Hôm nay,  

GS Robert Thurman, nhà sư Hoa Kỳ đầu tiên thọ giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, từ trần

17/06/202613:54:00(Xem: 1775)
blankPHOTO: GS Robert Thurman và Đức Đạt Lai Lạt Ma (Hình hồ sơ của Tibet.net)

  

GS Robert Thurman, nhà sư Hoa Kỳ đầu tiên thọ giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, từ trần

  

Robert Thurman (1941-2026), học giả Phật giáo và là cha của nữ diễn viên Uma Thurman, đã qua đời ở tuổi 84. Bản tin sau đây sẽ tổng hợp từ Yahoo News, Wikipedia, và các nguồn khác.

Vị học giả Phật giáo nổi tiếng Robert Thurman đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại Woodstock, New York. Nguyên nhân cái chết không được công bố. Tin về sự ra đi của ông được thông báo bởi Tibet House US – một tổ chức phi lợi nhuận chuyên bảo tồn văn hóa Tây Tạng do chính ông cùng vợ là bà Nena Thurman, nam diễn viên Richard Gere và nhạc sĩ Philip Glass đồng sáng lập vào năm 1986.

"Chúng tôi vô cùng đau buồn khi thông báo rằng ông Robert A.F. Thurman – một học giả Phật giáo lỗi lạc người Mỹ, người đồng sáng lập Tibet House US, đồng thời là tác giả và dịch giả có những lời giảng dạy đã tác động sâu sắc đến vô số cuộc đời – đã qua đời vào sáng thứ Ba, ngày 16 tháng 6, tại Woodstock, New York," theo tổ chức này chia sẻ trên Instagram. Thông báo cũng cho biết "gia đình Thurman mong muốn được tôn trọng sự riêng tư vào thời điểm này."

Ông Robert sinh ra tại Thành phố New York; ông là con của nữ diễn viên sân khấu Elizabeth Dean và dịch giả Liên Hợp Quốc Beverly Reid Thurman.

Năm 1960, ông Robert kết hôn với bà Marie-Christophe de Menil, người thừa kế khối tài sản khổng lồ từ ngành dầu khí của tập đoàn Schlumberger Limited. Hai người có với nhau một cô con gái tên là Taya Thurman vào năm 1961, cũng là năm họ ly hôn. Năm 1961, Robert bị mất mắt trái trong một tai nạn xe hơi; biến cố này đã thôi thúc ông thay đổi hoàn toàn lối sống. Ông ly hôn người vợ đầu và dành 5 năm đi du ngoạn qua các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Ấn Độ.

Trong thời gian đi xa, thân phụ của Robert qua đời. Khi trở về nhà dự tang lễ, ông gặp một nhà sư Phật giáo đến từ Mông Cổ và chẳng bao lâu sau đó đã quy y theo đạo Phật. Robert quay lại Ấn Độ và theo học ngài trực tiếp từ ngài Tenzin Gyatso – Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Năm 1965, ông trở thành người Mỹ đầu tiên xuất gia theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, đồng thời là bạn thân thiết của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Năm 1967, ông hoàn tục – từ bỏ tư cách tu sĩ vốn đòi hỏi sự độc thân – và rồi kết hôn với Nena. Tiểu sử kể rằng Robert kết hôn với người vợ thứ hai, bà Nena, vào năm 1967 sau khi gặp bà tại Millbrook – một điền trang ở New York. Cũng trong năm kết hôn, hai người chào đón người con đầu lòng là Ganden (nay 58 tuổi).

Robert theo học đại học và cao học tại Đại học Harvard. Năm 1972, ông hoàn thành bằng Tiến sĩ chuyên ngành tiếng Phạn (Sanskrit). Dù không còn là tu sĩ, Robert vẫn gắn bó sâu sắc với Phật giáo và viết nhiều sách về chủ đề này. Ông cũng đảm nhiệm vị trí Giáo sư (giữ ghế Jey Tsong Khapa) chuyên ngành Nghiên cứu Phật giáo Ấn-Tạng tại Đại học Columbia trong suốt 30 năm, cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 6 năm 2019.

Năm 1970, Nena sinh Uma (nay 56 tuổi), tiếp đó là hai con trai Dechen (nay 53 tuổi) và Mipam (nay 48 tuổi) lần lượt chào đời vào các năm 1973 và 1978. Nena và Robert nuôi dạy các con tại Woodstock, trong ngôi nhà do chính tay họ xây dựng.

Chia sẻ về quá trình trưởng thành của mình, nữ diễn viên Uma từng nói với tờ Irish Examiner: “Người ta viết rất nhiều về tuổi thơ của tôi, vẽ nên một bức tranh như thể đó là kiểu sống phóng túng, kỳ quặc của dân hippie, nhưng điều đó hoàn toàn vô lý. Có định kiến cho rằng cứ là Phật tử thì phải là người theo cánh tả, hành xử bất thường hay kỳ quặc, nhưng đó hoàn toàn là chuyện nhảm nhí! Tôi lớn lên trong khu nhà dành cho giới học thuật, tôi đi học như bao người khác, còn cha tôi là giáo sư. Mọi thứ đều vô cùng bình thường.”

Nhìn lại cuộc đời Robert Thurman, chúng ta thấy một số chi tiết độc đáo trong đời ông:

. Sinh ra tại Thành phố New York vào năm 1941, Robert Thurman bị mất một bên mắt trong một tai nạn vào năm 1961; sự kiện này đã trở thành bước ngoặt khởi đầu cho hành trình tìm kiếm và chuyển hóa tâm linh của ông.

. Năm 24 tuổi (1965), ông trở thành người Mỹ đầu tiên được thọ giới tu sĩ Phật giáo Tây Tạng. Nhiều năm sau, ông quyết định hoàn tục, tin rằng mình có thể đóng góp hiệu quả hơn cho Phật giáo với tư cách là một học giả và nhà giáo dục trong môi trường đại học.

. Ông nổi tiếng với tình bạn tri kỷ trọn đời cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và là cha của nữ diễn viên Uma Thurman. Năm 1987, theo lời đề nghị của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thurman đã cùng Richard Gere, Philip Glass và Tenzin Tethong đồng sáng lập tổ chức Tibet House US nhằm góp phần bảo tồn văn hóa Tây Tạng.

. Thurman đã được trao Giải thưởng Ánh sáng Sự thật (Light of Truth Award) bởi tổ chức Chiến dịch Quốc tế vì Tây Tạng (International Campaign for Tibet) vào năm 2003, và được trao tặng Padma Shri – danh hiệu cao quý dành cho công dân của Ấn Độ – vào năm 2020.

Sau đây là một số truyện kể về GS Robert Thurman.

. Một con mắt kỳ bí. Khi còn thanh niên, Thurman bị mất con mắt trái trong một tai nạn hy hữu khi đang thay vỏ xe bị xẹp. Ông đeo mắt giả từ đó, và bạn bè cũng như sinh viên thường nhận xét rằng ánh nhìn sâu sắc từ con mắt duy nhất ấy mang lại cho ông vẻ ngoài của một vị pháp sư giác ngộ đầy phóng khoáng. Robert Thurman thường kể rằng biến cố này đã làm thay đổi hoàn toàn hướng đi cuộc đời ông. Khi ấy ông đang học tại Harvard University. Sau tai nạn, ông rơi vào một giai đoạn khủng hoảng hiện sinh, bỏ dở việc học, ly dị người vợ đầu, rồi lên đường lang bạt qua Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Ấn Độ để tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Chính trong những năm du hành ấy, ông gặp các vị Lạt-ma Tây Tạng lưu vong, học tiếng Tây Tạng, rồi được diện kiến Tenzin Gyatso. Sau đó ông trở thành người Mỹ đầu tiên được thọ giới làm tăng sĩ trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Trong một cuộc phỏng vấn, Thurman nói rằng việc mất một con mắt tuy là một tai nạn đau đớn, nhưng về sau ông nhìn lại nó như một bước ngoặt đưa mình đến với Phật pháp. Nếu không có tai nạn ấy, có lẽ ông đã tiếp tục con đường học thuật hoặc kinh doanh thông thường và không trở thành học giả Phật giáo nổi tiếng như sau này. Thurman xem việc mất một con mắt như tác động của Khổ Đế.

. Ngày Thurman gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma (và tranh luận với Ngài). Khi chàng thanh niên đầy nhiệt huyết Bob Thurman lần đầu gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Ấn Độ vào những năm 1960s, chàng trai Mỹ cúi chào và lắng nghe, và sau đó lập tức lao vào những cuộc tranh luận triết học gay gắt. Thurman sau này kể lại rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma vô cùng thích thú khi gặp một người phương Tây trẻ tuổi lại đam mê mãnh liệt với phép biện chứng Tây Tạng đến vậy. Thế rồi, họ thường tranh luận hàng giờ liền, vừa cười vừa lớn tiếng bàn về những khía cạnh tinh tế trong triết học Phật giáo. Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói đùa gọi ông là "nhà sư Mỹ điên khùng" vì sự nhiệt thành và quyết liệt không ngừng nghỉ của ông.

. Thurman là người Mỹ đầu tiên được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới tu sĩ Phật giáo Tây Tạng. Ông đã cạo đầu, khoác áo cà sa và sống đời tu hành trong vài năm. Tuy nhiên, về sau ông nhận ra rằng tính cách sôi nổi cùng khát vọng thay đổi thế giới của mình không thực sự phù hợp với lối sống tu hành tĩnh lặng và độc thân. Ông đã hoàn tục, quay trở lại con đường học thuật và sau này nói đùa rằng mình nhận thấy bản thân có thể tạo ra nhiều "tiếng vang" hơn cho PG Tây Tạng khi là một giáo sư đại học thay vì một vị sư sống lặng lẽ.

. Ông là cha của nữ diễn viên nổi tiếng Uma và rồi tiếp cận với thế giới Hollywood. Nhờ có con gái là nữ diễn viên Uma Thurman, ông thường xuyên thấy mình đứng giữa hai thế giới: giới học thuật hàn lâm và ánh hào quang của Hollywood. Ông cực kỳ thích điều đó. Ông thường xuất hiện một cách tự nhiên tại các thảm đỏ phim ảnh hay những buổi tiệc từ thiện quy tụ nhiều ngôi sao trong trang phục kết hợp giữa sự trang trọng Hoa Kỳ và khăn quàng Tây Tạng, rồi ngẫu hứng giảng giải cho giới tinh hoa Hollywood nghe về tính Không và lòng từ bi. Ông từng cười và chia sẻ rằng: đối với giới học thuật, ông là một giáo sư huyền thoại của Đại học Columbia, nhưng với phần còn lại của thế giới, ông tự hào là "thân phụ của cô Uma Thurman" (ngôi sao phim "Kill Bill").

. Robert Thurman trở thành tiếng nói vì hòa bình. Nếu từng tham dự một buổi thuyết giảng hay trò chuyện của Robert Thurman, bạn sẽ biết rằng ông không phải kiểu người thích "chiêm nghiệm trong tĩnh lặng". Ông nổi tiếng với chất giọng vang dội như ca sĩ opera, những cử chỉ tay đầy mạnh mẽ và tràng cười sảng khoái, đầy lôi cuốn. Ông thường nói về việc chấm dứt khổ đau và đạt được sự an lạc nội tâm trong khi có lúc gần như hét lên, đập tay lên bục giảng và liên tục pha trò. Ông tin tưởng mãnh liệt rằng sự giác ngộ phải mang lại niềm vui và sự hài hước, chứ không phải vẻ ảm đạm hay cứng nhắc. Ông đã sống một cuộc đời thực sự phi thường, biến trí tuệ cổ xưa thành những hiện thân sống động, đầy sức sống và mang tính thời đại sâu sắc.

.

Các ấn phẩm nổi bật của Robert Thurman:   

. The Central Philosophy of Tibet: A Study and Translation of Jey Tsong Khapa's Essence of True Eloquence ((Triết lý Trung đạo của Tây Tạng: Nghiên cứu và Dịch thuật tác phẩm "Tinh hoa của sự Hùng biện Chân chính" của Jey Tsong Khapa)), Princeton University Press, 1991.

. The Tibetan Book of the Dead: The Natural Liberation Through Understanding in the Between ((Tử thư Tây Tạng: Giải thoát Tự nhiên thông qua Sự thấu hiểu trong trạng thái Trung ấm)). Bantam Doubleday Dell, 1994 (có nhiều bản dịch trong các ngôn ngữ Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Ý, Hàn Quốc, Nhật, Trung Hoa, Nga...)

. Essential Tibetan Buddhism (Phật giáo Tây Tạng Tinh yếu), Castle Books, 1995.

. Wisdom and Compassion: The Sacred Art of Tibet (Trí tuệ và Từ bi: Nghệ thuật Thiêng liêng của Tây Tạng), with Marilyn Rhie Abrams, 1996.

. Mandala: The Architecture of Enlightenment (Mandala: Kiến trúc của sự Giác ngộ), with Denise P. Leidy, Shambhala Publications, 1997.

. World of Transformation: Masterpieces of Tibetan Sacred Art in the Donald Rubin Collection (Thế giới Chuyển hóa: Kiệt tác Nghệ thuật Thiêng liêng Tây Tạng trong Bộ sưu tập Donald Rubin), with Marilyn Rhie, Tibet House US/Abrams, 1999.

. Inner Revolution: Life, Liberty, and the Pursuit of Real Happiness (Cuộc cách mạng nội tâm: Cuộc sống, Tự do và sự mưu cầu Hạnh phúc đích thực), Penguin, 1999.

. Circling the Sacred Mountain: A Spiritual Adventure Through the Himalayas (Nhiễu quanh Ngọn núi Thiêng: Hành trình Tâm linh qua dãy Himalaya) with Tad Wise, Bantam Doubleday Dell, 1999.

. The Holy Teaching of Vimalakirti: A Mahayana Scripture (Giáo pháp Thiêng liêng của Duy Ma Cật: Một Kinh điển Đại thừa), Pennsylvania State University Press, 2000.

. Infinite Life: Seven Virtues for Living Well (Sự sống Vô biên: Bảy Đức hạnh để Sống Tốt đẹp), Riverhead Books, 2004.

. The Universal Vehicle Discourse Literature (Văn liệu Luận thư về Cỗ xe Phổ quát) (with Lozang Jamspal, et al.), Columbia University Press, 2005.

. The Jewel Tree of Tibet: The Enlightenment Engine of Tibetan Buddhism (Cây Báu Tây Tạng: Động lực Giác ngộ của Phật giáo Tây Tạng), Free Press/Simon & Schuster, 2005.

. Visions of Tibet: Outer, Inner, Secret (Những Hình ảnh về Tây Tạng: Bên ngoài, Bên trong, Bí mật), ảnh của Brian Kistler, lời giới thiệu của Robert Thurman, biên tập bởi Thomas Yarnell.  Overlook Duckworth, 2005.

. Anger: of the Seven Deadly Sins (Cơn giận: Một trong Bảy Trọng Tội), Oxford University Press, 2005.

. Life and Teachings of Tsongkhapa (Cuộc đời và Giáo pháp của Tông Khách Ba), Library of Tibetan Works and Archives, 2006.

. Why the Dalai Lama Matters: His Act of Truth as the Solution for China, Tibet and the World (Tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma lại Quan trọng: Hành động vì Sự thật của Ngài như một Giải pháp cho Trung Quốc, Tây Tạng và Thế giới), Atria Books/Beyond Words, 2008.

. A Shrine for Tibet: The Alice Kandell Collection (Điện thờ Tây Tạng: Bộ sưu tập của Alice Kandell) with Marylin Rhie, Overlook, 2010.

. Tsong Khapa’s Extremely Brilliant Lamp (Ngọn đèn Rực rỡ Tột cùng của Tông Khách Ba), Robert Thurman, 2010.

. Brilliant Illumination of the Lamp of the Five Stages (Sự Chiếu sáng Rực rỡ của Ngọn đèn Năm Giai đoạn), Columbia University Press, 2011.

. Love Your Enemies: How To Break the Anger Habit & Be a Whole Lot Happier (Yêu thương Kẻ thù: Cách Phá vỡ Thói quen Giận dữ & Sống Hạnh phúc hơn nhiều) with Sharon Salzberg, Hay House, 2013.

. My Appeal to the World (Lời Kêu gọi của Tôi gửi Thế giới), Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, biên soạn bởi Sofia Stril-Rever, lời tựa của Robert Thurman). Tibet House US, Hay House, 2015.

. Man of Peace: The Illustrated Life Story of the Dalai Lama of Tibet ((Người của Hòa Bình: Câu chuyện cuộc đời Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng qua tranh minh họa),  tác giả: William Meyers, Robert Thurman, Michael G. Burbank; khởi xướng về mặt nghệ thuật bởi Rabkar Wangchuk; phần hình ảnh là thành quả hợp tác của nhóm năm họa sĩ dưới sự điều phối của Steve Buccellato và Michael Burbank. Tibet House US.

(Nguyên Giác tổng hợp)

  



Pechanga Resort Casino có nhiều món ăn quốc tế đa dạng, từ những món đặc biệt sang trọng tới những món ăn nhanh và ngon cho những ai vội đi. Quý vị sẽ tìm thấy một thế giới các món khoái khẩu tại những nhà hàng từng được thưởng huy chương ở Pechanga. Nếu quý vị tự nghĩ mình có khuynh hướng thích hưởng thụ những món ăn thật đặc biệt, xin hãy chuẩn bị cho một cảm nghiệm đầy ấn tượng.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
Tổng Thống Cộng Hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier mô tả ngày 13 tháng 8 năm 1961, ngày bắt đầu xây dựng Bức tường Berlin (ghi chú thêm: Người Việt Nam gọi là Bức Tường Ô Nhục Bá Linh), là "một ngày định mệnh cho người Đức chúng tôi và cho thế giới". Vào thời điểm đó, "sự phân chia thế giới trong Chiến tranh Lạnh đã được củng cố theo đúng nghĩa đen", ông nói hôm thứ Sáu 13.8.2021 tại lễ niệm xây dựng Bức tường Berlin.
Người nữ khoa học gia Mỹ đó chính là Eunice Foote. Vào năm 1856, tài liệu khoa học tóm tắt của Foote lần đầu tiên mô tả sức mạnh phi thường của khí carbon dioxide để hấp thụ sức nóng – động lực của việc hâm nóng toàn cầu, theo Giáo Sư Sylvia G. Dee. Carbon dioxide là loại khí không mùi, không vị, trong suốt tạo ra khi con người đốt các nhiên liệu, gồm than đá, dầu thô, xăng và gỗ. Khi bề mặt của Trái Đất nóng lên, người ta có thể nghĩ rằng sức nóng bắn trở lại không gian. Nhưng, nó không đơn giản như vậy. Bầu khí quyển vẫn nóng hơn được dự kiến chủ yếu do khí thải nhà kính như khí carbon dioxide, methane và hơi nước bầu khí quyển, mà tất cả đều hấp thụ nhiệt từ bên ngoài. Chúng được gọi là “khí thải nhà kính” bởi vì, giống như kính của nhà kính, chúng giữ sức nóng trong bầu khí quyển và tỏa chiếu trở lại bề mặt của hành tinh. Ý tưởng bầu khí quyển giữ sức nóng được biết, nhưng không phải là nguyên do. Foote đã thực hiện một thử nghiệm đơn giản.
Tôi nhớ lại một người tham dự tóm tắt sự chống đối của bà đối với các thuốc chích ngừa trong cách như sau: Bà nói rằng chính quyền đã yêu cầu bà cho phép một tác nhân sinh học sống được tiêm vào cơ thể con cái của bà dù nó không thể bảo đảm an toàn của con bà. Vì những lý do này, theo bà nói, bà có mọi quyền để quyết định rằng con bà sẽ không nhận thuốc chích ngừa. Sự chống đối của người phụ nữ này là do bà nghi ngờ rằng thuốc chích ngừa MMR, cho bệnh sởi, quai bị và ban đỏ đặc biệt, đã gây ra chứng tự kỷ. Tuyên bố này đã được cho thấy, nhiều lần và kết luận, là không có giá trị. Nhưng bà không hoàn toàn sai. Nhiều thuốc chích ngừa chứa các tác nhân sống, dù chúng ở trong tình trạng suy yếu. Và trong khi các phản ứng bất lợi và ngay cả nguy hiểm đã được biết xảy ra, nguy cơ như thế là rất nhỏ. Thực tế, ưu thế của chứng cứ cho thấy rằng nguy cơ tai hại hay chết người đối với trẻ em không chích ngừa các bệnh truyền nhiễm như MMR thì lớn hơn rất nhiều so với bất cứ nguy cơ nào liên kết
Sở Di Trú USCIS là cơ quan chính của hệ thống di trú Hoa Kỳ, nhưng trong suốt hai năm qua, Sở Di Trú đã không có một nhà lãnh đạo nào được Thượng viện xác nhận. Cựu Tổng thống Trump đã chọn bổ nhiệm các giám đốc điều hành (tạm thời) để ông có thể tránh quá trình xác nhận của Thượng viện.
Tuần qua, nước Mỹ chứng kiến sự gia tăng số người mới bị lây nhiễm biến thể delta trong một ngày vượt quá 100,000 người trong khi vẫn còn hàng triệu người ở Mỹ không chích ngừa và một số tiểu bang chống lại các biện pháp đeo khẩu trang. Trong khi đó tình hình đại dịch tại Việt Nam trong tuần rồi có vẻ giảm bớt dù các bệnh viện đã quá tải.
Sự gia tăng của Covid-19 mà đã khiến cho nhiều người phải vào các bệnh viện để điều trị lên cao chưa từng thấy tại nhiều nơi ở Miền Nam cũng là các tiểu bang đang bị tổn hại như Hawaii và Oregon mà đã từng chứng kiến các câu chuyện thành công chống đại dịch, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Năm, 12 tháng 8 năm 2021. Sau nhiều tháng mà trong đó họ đã giữ các trường hợp bị lây và người vào bệnh viện ở các mức có thể kiểm soát, họ đang chứng kiến tiến trình này tụt giốc khi con số kỷ lục bệnh nhân lấn át các nhân viên chăm sóc sức khỏe mệt mỏi. Oregon – giống như Florida, Arkansas và Louisiana trong những ngày gần đây – có nhiều người vào bệnh viện để điều trị Covid-19 hơn bất cứ thời điểm nào khác trong đại dịch. Hawaii đã đạt tới mức đó.
Chỉ mấy tuần trước khi Hoa Kỳ chấm dứt cuộc chiến của họ tại Afghanistan theo lịch trình đã định, chính phủ Biden đã vội vã đưa 3,000 quân tới phi trường Kabul để giúp di tản một phần Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Năm, 12 tháng 8 năm 2021. Hành động này đánh dấu tốc độ kinh ngạc về sự xâm chiếm phần lớn đất nước của Taliban, gồm việc chiếm Kandahar hôm Thứ Năm, là thành phố lớn thứ hai và là nơi khai sinh ra phong trào Taliban.
Người Mỹ tiếp tục di cư tới Miền Nam và Miền Tây vì sự đắt đỏ của Miền Trung Tây và Miền Đông Bắc, theo các số liệu cho thấy. Phần trăm của dân số da trắng đã giảm từ 63.7% trong năm 2010 xuống còn 57.8% trong năm 2020, thấp kỷ lục, do bởi sự sút giảm sinh suất trong các phụ nữ da trắng so với các phụ nữ gốc La Tinh và gốc Á. Con số người da trắng không phải gốc La Tinh đã co cụm từ 196 triệu trong năm 2010 xuống còn 191 triệu. Người da trắng tiếp tục là nhóm chúng tộc nhiều nhất, nhưng điều đó đã thay đổi tại Califonria, nơi người gốc La Tinh đã trở thành nhóm chủng tộc lớn nhất, gia tăng từ 37.6% lên 39.4% trong một thập niên, trong khi phần trăm người da trắng đã giảm từ 40.1% xuống cỏn 34.7%. Người gốc Á Châu là nhóm chủng tộc đông dân nhất, đạt tới 24 triệu người vào năm 2020, tăng vọt hơn 1/3.
Trong khi số người vào bệnh viện điều trị vi khuẩn corona tại địa phương gia tăng, hầu hết Hội Đồng Giám Sát Quận Cam tiếp tục chận đứng các thảo luận công khai và các dữ liệu đề phòng về sự lây lan của vi khuẩn, theo bản tin của báo Voice of Orange County tường thuật hôm 11 tháng 8 năm 2021. Theo chỉ thị của Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Quận Cam Andrew Đỗ, Quận Cam hiện là quận lớn duy nhất tại Miền Nam California không cung cấp các cập nhật về Covid cho công chúng tại các cuộc họp công khai của họ, dù gia tăng 700% số người vào các bệnh viện địa phương điều trị vi khuẩn corona kể từ tháng 6 khi Ông Đỗ ngưng cập nhật.
Tôi, Tô Phạm Thái, Chủ Nhiệm Nguyệt San KBC, và một số thân hữu trân trọng kính mời & cảm tạ trước về sự ủng hộ tham dự cho hai chương trình sau đây, Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh dự của chúng tôi. Vui lòng RSVP trước ngày 15 Tháng 10 để tiện việc sắp xếp. Phần văn nghệ của hai chương trình do chính tác giả, thành viên và thân hữu trình bày. Chương trình có phần giải lao thân mật. ĐA TẠ và Xin liên lạc với Ban Tổ Chức: Tô Phạm Thái, Nguyệt San KBC: (714) 412-9013 Ngọc Nhung, VNTV-Ohana: (808) 366-4533 Phạm Gia Đại, Người Tù Cuối Cùng (714) 797-3392
Khu phức hợp Trang trại sẽ tiếp tục hỗ trợ các hoạt động nông nghiệp và kết nối công chúng với khu đất thông qua việc tiếp cận giải trí, giáo dục nông nghiệp và môi trường trên các vùng đất xung quanh. Người dân cũng sẽ có cơ hội để tìm hiểu về văn hóa và lịch sử của khu vực. Trang trại nằm trên vùng đất tổ tiên của nhiều dân tộc bản địa, bao gồm Bộ lạc Muwekma Ohlone và Bộ lạc Amah Mutsun, những người đã quản lý vùng đất qua hàng trăm năm và hiện vẫn cư trú trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.