Hôm nay,  

Nhà đầu tư Louis Navellier ca ngợi VN đã trở thành cường quốc kinh tế, kêu gọi tăng tốc mở cửa cho dân làm giàu

14/06/202605:46:00(Xem: 754)
blank  

Nhà đầu tư Louis Navellier ca ngợi VN đã trở thành cường quốc kinh tế, kêu gọi tăng tốc mở cửa cho dân làm giàu
   
Sau đây là bản dịch từ bài "How Vietnam went from post-War poverty to fast-growing powerhouse" (Hành trình của Việt Nam: Từ nghèo đói hậu chiến trở thành cường quốc tăng trưởng nhanh) của nhà đầu tư Louis Navellier (người sáng lập công ty Navellier & Associates chuyên về đầu tư và cố vấn thị trường chứng khoán) trên báo The Street, một tạp chí chuyên về thị trường hôm 14/6/2026. Chữ "cường quốc" (powerhouse) được Navellier dùng là để nói về sức mạnh kinh tế. Các biểu đồ sẽ bị cắt bỏ vì lý do bản quyền, trong bản dịch toàn văn như sau.
  
Hành trình của Việt Nam: Từ nghèo đói hậu chiến trở thành cường quốc tăng trưởng nhanh
-- Louis Navellier
Chúng ta đã chứng kiến ​​sự kết thúc sự can dự của Hoa Kỳ vào Chiến tranh Việt Nam cách đây 50 năm – vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 – khi chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Sài Gòn.
Nhưng nỗi thống khổ của Việt Nam còn sâu sắc hơn cả cuộc chiến mà chúng ta đã chứng kiến. Đất nước này đã phải hứng chịu các cuộc tấn công trong suốt 35 năm – đầu tiên là từ Nhật Bản, sau đó là Pháp, tiếp đến là lực lượng xâm lược miền Bắc được Trung Quốc hậu thuẫn, và cuối cùng là Hoa Kỳ.
Họ đã phải hứng chịu 15 triệu tấn bom – gấp 10 lần tổng khối lượng bom ném xuống Đức trong Thế chiến II – cùng với các loại chất độc hóa học; hậu quả là 1,5 triệu người ở miền Nam thiệt mạng, để lại một triệu trẻ mồ côi và một triệu người tàn tật.
Sau đó, họ còn phải đối mặt với nạn đói trên toàn quốc. Khẩu phần gạo của người dân giảm 20% gần như ngay lập tức, từ mức 240 kg/người/năm vào năm 1976 xuống còn 190 kg vào năm 1978. Năm 1993, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ là 100 USD/năm – mức thấp nhất thế giới; quốc gia đứng ngay trên họ là Somalia (với 130 USD), một đất nước loạn lạc từng được khắc họa trong bộ phim *Black Hawk Down*.
Tình trạng này đã khiến ngay cả những người Cộng sản cũng phải bất mãn. Vào cuối năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã quyết định – tương tự như cách Đặng Tiểu Bình đã làm ở Trung Quốc – tạo ra một nền kinh tế tư bản song song, được gọi là "Đổi Mới". Làn sóng tự phê bình và cải cách mạnh mẽ đã tạo ra bước ngoặt lớn cho Việt Nam.
Ban đầu, công cuộc cải cách không đạt hiệu quả cao, như một biểu đồ cho thấy: Thu nhập bình quân đầu người sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn 1987–1990 khi lạm phát tăng vọt gần 600% và người dân mất sạch số tiền tiết kiệm ít ỏi của mình.
Số tiền lương nhận được hàng tháng thậm chí không đủ chi tiêu trong một tuần; tuy nhiên, từ năm 1990 đến 1997, GDP của Việt Nam đã tăng trưởng 8% mỗi năm, chỉ đứng sau Trung Quốc. Từ vị thế quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam hiện đã vươn lên trở thành nền kinh tế giàu thứ 33 trong số hơn 100 quốc gia.
Việt Nam vẫn chưa thực sự có được sự tự do. Giống như Trung Quốc, Việt Nam vẫn tồn tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tham nhũng và được hưởng nhiều ưu đãi, chiếm khoảng 20% ​​nền kinh tế; Việt Nam cũng không có tự do ngôn luận hay tự do báo chí (người dân không thể chỉ trích chính phủ), nhưng lại có quyền tự do kinh tế cơ bản.
Người Việt Nam có cái nhìn tích cực hơn nhiều về chủ nghĩa tư bản và sự giàu có so với người Mỹ.
Cuốn sách "How Nations Escape Poverty: Vietnam, Poland, and the Origins of Prosperity" (Cách các quốc gia thoát nghèo: Việt Nam, Ba Lan và nguồn gốc của sự thịnh vượng) và bộ phim "Vietnam: Beating Poverty with Market Economy" (Việt Nam: Chiến thắng đói nghèo nhờ kinh tế thị trường) của Tiến sĩ Rainer Zitelmann – một nhà sử học kiêm nhà xã hội học – đã khắc họa thái độ tích cực của người dân Việt Nam sau bao đau thương, dù đất nước vẫn nằm dưới sự lãnh đạo danh nghĩa của Đảng Cộng sản.
Họ hoàn toàn không nuôi lòng oán hận đối với người Mỹ. Thay vào đó, họ quy trách nhiệm cho các nhà lãnh đạo trong quá khứ và các cường quốc láng giềng về những đau khổ mà mình phải gánh chịu; họ hiểu rằng người Mỹ phần lớn chỉ cố gắng giải phóng họ khỏi những thế lực áp bức đó, dù rốt cuộc nỗ lực này không mang lại hiệu quả như mong đợi.


Thay vì ca ngợi thành công của Việt Nam, truyền thông phương Tây lại chỉ trích tình trạng "bất bình đẳng giàu nghèo" đang gia tăng tại đây, nhưng thực tế lại có rất ít người dân trong nước phàn nàn về vấn đề này.
Như một nhà lãnh đạo Việt Nam từng phát biểu tại hội nghị Đổi Mới năm 1986: "Chúng ta không nên sợ người dân trở nên giàu có, bởi đất nước chỉ có thể hùng mạnh khi người dân sung túc" – quan điểm này tương đồng với câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình: "Hãy để một bộ phận người dân làm giàu trước". Suy cho cùng, khi một quốc gia giảm tỷ lệ nghèo đói từ 80% xuống còn 3%, thì 77% số người từng nghèo khó kia chẳng có lý do gì để phàn nàn cả.
Trong một cuộc khảo sát do Zitelmann thực hiện năm 2022 với 800 người Việt Nam, hơn ba phần tư (76%) số người được hỏi cho biết việc trở nên giàu có là điều quan trọng đối với họ – tỷ lệ cao nhất trong số 13 quốc gia được khảo sát.
Một điều có lẽ khá bất ngờ là có tới 80% phụ nữ Việt Nam mong muốn trở nên giàu có, so với 72% ở nam giới.
Zitelmann và nhóm nghiên cứu của ông đã đặt câu hỏi tương tự cho người dân tại 13 quốc gia: "Đối với một số người, việc trở nên giàu có là điều quan trọng. Vậy đối với cá nhân bạn, việc trở nên giàu có quan trọng đến mức nào?"
Tỷ lệ những người trả lời là "rất quan trọng" hoặc "khá quan trọng" lên tới 76% tại Việt Nam, trong khi con số trung bình tại Mỹ và Tây Âu chỉ là 30%. Theo các dữ liệu và thông tin từ những cuộc phỏng vấn của Zitelmann, người giàu tại Việt Nam nhận được sự ngưỡng mộ, thậm chí là sự sùng mộ. Nguyên nhân chủ yếu là do ba phần tư (3/4) số người được hỏi đều mong muốn trở thành một trong số họ. Người giàu được nhìn nhận là những cá nhân có tầm nhìn và óc sáng tạo. Trái lại, khi được hỏi về các đặc điểm tính cách của người giàu ở phương Tây, đa số người dân tại các nước này thường dùng những từ như "tham lam" hay "tàn nhẫn"; trong khi đó, người Việt Nam lại tập trung vào những phẩm chất tích cực: có tầm nhìn xa trông rộng (74%), táo bạo và dám nghĩ dám làm (67%), cần cù (63%) và giàu trí tưởng tượng (62%).
Ngược lại, rất ít người Việt Nam cho rằng người giàu là những kẻ tham lam (19%), kiêu ngạo (17%) hay tàn nhẫn (12%). Khi được đưa ra danh sách gồm 10 từ đồng nghĩa hoặc đặc điểm liên quan đến chủ nghĩa tư bản, người Việt Nam đã chọn "sự tiến bộ" và "đổi mới" ở vị trí số 1 và số 2, trong khi các từ như "tham lam", "tham nhũng" và "sự lạnh lùng" lại nằm ở cuối danh sách.
Đối với 17 nhận định về chủ nghĩa tư bản để người tham gia bày tỏ sự đồng tình, nhận định đứng đầu danh sách là "chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với tự do kinh tế" (76%), còn nhận định có tỷ lệ đồng tình thấp nhất là "chủ nghĩa tư bản lôi kéo mọi người mua những sản phẩm họ không cần" (23%).

Trong khi người Mỹ thường hay phàn nàn về những sai lầm tồi tệ trong quá khứ – chẳng hạn như thời kỳ của những ông trùm tư bản tham lam – thì người Việt Nam lại gạt sang bên những ký ức đau thương hơn nhiều về các cuộc chiến tranh khốc liệt và cảnh nghèo khó mà họ từng gánh chịu.
Ví dụ, doanh nhân người Việt Nguyen Xuan từng chia sẻ với Zitelmann: "Tôi sinh năm 1987, khi chiến tranh đã kết thúc được 12 năm. Cha mẹ và ông bà kể cho tôi nghe về sự tàn khốc của chiến tranh, nhưng họ chưa bao giờ nói lời nào tiêu cực về người Mỹ. Trái lại, họ bảo tôi: 'Con phải học tiếng Anh, ăn mặc như người Mỹ, ăn những món người Mỹ ăn, và trên hết là học cách tư duy như người Mỹ. Khi đó, con sẽ thành công'."
Ông không phải là trường hợp duy nhất. Theo một cuộc khảo sát năm 2014 của Trung tâm Nghiên cứu Pew, 76% người Việt Nam có cái nhìn thiện cảm về người Mỹ. Trong nhóm người có trình độ học vấn cao hơn, tỷ lệ ủng hộ Mỹ lên tới 89%.
Vậy, làm thế nào để một quốc gia trở nên giàu có? Câu trả lời rất đơn giản: Hãy mở cửa nền kinh tế cho những con người đầy tham vọng và khao khát làm giàu!



Do sự xuất hiện của Việt Minh, đúng hơn, Đảng Cộng Sản Việt Nam, do đảng này cướp chính quyền ngày 19/8/1945, do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của một số người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những không biến chuyển như mọi người mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó những oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ.
Chính quyền CSVN vẫn còn rất sợ vụ Đồng Tâm sẽ bùng nổ lớn vì sự bất mãn của người dân đối với cách hành xử bạo tợn của công an nên đã ra lệnh phong tỏa tài khoản phúng điếu dịp tang lễ ông Lê Đình Kình, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 18 tháng 1.
Vào cuối tháng 12 năm 2019, nhiều tài hải giám Trung Quốc đã hộ tống hơn 30 chiếc tàu đánh cá vào vùng biển đảo Natuna của Nam Dương.
WESTMINSTER (VB) -- Nhà xuất bản Văn Học Press cho biết vừa ấn hành thi tập mới của Trầm Phục Khắc, nhan đề "Gã tình nhân & Vở kịch không dành cho sân khấu"...
Cư sĩ Nguyên Giác, tức nhà văn Phan Tấn Hải, cho biết trong hai ngày qua ông đã đích thân cầm một số ấn bản tới dâng cúng các bậc tu hành tôn quý tại Quận Cam
Đến nay đã 46 năm, Biển Đông dậy sóng, bao ngư dân ra khơi bị tàu Trung Cộng cướp giết và đế quốc kia lại muốn chiếm thêm quần đảo Trường Sa và toàn bộ Biển Đông.
chúng ta cũng đã từng dùng thuốc thiên nhiên rồi. Đó là thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Ta hay còn gọi là thuốc “Vườn”... Sau 75, danh từ thuốc Dân tộc đã được dùng để chỉ những loại thuốc được sản xuất và bào chế từ cây cỏ ở Việt Nam
ra mắt vào ngày 8 tháng 3 năm 2020 tại Viện Việt Học Nam Cali. Lạ là vì đây là một tác phẩm mang hồn Việt đến từ Pháp Quốc! Tác phẩm mang tên cũng đặc biệt, gây tính tò mò cho độc giả: "Một lối đi riêng vào cõi thơ"!
Vào những ngày đầu Xuân các hội đoàn, cộng đồng thường tổ chức những buổi tiệc tùng, hợp nhóm, hợp bạn…để đón Xuân và cũng để hoài niệm, nhớ thương về quê hương, đồng bào thân yêu còn bên kia chân trời xa thăm thẳm.
Một di sản văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam vừa được Viện Việt Học trình bày trước công chúng: ấn hành tác phẩm “Tuồng Kim Vân Kiều: Truyện Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh” (Hồi 1/3) vừa được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu
Phiên xử luận tội lần thứ 3 trong lịch sử Hoa Kỳ đã bắt đầu vào Thứ Năm, 16 tháng 1 năm 2020 giữa một loạt các cáo buộc mới về các thương lượng của TT Trump với Ukraine, mà nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa đã vội vã hạ thấp mức độ quan trọng khi họ bác bỏ các lời kêu gọi của những nhà lập pháp Dân Chủ đòi điều tra thêm.
Trong vòng một thập niên qua, số lượng – và chiều kích – của viện bảo tàng, phòng trưng bày, hội chợ nghệ thuật, và trường nghệ thuật trên khắp thế giới đã gia tăng dữ dội, và người ta cảm thấy an tâm để nói rằng nhiều nghệ thuật đã được sáng tạo trong vòng 10 năm qua hơn bất cứ thời gian nào khác trong lịch sử nhân loại.
Nghệ sĩ không phải chỉ là người sáng tạo nên tác phẩm. Nghệ sĩ còn là kẻ sáng tạo nên bản thân mình. Không ngừng. Họa sĩ Võ Đình khằng định như vậy trong cuốn Mây Chó. Về cuối đời ông viết nhiều hơn vẽ. Sau 10 năm sống ở Pháp sang Mỹ năm 1960 qua nhiều tiểu bang, nơi đâu ông cũng thích ngụ ở vùng thôn dã.
Lời tòa soạn: Từ Franz Kafka đến Milan Kundera, hai nhà văn kiệt xuất của thế kỷ XX. Cả hai đều có chung một nền tảng văn hóa, một khảo hướng và một chủ hướng văn học: làm mới văn chương và dùng tiểu thuyết để nói những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được. Cả hai đều để lại cho hậu thế những kiệt tác văn học, ảnh hưởng bao trùm gần như toàn thể nhân loại. Kafka sống vào đầu thế kỷ, Kundera vẫn còn tại thế dù năm nay, 2020, đã trên 90 tuổi. Việt Báo hân hạnh gửi đến độc giả Việt bốn phương ít dòng tiêu biểu của hai nhà văn lừng lẫy này qua phần chuyển ngữ và giới thiệu của dịch giả Trịnh Y Thư.
Nhà văn Dương Hùng Cường sinh ngày 1/10/1934 tại Hà Nội. Ông gia nhập Không quân và học về cơ khí tại Pháp năm 1953. Ông là hạ sĩ quan phục vụ ở nhiều đơn vị từ 1955, đến những năm 1960 mang cấp bậc Chuẩn úy, làm việc tại Phòng Tâm lý chiến, Bộ Tư lệnh Không quân VNCH.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.