Hôm nay,  

GS Robert Thurman, nhà sư Hoa Kỳ đầu tiên thọ giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, từ trần

17/06/202613:54:00(Xem: 1171)
blankPHOTO: GS Robert Thurman và Đức Đạt Lai Lạt Ma (Hình hồ sơ của Tibet.net)

  

GS Robert Thurman, nhà sư Hoa Kỳ đầu tiên thọ giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, từ trần

  

Robert Thurman (1941-2026), học giả Phật giáo và là cha của nữ diễn viên Uma Thurman, đã qua đời ở tuổi 84. Bản tin sau đây sẽ tổng hợp từ Yahoo News, Wikipedia, và các nguồn khác.

Vị học giả Phật giáo nổi tiếng Robert Thurman đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại Woodstock, New York. Nguyên nhân cái chết không được công bố. Tin về sự ra đi của ông được thông báo bởi Tibet House US – một tổ chức phi lợi nhuận chuyên bảo tồn văn hóa Tây Tạng do chính ông cùng vợ là bà Nena Thurman, nam diễn viên Richard Gere và nhạc sĩ Philip Glass đồng sáng lập vào năm 1986.

"Chúng tôi vô cùng đau buồn khi thông báo rằng ông Robert A.F. Thurman – một học giả Phật giáo lỗi lạc người Mỹ, người đồng sáng lập Tibet House US, đồng thời là tác giả và dịch giả có những lời giảng dạy đã tác động sâu sắc đến vô số cuộc đời – đã qua đời vào sáng thứ Ba, ngày 16 tháng 6, tại Woodstock, New York," theo tổ chức này chia sẻ trên Instagram. Thông báo cũng cho biết "gia đình Thurman mong muốn được tôn trọng sự riêng tư vào thời điểm này."

Ông Robert sinh ra tại Thành phố New York; ông là con của nữ diễn viên sân khấu Elizabeth Dean và dịch giả Liên Hợp Quốc Beverly Reid Thurman.

Năm 1960, ông Robert kết hôn với bà Marie-Christophe de Menil, người thừa kế khối tài sản khổng lồ từ ngành dầu khí của tập đoàn Schlumberger Limited. Hai người có với nhau một cô con gái tên là Taya Thurman vào năm 1961, cũng là năm họ ly hôn. Năm 1961, Robert bị mất mắt trái trong một tai nạn xe hơi; biến cố này đã thôi thúc ông thay đổi hoàn toàn lối sống. Ông ly hôn người vợ đầu và dành 5 năm đi du ngoạn qua các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Ấn Độ.

Trong thời gian đi xa, thân phụ của Robert qua đời. Khi trở về nhà dự tang lễ, ông gặp một nhà sư Phật giáo đến từ Mông Cổ và chẳng bao lâu sau đó đã quy y theo đạo Phật. Robert quay lại Ấn Độ và theo học ngài trực tiếp từ ngài Tenzin Gyatso – Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Năm 1965, ông trở thành người Mỹ đầu tiên xuất gia theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, đồng thời là bạn thân thiết của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Năm 1967, ông hoàn tục – từ bỏ tư cách tu sĩ vốn đòi hỏi sự độc thân – và rồi kết hôn với Nena. Tiểu sử kể rằng Robert kết hôn với người vợ thứ hai, bà Nena, vào năm 1967 sau khi gặp bà tại Millbrook – một điền trang ở New York. Cũng trong năm kết hôn, hai người chào đón người con đầu lòng là Ganden (nay 58 tuổi).

Robert theo học đại học và cao học tại Đại học Harvard. Năm 1972, ông hoàn thành bằng Tiến sĩ chuyên ngành tiếng Phạn (Sanskrit). Dù không còn là tu sĩ, Robert vẫn gắn bó sâu sắc với Phật giáo và viết nhiều sách về chủ đề này. Ông cũng đảm nhiệm vị trí Giáo sư (giữ ghế Jey Tsong Khapa) chuyên ngành Nghiên cứu Phật giáo Ấn-Tạng tại Đại học Columbia trong suốt 30 năm, cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 6 năm 2019.

Năm 1970, Nena sinh Uma (nay 56 tuổi), tiếp đó là hai con trai Dechen (nay 53 tuổi) và Mipam (nay 48 tuổi) lần lượt chào đời vào các năm 1973 và 1978. Nena và Robert nuôi dạy các con tại Woodstock, trong ngôi nhà do chính tay họ xây dựng.

Chia sẻ về quá trình trưởng thành của mình, nữ diễn viên Uma từng nói với tờ Irish Examiner: “Người ta viết rất nhiều về tuổi thơ của tôi, vẽ nên một bức tranh như thể đó là kiểu sống phóng túng, kỳ quặc của dân hippie, nhưng điều đó hoàn toàn vô lý. Có định kiến cho rằng cứ là Phật tử thì phải là người theo cánh tả, hành xử bất thường hay kỳ quặc, nhưng đó hoàn toàn là chuyện nhảm nhí! Tôi lớn lên trong khu nhà dành cho giới học thuật, tôi đi học như bao người khác, còn cha tôi là giáo sư. Mọi thứ đều vô cùng bình thường.”

Nhìn lại cuộc đời Robert Thurman, chúng ta thấy một số chi tiết độc đáo trong đời ông:

. Sinh ra tại Thành phố New York vào năm 1941, Robert Thurman bị mất một bên mắt trong một tai nạn vào năm 1961; sự kiện này đã trở thành bước ngoặt khởi đầu cho hành trình tìm kiếm và chuyển hóa tâm linh của ông.

. Năm 24 tuổi (1965), ông trở thành người Mỹ đầu tiên được thọ giới tu sĩ Phật giáo Tây Tạng. Nhiều năm sau, ông quyết định hoàn tục, tin rằng mình có thể đóng góp hiệu quả hơn cho Phật giáo với tư cách là một học giả và nhà giáo dục trong môi trường đại học.

. Ông nổi tiếng với tình bạn tri kỷ trọn đời cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và là cha của nữ diễn viên Uma Thurman. Năm 1987, theo lời đề nghị của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thurman đã cùng Richard Gere, Philip Glass và Tenzin Tethong đồng sáng lập tổ chức Tibet House US nhằm góp phần bảo tồn văn hóa Tây Tạng.

. Thurman đã được trao Giải thưởng Ánh sáng Sự thật (Light of Truth Award) bởi tổ chức Chiến dịch Quốc tế vì Tây Tạng (International Campaign for Tibet) vào năm 2003, và được trao tặng Padma Shri – danh hiệu cao quý dành cho công dân của Ấn Độ – vào năm 2020.

Sau đây là một số truyện kể về GS Robert Thurman.

. Một con mắt kỳ bí. Khi còn thanh niên, Thurman bị mất con mắt trái trong một tai nạn hy hữu khi đang thay vỏ xe bị xẹp. Ông đeo mắt giả từ đó, và bạn bè cũng như sinh viên thường nhận xét rằng ánh nhìn sâu sắc từ con mắt duy nhất ấy mang lại cho ông vẻ ngoài của một vị pháp sư giác ngộ đầy phóng khoáng. Robert Thurman thường kể rằng biến cố này đã làm thay đổi hoàn toàn hướng đi cuộc đời ông. Khi ấy ông đang học tại Harvard University. Sau tai nạn, ông rơi vào một giai đoạn khủng hoảng hiện sinh, bỏ dở việc học, ly dị người vợ đầu, rồi lên đường lang bạt qua Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Ấn Độ để tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Chính trong những năm du hành ấy, ông gặp các vị Lạt-ma Tây Tạng lưu vong, học tiếng Tây Tạng, rồi được diện kiến Tenzin Gyatso. Sau đó ông trở thành người Mỹ đầu tiên được thọ giới làm tăng sĩ trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Trong một cuộc phỏng vấn, Thurman nói rằng việc mất một con mắt tuy là một tai nạn đau đớn, nhưng về sau ông nhìn lại nó như một bước ngoặt đưa mình đến với Phật pháp. Nếu không có tai nạn ấy, có lẽ ông đã tiếp tục con đường học thuật hoặc kinh doanh thông thường và không trở thành học giả Phật giáo nổi tiếng như sau này. Thurman xem việc mất một con mắt như tác động của Khổ Đế.

. Ngày Thurman gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma (và tranh luận với Ngài). Khi chàng thanh niên đầy nhiệt huyết Bob Thurman lần đầu gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Ấn Độ vào những năm 1960s, chàng trai Mỹ cúi chào và lắng nghe, và sau đó lập tức lao vào những cuộc tranh luận triết học gay gắt. Thurman sau này kể lại rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma vô cùng thích thú khi gặp một người phương Tây trẻ tuổi lại đam mê mãnh liệt với phép biện chứng Tây Tạng đến vậy. Thế rồi, họ thường tranh luận hàng giờ liền, vừa cười vừa lớn tiếng bàn về những khía cạnh tinh tế trong triết học Phật giáo. Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói đùa gọi ông là "nhà sư Mỹ điên khùng" vì sự nhiệt thành và quyết liệt không ngừng nghỉ của ông.

. Thurman là người Mỹ đầu tiên được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới tu sĩ Phật giáo Tây Tạng. Ông đã cạo đầu, khoác áo cà sa và sống đời tu hành trong vài năm. Tuy nhiên, về sau ông nhận ra rằng tính cách sôi nổi cùng khát vọng thay đổi thế giới của mình không thực sự phù hợp với lối sống tu hành tĩnh lặng và độc thân. Ông đã hoàn tục, quay trở lại con đường học thuật và sau này nói đùa rằng mình nhận thấy bản thân có thể tạo ra nhiều "tiếng vang" hơn cho PG Tây Tạng khi là một giáo sư đại học thay vì một vị sư sống lặng lẽ.

. Ông là cha của nữ diễn viên nổi tiếng Uma và rồi tiếp cận với thế giới Hollywood. Nhờ có con gái là nữ diễn viên Uma Thurman, ông thường xuyên thấy mình đứng giữa hai thế giới: giới học thuật hàn lâm và ánh hào quang của Hollywood. Ông cực kỳ thích điều đó. Ông thường xuất hiện một cách tự nhiên tại các thảm đỏ phim ảnh hay những buổi tiệc từ thiện quy tụ nhiều ngôi sao trong trang phục kết hợp giữa sự trang trọng Hoa Kỳ và khăn quàng Tây Tạng, rồi ngẫu hứng giảng giải cho giới tinh hoa Hollywood nghe về tính Không và lòng từ bi. Ông từng cười và chia sẻ rằng: đối với giới học thuật, ông là một giáo sư huyền thoại của Đại học Columbia, nhưng với phần còn lại của thế giới, ông tự hào là "thân phụ của cô Uma Thurman" (ngôi sao phim "Kill Bill").

. Robert Thurman trở thành tiếng nói vì hòa bình. Nếu từng tham dự một buổi thuyết giảng hay trò chuyện của Robert Thurman, bạn sẽ biết rằng ông không phải kiểu người thích "chiêm nghiệm trong tĩnh lặng". Ông nổi tiếng với chất giọng vang dội như ca sĩ opera, những cử chỉ tay đầy mạnh mẽ và tràng cười sảng khoái, đầy lôi cuốn. Ông thường nói về việc chấm dứt khổ đau và đạt được sự an lạc nội tâm trong khi có lúc gần như hét lên, đập tay lên bục giảng và liên tục pha trò. Ông tin tưởng mãnh liệt rằng sự giác ngộ phải mang lại niềm vui và sự hài hước, chứ không phải vẻ ảm đạm hay cứng nhắc. Ông đã sống một cuộc đời thực sự phi thường, biến trí tuệ cổ xưa thành những hiện thân sống động, đầy sức sống và mang tính thời đại sâu sắc.

.

Các ấn phẩm nổi bật của Robert Thurman:   

. The Central Philosophy of Tibet: A Study and Translation of Jey Tsong Khapa's Essence of True Eloquence ((Triết lý Trung đạo của Tây Tạng: Nghiên cứu và Dịch thuật tác phẩm "Tinh hoa của sự Hùng biện Chân chính" của Jey Tsong Khapa)), Princeton University Press, 1991.

. The Tibetan Book of the Dead: The Natural Liberation Through Understanding in the Between ((Tử thư Tây Tạng: Giải thoát Tự nhiên thông qua Sự thấu hiểu trong trạng thái Trung ấm)). Bantam Doubleday Dell, 1994 (có nhiều bản dịch trong các ngôn ngữ Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Ý, Hàn Quốc, Nhật, Trung Hoa, Nga...)

. Essential Tibetan Buddhism (Phật giáo Tây Tạng Tinh yếu), Castle Books, 1995.

. Wisdom and Compassion: The Sacred Art of Tibet (Trí tuệ và Từ bi: Nghệ thuật Thiêng liêng của Tây Tạng), with Marilyn Rhie Abrams, 1996.

. Mandala: The Architecture of Enlightenment (Mandala: Kiến trúc của sự Giác ngộ), with Denise P. Leidy, Shambhala Publications, 1997.

. World of Transformation: Masterpieces of Tibetan Sacred Art in the Donald Rubin Collection (Thế giới Chuyển hóa: Kiệt tác Nghệ thuật Thiêng liêng Tây Tạng trong Bộ sưu tập Donald Rubin), with Marilyn Rhie, Tibet House US/Abrams, 1999.

. Inner Revolution: Life, Liberty, and the Pursuit of Real Happiness (Cuộc cách mạng nội tâm: Cuộc sống, Tự do và sự mưu cầu Hạnh phúc đích thực), Penguin, 1999.

. Circling the Sacred Mountain: A Spiritual Adventure Through the Himalayas (Nhiễu quanh Ngọn núi Thiêng: Hành trình Tâm linh qua dãy Himalaya) with Tad Wise, Bantam Doubleday Dell, 1999.

. The Holy Teaching of Vimalakirti: A Mahayana Scripture (Giáo pháp Thiêng liêng của Duy Ma Cật: Một Kinh điển Đại thừa), Pennsylvania State University Press, 2000.

. Infinite Life: Seven Virtues for Living Well (Sự sống Vô biên: Bảy Đức hạnh để Sống Tốt đẹp), Riverhead Books, 2004.

. The Universal Vehicle Discourse Literature (Văn liệu Luận thư về Cỗ xe Phổ quát) (with Lozang Jamspal, et al.), Columbia University Press, 2005.

. The Jewel Tree of Tibet: The Enlightenment Engine of Tibetan Buddhism (Cây Báu Tây Tạng: Động lực Giác ngộ của Phật giáo Tây Tạng), Free Press/Simon & Schuster, 2005.

. Visions of Tibet: Outer, Inner, Secret (Những Hình ảnh về Tây Tạng: Bên ngoài, Bên trong, Bí mật), ảnh của Brian Kistler, lời giới thiệu của Robert Thurman, biên tập bởi Thomas Yarnell.  Overlook Duckworth, 2005.

. Anger: of the Seven Deadly Sins (Cơn giận: Một trong Bảy Trọng Tội), Oxford University Press, 2005.

. Life and Teachings of Tsongkhapa (Cuộc đời và Giáo pháp của Tông Khách Ba), Library of Tibetan Works and Archives, 2006.

. Why the Dalai Lama Matters: His Act of Truth as the Solution for China, Tibet and the World (Tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma lại Quan trọng: Hành động vì Sự thật của Ngài như một Giải pháp cho Trung Quốc, Tây Tạng và Thế giới), Atria Books/Beyond Words, 2008.

. A Shrine for Tibet: The Alice Kandell Collection (Điện thờ Tây Tạng: Bộ sưu tập của Alice Kandell) with Marylin Rhie, Overlook, 2010.

. Tsong Khapa’s Extremely Brilliant Lamp (Ngọn đèn Rực rỡ Tột cùng của Tông Khách Ba), Robert Thurman, 2010.

. Brilliant Illumination of the Lamp of the Five Stages (Sự Chiếu sáng Rực rỡ của Ngọn đèn Năm Giai đoạn), Columbia University Press, 2011.

. Love Your Enemies: How To Break the Anger Habit & Be a Whole Lot Happier (Yêu thương Kẻ thù: Cách Phá vỡ Thói quen Giận dữ & Sống Hạnh phúc hơn nhiều) with Sharon Salzberg, Hay House, 2013.

. My Appeal to the World (Lời Kêu gọi của Tôi gửi Thế giới), Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, biên soạn bởi Sofia Stril-Rever, lời tựa của Robert Thurman). Tibet House US, Hay House, 2015.

. Man of Peace: The Illustrated Life Story of the Dalai Lama of Tibet ((Người của Hòa Bình: Câu chuyện cuộc đời Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng qua tranh minh họa),  tác giả: William Meyers, Robert Thurman, Michael G. Burbank; khởi xướng về mặt nghệ thuật bởi Rabkar Wangchuk; phần hình ảnh là thành quả hợp tác của nhóm năm họa sĩ dưới sự điều phối của Steve Buccellato và Michael Burbank. Tibet House US.

(Nguyên Giác tổng hợp)

  



Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
Nước Mỹ hiện nay đã có chừng 50 ngàn người chết vì đại dịch Covid-19. Dịch đến trễ hơn nhiều nơi khác, nhưng Mỹ đã nhanh chóng trở thành quốc gia với số người bị nhiễm cũng như tử vong cao nhất thế giới. Phản ứng của chính phủ Mỹ thay đổi theo đà tăng của đại dịch. Trong khoảng hai tháng, Tổng thống Trump tỏ ra lạc quan và không cho đây là nguy cơ. Đột nhiên, khi dịch đã gia tăng đến mức không chối cãi được nữa, chính phủ vội vã phản ứng. Người ta khám phá là nước Mỹ khắp nơi bị thiếu thốn trầm trọng phương tiện để chống dịch, và số người chết tăng vọt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.