Hôm nay,  

Cựu DB Elizabeth Holtzman: Tôi đã góp sức viết Đạo luật Người tị nạn năm 1980. Trump đang chà đạp lên đạo luật đó. Đạo luật đã cho Hoa Kỳ đón người tị nạn chạy trốn khỏi Việt Nam sau năm 1975.

09/06/202617:08:00(Xem: 1073)
blank

Cựu DB Elizabeth Holtzman: Tôi đã góp sức viết Đạo luật Người tị nạn năm 1980. Trump đang chà đạp lên đạo luật đó. Đạo luật đã cho Hoa Kỳ đón người tị nạn chạy trốn khỏi Việt Nam sau năm 1975.

Bài sau đây là của cựu Dân Biểu Elizabeth Holtzman, đăng trên Tạp chí Time hôm 9/6/2026, tựa đề "I Helped Write the Refugee Act. Trump is Trampling It" (Tôi đã góp phần soạn Đạo luật Người tị nạn [Refugee Act]. Trump đang chà đạp lên đạo luật đó). Bản dịch như sau.
 
Tôi đã góp phần soạn Đạo luật Người tị nạn
Tác giả: Elizabeth Holtzman
(Elizabeth Holtzman là cựu nữ Dân Quốc hội và là một trong những người soạn thảo Đạo luật Người tị nạn năm 1980.)
Vào ngày 20 tháng 6 cách đây 75 năm, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước về Vị thế của Người tị nạn (Refugee Convention). Hàng năm, chúng ta tôn vinh sự kiện này bằng việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Người tị nạn (World Refugee Day). Năm nay, cột mốc kỷ niệm 75 năm (kỷ niệm kim cương) của Công ước có nguy cơ bị lu mờ bởi những hậu quả nghiêm trọng đối với những người đang tìm kiếm nơi trú ẩn. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ sắp đưa ra phán quyết về một vụ kiện có thể đóng sập cánh cửa đối với những người xin tị nạn đang tìm kiếm sự bảo vệ một cách hợp pháp tại các cửa khẩu nhập cảnh của Hoa Kỳ, qua đó làm suy yếu chính luật pháp và các nghĩa vụ theo hiệp ước của chúng ta đối với người tị nạn.
Việc phải đối mặt với thái độ cực kỳ thù địch của Tổng thống Donald Trump đối với người nhập cư và người tị nạn đã là một điều tồi tệ. Thái độ này hoàn toàn trái ngược với quan điểm và hành động của các đời tổng thống Hoa Kỳ trước đây, bắt đầu từ George Washington – người từng khẳng định rằng "vòng tay nước Mỹ rộng mở để đón nhận không chỉ những người khách lạ giàu có và đáng kính, mà cả những người bị áp bức, ngược đãi từ mọi quốc gia và tôn giáo."
Quả thực, trong khi các tổng thống khác từng đưa ra tuyên bố kỷ niệm Ngày Quốc tế Người tị nạn, thì ông Trump lại liên tục công kích người tị nạn, cắt giảm mạnh các hoạt động cứu trợ nhân đạo, vội vã trục xuất những người xin tị nạn, và có động thái chỉ chấp nhận người da trắng gốc Phi (Afrikaner) làm người tị nạn. Thông qua những hành động này, ông Trump thể hiện sự coi thường tột độ đối với Công ước về Vị thế của Người tị nạn cũng như Đạo luật Người tị nạn năm 1980 – đạo luật đã thiết lập khuôn khổ pháp lý toàn diện đầu tiên cho việc tiếp nhận và tái định cư người tị nạn tại Hoa Kỳ, một khuôn khổ không dung chứa sự cố chấp hay phân biệt chủng tộc.
Các lập luận của chính phủ trong vụ kiện "Mullin kiện Al Otro Lado" (case of Mullin v. Al Otro Lado) tại Tòa án Tối cao dựa trên tuyên bố sai lệch và không thỏa đáng của chính quyền Trump, cho rằng luật pháp cho phép họ từ chối những người xin tị nạn ngay trước khi họ đặt chân đến biên giới nước Mỹ. Đây là sự xuyên tạc luật pháp và thể hiện thái độ thờ ơ, vô cảm trước những bi kịch từng thôi thúc Quốc hội thông qua Đạo luật Người tị nạn.
Vào ngày 6 tháng 6 năm 1939, con tàu St. Louis chở 907 người tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi Đức Quốc xã đã đến vùng biển của chúng ta. Mặc dù con tàu St. Louis đã tiến vào vùng lãnh hải Hoa Kỳ—chỉ cách bờ biển Florida năm dặm và từ trên tàu có thể nhìn thấy ánh đèn của nước Mỹ—nhưng nó vẫn bị từ chối cho phép nhập cảnh. Các tàu tuần tra của Lực lượng Tuần duyên đã bao vây con tàu để đảm bảo không ai có thể bơi vào bờ. St. Louis buộc phải quay trở lại châu Âu, nơi 254 hành khách trên tàu đã thiệt mạng trong thảm họa Holocaust.
Số phận bi đát của những hành khách trên tàu St. Louis đã và sẽ mãi là nỗi ám ảnh đối với chính sách tị nạn của Hoa Kỳ. Nhiều người Mỹ đã thề sẽ không bao giờ để một sự kiện như vụ St. Louis tái diễn. Thực tế, chính trong bối cảnh Thế chiến II và thảm họa St. Louis, Hoa Kỳ đã ký kết Nghị định thư năm 1967 bổ sung cho Công ước về Tị nạn; văn bản này cấm Hoa Kỳ trục xuất hoặc đưa "người tị nạn trở lại—dưới bất kỳ hình thức nào—vùng biên giới hoặc lãnh thổ nơi tính mạng hay quyền tự do của họ bị đe dọa vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, việc thuộc về một nhóm xã hội cụ thể hay quan điểm chính trị."


Khi cùng các đồng nghiệp soạn thảo Đạo luật Tị nạn năm 1980, ký ức về con tàu St. Louis luôn day dứt trong tâm trí tôi. Đó là lý do tại sao tôi đặc biệt lo ngại trước khả năng Tòa án Tối cao—ngay trong tháng này (6/2026)—có thể sẽ chấp thuận một cách máy móc cách diễn giải sai lệch của chính phủ về luật tị nạn, qua đó hợp thức hóa việc từ chối những người xin tị nạn, giống như trường hợp của những người trên tàu St. Louis năm xưa.
Đây là vấn đề mà Tòa án Tối cao lẽ ra phải thấy rõ ràng và không cần bàn cãi. Ngôn từ minh bạch trong đạo luật tị nạn năm 1980 nghiêm cấm việc từ chối người xin tị nạn ngay tại biên giới mà không xem xét trước xem liệu họ có cơ sở hợp lệ để xin tị nạn hay không.
Đạo luật năm 1980 không chỉ bắt nguồn từ những bài học của Thế chiến II và vụ tàu St. Louis, mà còn từ các sự kiện tại Đông Nam Á. Sự kiện Sài Gòn sụp đổ năm 1975 đã châm ngòi cho làn sóng di cư ồ ạt của người tị nạn từ Việt Nam, Lào và Campuchia. Nhiều người đã phải chạy trốn sự đàn áp tại Lào và Việt Nam do từng hợp tác hoặc ủng hộ Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam; những người khác chạy trốn khỏi chiến dịch thanh trừng sắc tộc nhắm vào công dân gốc Hoa tại Việt Nam; và một số khác thì tìm cách thoát khỏi sự tàn bạo của chế độ Pol Pot ở Campuchia. Những người tị nạn trong cơn tuyệt vọng đã liều mình trên những con tàu nhỏ bé, không đảm bảo an toàn để vượt biển, với hy vọng đặt chân lên bờ biển các nước láng giềng như Indonesia, Malaysia, Thái Lan hoặc Hồng Kông. Hàng chục nghìn người đã bỏ mạng dưới lòng biển, trong khi số khác bị cướp biển – những kẻ luôn rình rập con mồi yếu thế – hãm hiếp, cướp bóc và sát hại. Tôi đã tận mắt chứng kiến ​​những bi kịch này khi vất vả đi qua các trại tị nạn ở Đông Nam Á.

Để khuyến khích các quốc gia trong khu vực không đẩy người tị nạn Đông Nam Á vào cùng số phận như những hành khách trên tàu St. Louis, chúng tôi hiểu rằng Hoa Kỳ cần phải hành động một cách táo bạo và dứt khoát. Quốc hội đã thực hiện điều này bằng cách thông qua Đạo luật Tị nạn năm 1980, nhằm đảm bảo Hoa Kỳ sẽ giảm bớt áp lực cho các quốc gia tiếp nhận ban đầu thông qua việc sàng lọc và tái định cư một số lượng lớn những người tị nạn này tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong khi Hoa Kỳ kêu gọi các quốc gia Đông Nam Á và những nơi khác cấp quyền tị nạn cho nhóm người này, chúng tôi tại Quốc hội đã quyết định nêu gương bằng cách thiết lập hệ thống tị nạn của riêng Hoa Kỳ, qua đó luật hóa các nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo Công ước về Tị nạn.
Đạo luật Tị nạn năm 1980 không gây tranh cãi về mặt chính trị. Thượng viện đã thông qua dự luật với sự nhất trí tuyệt đối, và dự luật cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cả hai đảng tại Hạ viện.
Một lý do khiến Đạo luật Tị nạn được ủng hộ rộng rãi là vì ngôn ngữ trong dự luật về vấn đề tị nạn rất đơn giản và rõ ràng: "Bộ trưởng Tư pháp phải thiết lập quy trình để một người nước ngoài đang hiện diện thực tế tại Hoa Kỳ, hoặc tại biên giới đất liền hay cửa khẩu nhập cảnh—bất kể tình trạng pháp lý của người đó—có thể nộp đơn xin tị nạn."
Tuy nhiên, trong phiên tranh tụng tại Tòa án Tối cao vào ngày 24 tháng 3/2026, một số Thẩm phán lại quá chú trọng vào các điều khoản bổ sung sau đó, trong đó đề cập đến bất kỳ người xin tị nạn nào "đến Hoa Kỳ". Họ liên tục đặt câu hỏi liệu cụm từ "tại Hoa Kỳ" có nghĩa là các quan chức Hoa Kỳ có thể đẩy lùi người xin tị nạn ngay khi họ chỉ còn cách đường biên giới vài bước chân, rồi lập luận rằng những người này không có quyền gì vì họ chưa thực sự "ở trong lãnh thổ Hoa Kỳ" hay không.
Nhưng có một câu trả lời rõ ràng cho chuỗi câu hỏi này. Thực tế, chính Đạo luật Tị nạn đã cung cấp bối cảnh giúp chấm dứt cuộc tranh luận vô lý này: "Bộ trưởng Tư pháp phải thiết lập quy trình để một người nước ngoài đang hiện diện thực tế tại Hoa Kỳ, hoặc tại biên giới đất liền hay cửa khẩu nhập cảnh—bất kể tình trạng pháp lý của người đó—có thể nộp đơn xin tị nạn."
Quốc hội nơi tôi từng phục vụ, thông qua đạo luật mà tôi là đồng tác giả, đã có ý định trao cho những người xin tị nạn—khi họ gặp quan chức Hoa Kỳ tại biên giới—cơ hội thực hiện quyền xin tị nạn của mình. Mọi chuyện đơn giản chỉ có vậy.
Tòa án Tối cao không nên bóp méo luật pháp của chúng tôi. Tính mạng con người đang bị đe dọa, cũng như các giá trị Mỹ và thượng tôn pháp luật.



Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, miền Nam California vào lúc 9 giờ sáng Thư Năm ngày 30 tháng Tư năm 2020 lễ đặt vòng hoa và thắp nhang tưởng niệm 45 năm quốc hận 30 tháng Tư đã được long trọng tổ chức, vì tình hình bệnh dịch Covid-19 nên năm nay không được tổ chức đông đúc như những năm trước đây, mặc dù vậy một số các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể cũng đã trang nghiêm tổ chức lễ đặt vòng hoa, thắp nhang tưởng niệm 250,000 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam, cùng hàng triệu đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, hàng ngàn quân dân các chính VNCH đã bỏ mình trong các trại lao tù cộng sản.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Kể từ sau đệ Nhị Thế chiến, Việt Nam đã hai lần trễ chuyến tàu lịch sử để toàn dân xây dựng đất nước, chỉ vì những khúc quanh oan nghiệt do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Cơ hội thứ ba đang tới, những người cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam có biết chủ động nắm lấy nhằm thoát Tàu và thoát Cộng để chuộc lại phần nào những nỗi oan khiên đã gây ra cho cả dân tộc suốt từ sau Thế chiến Hai đến nay hay không?
Nhìn chung, CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân của QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm. VNCH phải chịu thất bại nặng nề, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả. Hoa Kỳ thắng lợi vì mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát trong danh dự của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Hà Nội phải công nhận VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, phải từ bỏ yêu sách một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020 thời gian 45 năm. Đây là một khoảng thời gia rất dài trong đời người và thời gian đủ để một quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một tập thể hoặc cá nhân sáng suốt, có thể đưa cả một dân tộc đi lên và xoay chuyển vận mệnh như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, Tổng Thống Mustafa Kamal Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Tổng Thống Phác Chính Hy của Nam Hàn.
Cơ Quan FDA của Hoa Kỳ chưa chấp thuận bất cứ loại thuốc nào cho việc điều trị vi khuẩn corona. Nhưng họ dự định sẽ tuyên bố sự ủy quyền sử dụng khẩn cấp đối với thuốc remdesivir, theo báo The New York Times cho biết. Việc ủy quyền có thể đến vào Thứ Tư, theo báo Times tường trình, trích thuật lời một viên chức cao cấp của chính phủ cho biết. Trong một thông báo gửi cho CNN, FDA nói rằng họ đang nói chuyện với Gilead Sciences, nhà bào chế thuốc remdesivir, về việc chế tạo thuốc cho các bệnh nhân.
Tổng Thống Trump nói rằng các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội hiện có mà sẽ hết hạn vào cuối tháng 4 tức Thứ Năm sẽ không được gia hạn thêm, khi ngày càng có nhiều thống đốc bắt đầu thực hiện các bước gỡ bỏ các hạn chế và tái mở cửa kinh tế của họ. Chính phủ Trump cho biết các đề nghị giữ khoảng cách xã hội hiện đang có sẽ không được hợp tác bởi các thống đốc áp dụng vào các kế hoạch tương lai mới của họ. “Chúng sẽ bị bãi bỏ, bởi vì các thống đốc hiện đang làm điều đó,” theo Trump cho biết.
Trung Cộng luôn luôn tìm mọi cách để khẳng định tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông mà cụ thể là họ đã tự đưa ra hình đường lưỡi bò liếm gần hết Biển Đông, thì nay một công ty TQ An Dương tại Hải Phòng đã xây dựng công trình có hình giống như hình đường lưỡi bò của TQ đã bị dẹp bỏ, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 29 tháng 4 năm 2020.
Một khu trục hạm phi đạn dẫn đường của Hải Quân Hoa Kỳ đi qua vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông thách thức yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực, theo tin của AFP tường thuật Hải Quân cho biết hôm Thứ Tư, 29 tháng 4.
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
Ngày 29 tháng 4, năm 2020, nhân tưởng niệm 45 năm tháng Tư Đen, các Dân Biểu Hoa Kỳ Alan Lowenthal, Lou Correa và Harley Rouda đã gửi thư cho Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm tại VN, tiếp tục việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được công khai hoạt động, và bảo vệ các quyền và tự do căn bản của công dân Việt Nam.
Trong tuần lễ này, Dân Biểu Liên Bang Lou Correa (CA-46) đã giới thiệu nghị quyết tưởng niệm về sự hy sinh và can đảm của người tị nạn Việt Nam bỏ chạy khỏi miền nam Việt Nam từ sau ngày Sài Gòn sụp đổ khoảng 45 năm về trước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.