gói tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, việc thúc đẩy “sự sáng tạo” này tiềm ẩn những rủi ro đối với một chế độ vốn quen với việc kiểm soát tuyệt đối. Một bài hát gần đây có tựa đề “Bác tôi”, so sánh Chủ tịch Tô Lâm với nhà lãnh đạo nhân dân tộc Hồ Chí Minh, được cho là đã gây khó chịu cho các quan chức đảng vì “không phù hợp”.
Mặc dù đang nỗ lực thúc đẩy sự tham gia của quần chúng hiện đại, đảng vẫn thận trọng với bất kỳ nội dung nào từ cơ sở, ngay cả những nội dung ủng hộ, có thể vô tình làm suy yếu uy tín được xây dựng cẩn thận của giới lãnh đạo cấp cao. (Ghi chú của người dịch: mới vài ngày trước, báo chí loan tin bà Ngô Phương Ly, phu nhân của Tổng Bí Thư Tô Lâm, được "suy tôn" làm Chủ tịch Danh dự Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam. Có phải đây là dấu hiệu VN đang làm theo mô hình Bắc Hàn?)
.
Theo tin UPI hôm 7 tháng 5/2026, phân tích của chuyên gia về Biển Đông James Borton qua bài "U.S.-Vietnam trade talks risk strategic misstep in Indo-Pacific balance". James Borton hiện là Nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Viện Chính sách Đối ngoại thuộc Trường SAIS (Đại học Johns Hopkins), đồng thời là tác giả cuốn sách "Harvesting the Waves: How Blue Parks Shape Policy, Politics, and Peacebuilding in the South China Sea" (Gặt hái những con sóng: Cách các Công viên Xanh định hình Chính sách, Chính trị và Kiến tạo Hòa bình tại Biển Đông). Ông Borton cũng đảm nhiệm vai trò Chủ Bút ấn phẩm South China Sea NewsWire (Thông Tấn Biển Đông). James Borton lý luận rằng trong khi Mỹ hối thúc VN mở rộng kinh tế vả tăng quyền cho công nhân, cần giữ mức cân bằng để giữ VN khỏi nghiêng về TQ. Bài viết như sau.

Các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt đứng trước nguy cơ gây ra bước đi sai lầm chiến lược đối với cán cân tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Khi Washington và Hà Nội bước vào một giai đoạn ngoại giao thương mại đầy bận rộn, những tuần tới sẽ là phép thử để xem liệu một trong những mối quan hệ đối tác kinh tế thực dụng nhất tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có thể duy trì đà phát triển của mình, hay sẽ bị vướng mắc vào chính những mâu thuẫn mà hai bên đã nỗ lực tránh né.

Một loạt các cuộc họp -- bao gồm các phiên điều trần theo Mục 301 về năng lực sản xuất công nghiệp diễn ra từ thứ Ba đến thứ Sáu tuần này, các cuộc thảo luận về vấn đề lao động cưỡng bức từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5, và các cuộc tham vấn song phương vào thứ Hai và thứ Ba tuần tới -- đang diễn ra vào một thời điểm mang tính bước ngoặt.

Những cuộc họp này sẽ giúp xác định liệu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể duy trì mối quan hệ thương mại vốn đã trở thành trọng tâm đối với sự kiên cường của các chuỗi cung ứng, lợi ích kinh doanh của Hoa Kỳ, cũng như đà thăng tiến kinh tế liên tục của Việt Nam hay không.

Về bản chất cốt lõi, Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không chỉ được xây dựng dựa trên nền tảng ngoại giao đơn thuần, mà còn dựa trên những logic kinh tế vững chắc.

Mối quan hệ đối tác được xây dựng dựa trên sự bổ trợ lẫn nhau

Trong suốt thập niên qua, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những đối tác thương mại tăng trưởng nhanh nhất của Hoa Kỳ, được thúc đẩy bởi sự hội tụ của những lợi ích mang tính cấu trúc. Khi các doanh nghiệp Mỹ đa dạng hóa hoạt động sản xuất ra ngoài phạm vi Trung Quốc, Việt Nam đã trở thành một điểm đến được ưu tiên lựa chọn, nhờ mang lại lợi thế cạnh tranh về chi phí, sự ổn định chính trị, cùng mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Số liệu thống kê từ phía Hoa Kỳ cho thấy Việt Nam đã đạt mức thặng dư thương mại 123,5 tỷ USD với Hoa Kỳ trong năm ngoái -- mức chênh lệch thương mại lớn thứ tư, chỉ sau Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Mexico. Đây là một con số đang thu hút sự chú ý và xem xét ngày càng kỹ lưỡng tại Washington, ngay cả khi nó phản ánh chiều sâu của sự hội nhập thương mại song phương giữa hai nước.

Từ các mặt hàng điện tử, may mặc cho đến hàng tiêu dùng, hoạt động sản xuất tại Việt Nam thường được lồng ghép chặt chẽ vào các chuỗi cung ứng do chính các doanh nghiệp Hoa Kỳ và các đối tác đồng minh thiết kế và tài trợ. Các công ty Mỹ được hưởng lợi từ chi phí sản xuất thấp hơn và sự đa dạng hóa rủi ro, trong khi các mặt hàng xuất cảng của Việt Nam lại giúp duy trì đà tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm ngay tại quê nhà.
Việc phá vỡ hệ sinh thái này thông qua các biện pháp thương mại cứng rắn và thiếu linh hoạt sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây tổn hại chính đến những doanh nghiệp mà Washington đang nỗ lực bảo vệ.

Hà Nội đã liên tục phát đi những tín hiệu thể hiện thiện chí và sự sẵn sàng đối thoại. Việt Nam tiếp cận các căng thẳng thương mại không phải bằng thái độ đối đầu, mà bằng tinh thần đàm phán -- một lập trường hoàn toàn tương phản với những mối quan hệ kinh tế mang tính đối địch hơn. Các cuộc tham vấn sắp tới cần phải củng cố thêm quỹ đạo hợp tác này, thay vì làm chệch hướng nó.

Suy nghĩ lại về vấn đề "dư thừa năng lực sản xuất"
Cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề "dư thừa năng lực sản xuất" đã trở thành một trọng tâm trong các cuộc thảo luận thương mại của Hoa Kỳ, đi kèm với những lo ngại rằng thuật ngữ này đang bị áp dụng một cách quá rộng rãi cho nhiều mô hình kinh tế khác nhau.
Trong trường hợp của Việt Nam, các quan chức và giới quan sát ngành nhận định rằng sự tăng trưởng sản xuất chủ yếu được thúc đẩy bởi các khoản đầu tư dựa trên cơ chế thị trường và sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng toàn cầu, thay vì xuất phát từ tình trạng dư thừa công nghiệp do nhà nước chỉ đạo.

"Tình trạng dư thừa năng lực sản xuất tại Việt Nam khác biệt rất nhiều so với Trung Quốc," ông Murray Hiebert, Trưởng bộ phận nghiên cứu tại Bower Group Asia, cho biết. "Các nhà máy tại Trung Quốc đang sản xuất ra lượng hàng hóa dư thừa khổng lồ, sau đó bán phá giá vào các thị trường thế giới với mức giá thấp hơn giá thị trường. Ngược lại, Việt Nam lại dựa vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để sản xuất hàng hóa phục vụ xuất cảng."

Ông lưu ý rằng động lực xuất cảng của Việt Nam chủ yếu đến từ khối doanh nghiệp nước ngoài; theo đó, các công ty đa quốc gia—đặc biệt là những công ty đến từ Hoa Kỳ và Nam Hàn—chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất cảng, trong khi các nhà sản xuất nội địa chỉ đóng góp khoảng một phần năm.
"Nền kinh tế Việt Nam về cơ bản đóng vai trò là một nền tảng sản xuất cho các doanh nghiệp nước ngoài," ông Hiebert nhận định. "Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ cần thấu hiểu rằng Việt Nam không tạo ra tình trạng dư thừa năng lực sản xuất thông qua việc trợ cấp cho ngành chế tạo, mà đạt được điều đó nhờ việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài—những đơn vị đã tận dụng Việt Nam như một cứ điểm sản xuất chi phí thấp để phục vụ các thị trường toàn cầu."



Sự mở rộng năng lực sản xuất tại Việt Nam được định hình bởi quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu—vốn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi những căng thẳng thương mại Mỹ-Trung cũng như các gián đoạn trong thời kỳ đại dịch—chứ không phải do những nỗ lực do nhà nước dẫn dắt nhằm ồ ạt đưa hàng hóa tràn ngập các thị trường quốc tế. Nhiều nhà máy đang hoạt động tại Việt Nam thực chất là những cơ sở đã được các công ty đa quốc gia di dời hoặc mở rộng quy mô nhằm duy trì khả năng tiếp cận với người tiêu dùng tại Hoa Kỳ.

Việc đánh đồng mô hình kinh tế này với tình trạng sản xuất dư thừa do trợ cấp sẽ dẫn đến nguy cơ chẩn đoán sai bản chất vấn đề, đồng thời gây bất lợi cho một đối tác vốn dĩ đã góp phần thúc đẩy, thay vì làm méo mó, các kết quả vận hành của thị trường.

Cải cách lao động và những tiến bộ trong chuỗi cung ứng

Những quan ngại liên quan đến các thực tiễn lao động và tính minh bạch của chuỗi cung ứng vẫn tiếp tục là một phần trong các cuộc thảo luận chính sách, đặc biệt là trong bối cảnh những tranh luận về vấn đề lao động cưỡng bức vẫn đang diễn ra. Tuy nhiên, những quan ngại này cần được xem xét một cách cân đối, dựa trên những bước tiến vững chắc—dù đôi khi chỉ mang tính tiệm cận—mà Việt Nam đã đạt được.

Trong những năm gần đây, Hà Nội đã thực hiện những cải cách lao động quan trọng, phù hợp với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); bao gồm việc cập nhật Bộ luật Lao động, mở rộng quyền đại diện cho người lao động và tăng cường các cơ chế tuân thủ.
Việt Nam cũng đã ưu tiên vấn đề truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong các lĩnh vực xuất cảng chủ chốt. Từ ngành thủy sản đến sản xuất chế tạo, các cơ quan chức năng đã đầu tư vào hệ thống giám sát, tăng cường công tác thanh tra và cải thiện năng lực quản lý – những bước đi nhằm đáp ứng kỳ vọng của các đối tác và thị trường quốc tế.

Đây là một quá trình đang tiếp diễn, chứ chưa phải là một quá trình đã hoàn tất. Tuy nhiên, xu hướng phát triển đã rất rõ ràng: Việt Nam đang hướng tới việc đạt được các tiêu chuẩn cao hơn, chứ không hề lùi bước khỏi những tiêu chuẩn đó.

Lập luận ủng hộ việc công nhận nền kinh tế thị trường

Một vấn đề chưa được giải quyết khác – việc Việt Nam bị xếp vào nhóm "nền kinh tế phi thị trường" theo luật thương mại của Hoa Kỳ – đang ngày càng trở nên khó biện giải.

Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đã được hơn 70 quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường. Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng; môi trường pháp lý tiếp tục được hoàn thiện; và quá trình hội nhập vào các thị trường toàn cầu ngày càng sâu rộng.

Việc duy trì quy chế "nền kinh tế phi thị trường" hiện tại đối với Việt Nam theo luật thương mại Hoa Kỳ đã gây ra những lo ngại trong giới hoạch định chính sách cũng như các nhóm doanh nghiệp; họ cho rằng quy chế này có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, cũng như làm suy giảm niềm tin của giới đầu tư. Vấn đề này lại nảy sinh đúng vào thời điểm Washington đang nỗ lực mở rộng các quan hệ đối tác kinh tế trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Tránh những hệ quả không mong muốn

Vấn đề sở hữu trí tuệ đang nổi lên như một điểm căng thẳng mới trong quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Đại sứ Jamieson Greer – Đại diện Thương mại Hoa Kỳ – đã xếp Việt Nam vào danh sách "Quốc gia nước ngoài cần ưu tiên [chú ý về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ]" (Priority Foreign Country) – cấp độ phân loại nghiêm trọng nhất – trong báo cáo mới nhất về quyền sở hữu trí tuệ; động thái này mở ra khả năng Việt Nam phải đối mặt với một cuộc điều tra theo Mục 301 trong vòng 30 ngày tới.

Quy chế xếp hạng này – lần đầu tiên được áp dụng trong hơn một thập niên qua – phản ánh những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, đồng thời có thể tác động đến tiến trình của các cuộc đàm phán thương mại hiện hành.

Việc áp dụng các biện pháp thương mại mang tính tổng thể, được thiết kế nhằm giải quyết các vấn đề mang tính cơ cấu, có thể sẽ gây gián đoạn chuỗi cung ứng, làm gia tăng chi phí cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Hoa Kỳ, và làm suy yếu một mối quan hệ đối tác vốn đã mang lại những lợi ích thiết thực, rõ rệt. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vốn đã khá mong manh như hiện nay, những hệ quả như vậy sẽ hoàn toàn phản tác dụng.

Chính những lợi ích nội tại của Việt Nam cũng hoàn toàn gắn liền với sự ổn định. Sự tăng trưởng của quốc gia này phụ thuộc vào các thị trường mở, nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Chính sự tương đồng về lợi ích này cần được nhìn nhận như một tài sản chiến lược. Ông Dan Harris, một đối tác tại hãng luật Harris Sliwoski, cho rằng Washington nên tránh nhìn nhận hồ sơ thương mại của Việt Nam qua lăng kính tập trung vào Trung Quốc. Việc coi Việt Nam là một trường hợp "dư thừa năng lực sản xuất" mà không có bằng chứng rõ ràng sẽ tạo ra rủi ro trừng phạt chính các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã chuyển hoạt động sản xuất sang đó—một động thái hoàn toàn phù hợp với chính chủ trương của Washington nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc và tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

"Rốt cuộc, chúng ta sẽ lại trừng phạt chính những công ty đã làm theo những gì chúng ta yêu cầu," ông Harris cảnh báo.

Ông nói thêm rằng bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn là một yếu tố quan trọng: Lịch sử lâu dài về xung đột và sự ngờ vực giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và Bắc Kinh, ngay cả khi Việt Nam đang vươn lên trở thành một đối tác ngày càng quan trọng của Hoa Kỳ tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, những hệ quả từ lập trường thương mại của Washington đối với Hà Nội không chỉ dừng lại ở khía cạnh kinh tế. Mô hình tăng trưởng dựa vào xuất cảng của Việt Nam—được thúc đẩy chủ yếu bởi nguồn vốn đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia chứ không phải bởi các khoản trợ cấp nhà nước—đã âm thầm đưa quốc gia này trở thành một trụ cột chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Một Việt Nam ổn định và thịnh vượng không chỉ góp phần đa dạng hóa chuỗi cung ứng, mà còn củng cố trật tự dựa trên luật lệ tại Biển Đông.

Sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam không phải là một yếu tố thứ yếu trong chiến lược của Hoa Kỳ; ngược lại, đó là nền tảng để duy trì sự cân bằng tại các vùng biển đang có tranh chấp trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Chính sách thương mại không thể tách rời khỏi thực tế chiến lược: Một nền kinh tế Việt Nam suy yếu sẽ gây ra những hệ quả nghiêm trọng hơn nhiều so với việc chỉ làm gián đoạn dòng chảy sản xuất. Nó có thể làm suy yếu một trong những đối trọng quan trọng nhất trong khu vực nhằm kiềm chế sự bành trướng hiện diện trên biển của Trung Quốc.

Cân bằng giữa thương mại và các liên kết an ninh

Những rủi ro ngày càng gia tăng từ các bước đi chính sách sai lầm có thể phải trả giá bằng những tổn thất chiến lược. Các chuyên gia phân tích cảnh báo rằng những biện pháp thương mại mang tính trừng phạt quá mức từ phía Hoa Kỳ—đặc biệt là những biện pháp xuất phát từ sự hiểu sai về mô hình kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường của Việt Nam—có thể đẩy Hà Nội tìm kiếm các liên kết kinh tế thay thế, qua đó làm thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực và làm suy yếu tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng trở nên cạnh tranh khốc liệt.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đang cân nhắc những biện pháp mang tính hợp tác và trọng tâm hơn nhằm giải quyết các mối quan ngại về thương mại với Việt Nam; trong đó bao gồm cơ chế giám sát chuỗi cung ứng song phương, việc mở rộng chia sẻ dữ liệu về năng lực sản xuất công nghiệp, cũng như khả năng thành lập một nhóm công tác thường trực về thương mại và tiêu chuẩn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Cách tiếp cận này nhằm mục đích giải quyết các vấn đề liên quan đến quy định pháp lý và tính minh bạch, đồng thời duy trì sự ổn định trong khuôn khổ quan hệ đối tác kinh tế rộng lớn hơn.

Thách thức đối với Washington nằm ở sự nhất quán—cụ thể là việc chuyển hóa những lập luận kinh tế thành một yêu cầu chiến lược thiết yếu. Điều này đồng nghĩa với việc nhìn nhận Việt Nam không chỉ đơn thuần là một "vấn đề thương mại" cần được quản lý, mà thay vào đó là một đối tác có quỹ đạo phát triển kinh tế ngày càng đóng vai trò trọng tâm đối với sự ổn định và an ninh của khu vực.

Vượt ra ngoài phạm vi của các dòng chảy thương mại và những con số đầu tư, mối quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam còn mang ý nghĩa chiến lược sâu rộng hơn. Mối quan hệ này giúp củng cố một khuôn khổ dựa trên luật lệ tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đồng thời thúc đẩy sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ công nghệ cho đến an ninh hàng hải.

Bất kỳ sự leo thang nào trong căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đều có nguy cơ làm gián đoạn các mối quan hệ thương mại, cũng như đe dọa đến sự hợp tác chiến lược trên bình diện rộng hơn—đúng vào thời điểm cả hai bên đang nỗ lực duy trì những thành quả đạt được gần đây trong các hoạt động hợp tác về kinh tế và an ninh.



Bộ Giao thông Vận tải California cũng phải đóng nhiều tuyến đường khác, đồng thời cảnh báo tình trạng trơn trượt cho người lái xe hơi. Cơ quan Thời tiết Quốc gia (National Weather Service) ở Reno, Nevada, cho biết trên Twitter: “Dự kiến ​​việc đi lại sẽ bị hạn chế rất nhiều trên tất cả các tuyến đường. Hôm nay là kiểu ngày mà nếu có thể, quý vị chỉ nên ở nhà. Sắp tới tuyết sẽ còn dày hơn!”
Cơ Quan Giám Sát Thực Phẩm và Thuốc Men Hoa Kỳ (FDA) gần đây đã phê duyệt hai loại thuốc điều trị COVID-19, một của Pfizer và một của Merck, nhưng các chuyên gia cho biết những viên thuốc này sẽ cần có sự theo dõi cẩn thận của bác sĩ và dược sĩ, theo trang TheHill đưa tin ngày Chủ Nhật, 26 tháng 12 năm 2021. Theo trang NBC, Paxlovid của Pfizer được cho phép để sử dụng cho trẻ em từ 12 tuổi trở lên và cho người có bệnh lý nền mãn tính như bệnh tim hoặc tiểu đường. Tuy nhiên, trong thuốc có một thành phần có thể tương tác rất mạnh với các loại thuốc có chứa chất làm loãng máu, statin (nhóm thuốc làm hạ cholesterol trong máu) và thuốc trị trầm cảm, gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng và đe dọa tính mạng.
Viễn Vọng Kính quan sát trị giá 10 tỉ đô la đã lao về đích đến 1 triệu dặm (1.6 triệu kilometers), hay là xa hơn gấp 4 lần bên kia mặt trăng. Nó sẽ mất 1 tháng để tới đó và thêm 5 tháng nữa trước khi những con mắt hồng ngoại của nó sẵn sàng quét vào vũ trụ. Trước hết, tấm gương khổng lồ và tấm kính che nắng của viễn vọng kính cần mở ra; chúng được gấp lại theo kiểu origami của Nhật để vừa trong hình nón mũi hỏa tiễn. Nếu không, viễn vọng kính quan sát sẽ không thể quay ngược thời gian 13.7 tỉ năm như được dự kiến, chỉ trong 100 triệu năm kể từ khi vụ nổ Big Bang hình thành vũ trụ.
Đức Giáo Hoàng Francis hôm Thứ Bảy, 25 tháng 12 năm 2021, đã cầu nguyện cho sự kết thúc đại dịch vi khuẩn corona, sử dụng bài diễn văn Ngày Lễ Giáng Sinh của ngài để thúc giục việc chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người, thuốc ngừa cho người nghèo và đối thoại để giải quyết các xung đột trên thế giới, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Bảy. Giữa lúc gia tăng kỷ lục trong các trường hợp bị lây nhiễm Covid-19 tại Ý trong tuần này, chỉ vài ngàn ngừa đứng dưới mưa tại Quảng Trường Thánh Peter để nghe diễn văn Lễ Giáng Sinh gửi đi cho toàn thế giới hàng năm của Đức Giáo Hoàng Francis.
“Tuy thế, tôi vẫn tin rằng nếu nhà văn Nguyễn Văn Thọ cũng ‘đứng về phe nước mắt’ như vô số người cầm viết khác (thay cho cái thói ‘thượng đội hạ đạp’ cố hữu) thì chắc chắn ông sẽ tránh được rất nhiều điều tiếng hay búa rìu dư luận.” Đó là kết luận của nhà văn Tưởng Năng Tiến về một con người tuy mang tiếng là nhà văn nhưng rất điển hình cho thói xu thời, xu phụ trong xã hội Việt Nam thời nay. Mời đọc.
Trong bài giảng, Đức Giáo Hoàng Francis đã thúc giục tín đồ tập trung vào “sự nhỏ bé” của Chúa Jesus, và nhớ rằng Ngài sinh vào nơi nghèo khổ của thế giới này, không có ngay cả một chiếc nôi đàng hoàng. “Đó là nơi Chúa có mặt, trong sự nhỏ bé,” theo Đức Giáo Hoàng Francis giảng. “Đây là thông điệp: Chúa không vươn lên cao lớn, mà tự hạ mình xuống bé nhỏ. Sự nhỏ bé là con đường mà Ngài chọn để đến với chúng ta, để chạm vào trái tim của chúng ta, để cứu chúng ta và mang chúng ta trở lại với những gì quan trọng thực sự.”
Một sự kiện đặc biệt được bản tin Đài Á Châu Tự Do (RFA) ghi nhận trong bản tin phát đi hôm Thứ Sáu, 24 tháng 12 năm 2021, đã xảy ra trong phiên tòa phúc thẩm diễn ra tại tỉnh Hòa Bình, Miền Bắc VN, khi bà Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Dư đã hô to “đả đảo” Đảng CSVN khi hại bị cáo này nghe tòa tuyên bố y án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với mỗi người.
Hàng triệu người đang đối diện sự gián đoạn đi lại và các hạn chế Covid đã gia tăng vào Lễ Giáng Sinh, trong khi biến thể Omicron tăng lây lan chứng kiến nhiều chuyến bay bị hủy bỏ và các hạn chế vì an toàn đã siết chặt, theo BBC tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Sáu, 24 tháng 12 năm 2021.
Một Hiệp định Thương mại Tự do mới, bao gồm một phần ba nền kinh tế thế giới, sẽ loại bỏ 90% thuế quan giữa 15 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương và dự kiến sẽ thúc đẩy xuất khẩu trong khu vực thêm 42 tỷ USD. Thông tin mới nhất về Hiệp định này do tác giả Đỗ Kim Thêm phiên dịch. Mời đọc.
Tự tử ảnh hưởng đến nhiều người hơn là bạn có thể nghĩ. Trong năm 2020, có 45,800 người Mỹ đã tự sát. Tự tử là nguyên nhân thứ 11 dẫn đầu các nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ và là nguyên nhân thứ hai dẫn đầu cái chết đối với giới thanh niên. Người chết vì tự tử nhiều hơn người chết vì tai nạn xe, giết người hay ung thư vú mỗi năm tại Hoa Kỳ. Từ năm 1999 tới 2018, tỉ lệ tự tử đã gia tăng 35%. Những thống kê này thật ngạc nhiên, chúng chỉ cho thấy chút ít sự tàn phá mà tự tử đã để lại bên sau. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, đối với mỗi vụ tử tử, trung bình 135 người biết về nhân vật đó. Đó là 6 triệu người Mỹ mỗi năm bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự mất mát sinh mạng vì tự tử. Cùng với nỗi đau, nhiều người còn sống mất người thân tự tử cảm thấy tội lỗi. Họ tin rằng họ đã góp phần cho cái chết hay đã có thể ngăn cản được nó. Một số người trải qua suốt cuộc đời còn lại tự hỏi “Điều gì vậy?” Một nghiên cứu cho thấy rằng 92% các bậc cha mẹ là những người mất con em tự tử đã trải qua
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.