Hôm nay,  

Ái Nhĩ Lan: Quê Hương, Từ Nạn Đói Bốn Triệu Người Bỏ Nước Ra Đi, Đến 24 Người Trở Thành Tổng Thống Nước Mỹ

26/08/202608:00:00(Xem: 1806)
blank

 

NHẤT UYÊN PHẠM TRỌNG CHÁNH

 

 

            Tôi đến thăm Ái Nhĩ Lan quê hương huyền thoại. Một đảo quốc bên cạnh nước Anh, đế quốc thuộc địa hàng đầu thế giới, «mặt trời không lặn trên cờ nước Anh». Anh quốc đã cắm ngọn cờ từ Phi Châu: Ai Cập, Nam Phi, Nigéra. Kenya.. Á Châu: Ấn Độ, Singapour, Hongkong Úc Châu, Tân Tây Lan, đến Mỹ Châu Canada, Argentine, nhưng lại thất bại trước một dân tộc nằm bên cạnh mình. Giữa Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan là một trang sử đẫm máu đau thương, tám trăm năm, đô hộ, kháng cự và dai dẳng cho đến ngày nay đang đi vào tiến trình thống nhất nam bắc Ái Nhĩ Lan. Từ thế kỷ 19, Ái Nhĩ Lan tìm cách thoát khỏi sự đô hộ của Anh Quốc bằng văn hóa Celtique cổ đại và đạo Công Giáo. Khác với Anh Quốc từng dưới ảnh hưởng Đế Quốc La Mã và theo Anh Giáo, nguồn gốc sự ra đời Anh Giáo do vua Henry VIII từ chối sự can thiệp toà thánh La Mã vào việc ly dị với hoàng hậu Catherine d ́ Aragon là cô của vua Charles Quint Tây Ban Nha, vị vua đầy quyền lực Âu Châu đương thời. Vua Henry VIII lập ra Anh Giáo tự phong làm giáo chủ để thay đổi vợ theo ý mình và tịch thu toàn thể tài sản Giáo Hội Công Giáo.

 

            Ái Nhĩ Lan được mệnh danh là «hòn đảo Bích ngọc», màu xanh éméraude, những cạnh đồng cỏ bạt ngàn, đồng cỏ êm ái mềm mại được gậm nhấm hằng ngày bởi cừu bò, Ái Nhĩ Lan có hơn 4 triệu cừu nuôi để lấy lông, len và áo đan len là sản phẩm xuất khẩu chính. Hai bên đường những cánh rừng cây đỗ quyên (rhododendron), nơi đây cây cao lớn như cây cổ thụ mùa xuân nở tràn trề đơm đầy cành những bông hoa đỏ, trắng, cam, vàng, tím. màu sắc rực rỡ tưng bừng.

 

            Nằm phía tây Anh Quốc với diện tích 84421 km, bằng một phần tư nước Việt Nam, một phần bảy nước Pháp, trong đó bắc Ái Nhĩ Lan 14139 km. Khoảng cách từ bắc chí nam 483 km và chiều ngang 275km, Ái Nhĩ Lan có hơn 3100km bờ biển. Ngoài những xa lộ, những con đường dọc theo bờ biển ngoằn nghèo, chật hẹp xe chỉ dám chạy, 30, 40 km giờ, xe ngược chiều thường phải dừng lại để tránh nhau.

 

            Từ một quốc gia nghèo nhất Âu Châu, từ năm 1990 khi gia nhập Cộng Đồng Âu Châu, Ái Nhĩ Lan trở thành quốc gia năng động nhất Âu Châu với tỷ lệ tăng trưởng 8% trung bình và tỉ lệ người thất nghiệp 5%,với sự ưu đãi thuế quan nhiều công ty lớn thế giới về điện toán, công nghiệp đã tìm đến đặt trụ sở, Ái Nhĩ Lan được mang danh là “con hổ celtique”. Sản lượng nội địa ròng trên mỗi người dân đứng hàng thứ hai Âu Châu, chỉ sau Luxembourg.

 

            Ái Nhĩ Lan có người đến sinh sống chậm chỉ từ 8000 đến 10000 năm. Từ 2500 năm trước JC nền văn minh đồ đồng đạt đến mức tinh xảo qua những đồ nữ trang bằng vàng tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Dublin. Từ thế kỷ thứ 5 trước JC dân tộc Celltes có nguồn gốc Ấn Âu từ thế kỷ thứ 5 di dân nhiều đợt đến Ái Nhĩ Lan, đã mang đến đồ sắt với xe ngựa bánh sắt khoảng năm 250 trước JC. Chia ra nhiều bộ lạc, bộ lạc chính hùng mạnh nhất là Gaëls xâm chiếm và từng bước hoàn tất cuộc chinh phục vào thế kỷ thứ 5 sau JC.

 

            Ái Nhĩ Lan không hề biết đến sự thống trị của Đế Quốc La Mã, nhờ có thánh Patrick và công việc truyền đạo, dân Ái Nhỉ Lan đã chấp nhận, từ tín ngưỡng Celtique cổ đại, thờ cây đại thụ, thờ đá tảng xếp hàng đã trở thành quốc gia Thiên chúa giáo. Patrick nguyên là một người trẻ Breton bị La Mã hóa tại Anh, bị cướp biển Ái Nhĩ Lan bắt bán như một người nô lệ tại đảo sáu năm, ông vượt ngục và trở về quê hương Bretagne, ông theo đạo Thiên Chúa và sáu năm sau ông trở thành Giám Mục và đi truyền đạo tại Ái Nhĩ Lan, ông trở về gần Downpatrick ở Ulster và truyền đạo cho các lãnh vương Ái Nhĩ Lan ông dùng biểu tượng cỏ “trèfle” ba phần trong lá biểu tượng cho Chúa Ba Ngôi. Năm 444 ông đi Rome và trở về xây dựng Thánh đường Armagh ở Ulter. Cuộc đời ông gắn liền với việc truyền đạo và chứng minh sự cao cả của Chúa Trời bằng những phép lạ, cao hơn tín ngưỡng Celtique.

 

            Đạo Thiên Chúa Giáo nguyên thủy Ái Nhĩ Lan có đặc tính thành lập các tu viện hòa đồng tôn giáo giữa Celtique và Thiên Chúa Giáo. Họ thành công và thành lập nhiều tu viện khắp Âu Châu như Lagny, Luxeuil tại Pháp, St Gall tại Thụy Sĩ và Würzburg. Tại Ái Nhĩ Lan các tu viện trở thành các trung tâm trí thức và văn hóa chứng minh bởi sách Kells và sách Armagh, những công trình sao chép thánh kinh còn tồn tại đến ngày nay.

 

            Thế kỷ thứ  8 người Vikings từ Bắc Âu đến cư trú tại bờ biển phía bắc và dần dần đi vào bên trong bằng đường biển, người Ái Nhĩ Lan kháng cự yếu ớt, các tu viện  bị cướp phá và xây dựng lên các tháp tròn. Người Viking không chỉ là các chiến binh khát máu, họ xây dựng phần lớn các thành phố ven biển: Dublin, Wexford, Wzterford, Cork và Limerick, các tiểu vương Ái Nhĩ Lan thường liên kết với họ để đánh vương quốc đối nghịch. Sau một cuộc loạn lạc lâu dài, vua Brian Ború đã thống nhất Ái Nhĩ Lan và trận đánh Clontarf gần Dublin đánh thắng Viking, nhưng ông tử trận, Ái Nhỉ Lan trở lại sự tranh giành chia rẽ giữa các tiểu vương quốc suốt hai thế kỷ 11 và 12. Một trong các tiểu vương Diarmuid Mc Nurrough đã kêu gọi sự giúp đỡ của  cường quốc Anglo-Normands vua Henri II Plantagerêt để lập lại ngai vàng. Người Normand đã dùng phong tục và tiếng Pháp cai trị nước Anh từ cuộc xâm lăng của Guillaume la Conquérant từ 1066. Vua Henri II đã giao cho một lãnh chúa Richard de Clare, nổi tiếng với tên Strongbow (Chiếc nỏ hùng cường), đem chiến thuyền chiếm Ái Nhĩ Lan năm 1169, cuộc chiến kéo dài hai năm, 1171 Henri II đã phục tòng được tất cả các tiểu vương Ái Nhỉ Lan. Người Normands đã mang lại hệ thống phong kiến dựa trên quyền lực con trai trưởng nối ngôi lãnh chúa, hủy bỏ phần lớn các luật Brehon và tiến hành xây dựng các lâu đài bảo vệ chiến sự. Qua nhiều thế hệ hầu hết lãnh thổ Ái Nhĩ Lan được cai trị bởi các Nam tước. trừ  vùng Tyrone còn là Ái Nhĩ Lan với sự cai trị của gia tộc O ́ Donnel và O ́Neil. Dublin trở thành một thành phố Anglo-Normande.

 

            Thế kỷ 14, một trào lưu quốc gia Ái Nhĩ Lan độc lập lan rộng, từ 1315 đến 1318 các thủ lĩnh Gaëls thành công dành một phần lãnh thổ với sự trợ giúp lính đánh thuê Écossais. Mặc khác các gia tộc Anglo-Normandes vùng Nam và Đông như Desmond và Butter d ́Ormonde hay Fitzgerard de Kildare đã kết hôn với gia tộc các thủ lĩnh Gaël, cũng như hoàng gia Anh, lo lắng sự phối hợp này luật Kilkenny năm 1366 cấm đoán các cuộc hôn phối. Từ đầu thế kỷ 15 gia tộc Fitzgerald de Kildare cai trị hầu hết lãnh thổ Ái Nhĩ Lan, họ thu thuế và độc lập với hoàng gia Anh. Tổng thống John Fitzgerald Kennedy Hoa Kỳ là hậu duệ dòng tộc này.

 

            Từ thế kỷ 16,17 quyền lực Kildare bị quét sạch dưới thời vua Henri VIII,  ông giam lãnh chúa Fitzgerard de Kildare chết năm 1536 và xử tử con trai lãnh chúa đã nổi loạn.

 

            Cho đến lúc đó, dưới thời các vua Anh Quốc, tại Ái Nhỉ Lan chỉ có các lãnh chúa, nhưng khi Henri VIII tuyên xưng là vua Ái Nhỉ Lan năm 1541, giải tán các dòng tu, tịch thu đất đai các lãnh chúa, đặt dưới luật lệ Anh Quốc. Các con gái Henri VIII, nữ hoàng Mary và nữ hoàng Elizabeth I cũng không kém khắc nghiệt, đàn áp tất cả các cuộc nổi loạn và từ năm 1560-1570 di dân Anh Quốc sang chiếm đóng tại Munster. Chính sách này làm dấy lên phong trào yêu nước Ái Nhĩ Lan và cả những “cựu  dân Anh” có nguồn gốc Anglo-Normands. phần lớn đều theo Công Giáo. Năm 1590 Hugh O ́ Neil lập nên một đội quân tại  Ulster chống lại quyền lực Anh Quốc trong 9 năm và kêu gọi sự giúp đỡ của vua Tây Ban Nha công giáo Phillipp II. Quân Tây Ban Nha đổ bộ vào Kinsle gần Cork và bị đánh bại quân bởi nước Anh của công tước Mountjoy. Trận chiến này làm quân Ái Nhĩ Lan Gaélique tàn lụi, sau cuộc thất bại Kinsale, quyền lực nước Anh thống trị tất cả Ái Nhỉ Lan. O ́ Neil và các công tước Ái Nhỉ Lan quyết định rời khỏi lãnh thổ năm 1607 để lại người công giáo Ulster không còn ai bảo vệ trước quân đội Anh. Đất đai các lãnh chúa được phân chia cho người theo đạo Tin Lành Écossaie và Anh và ảnh hưởng việc này còn kéo dài cho tới ngày nay. Chiếm cứ vùng đất giàu có thành lập các thành phố như Londonderry, các  thực dân theo đạo Phản Thệ (Tin Lành)  theo lối sống khác biệt với dân địa phương Ái Nhỉ Lan, điều này tạo nên mối thù hận lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến ngày nay.

 

            Cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 cuộc cải cách tôn giáo Phản Thệ (Protestant) chia ra thành phiều phái. Ái Nhĩ Lan trở thành nơi đối đầu xung đột giữa các Calvinistes và Anh Giáo. Vua Charles Ier muốn trở thành chế độ quân chủ tuyệt đối, áp đặt Anh Giáo là tôn giáo duy nhất, đã gây nên cuộc bạo loạn các Calvinistes  Écosse và Ulster, trong lúc năm 1641 dân Công Giáo Ái Nhĩ Lan nổi dậy tàn sát chống dân Anh chiếm đóng. Dân Ái Nhĩ Lan và “cựu dân Anh” liên kết thành lập liên tôn Kilkenny, lập đội quân chống lại hoàng gia Anh, được sự ủng hộ của Công Giáo các nước Âu Châu. Nhưng cuộc nội loạn này bị quét sạch bởi Olivier Cromwell; không phân biệt giữa Ái Nhĩ Lan và “cựu dân Anh”, Olivier Cromwell nắm quyền thủ tướng đã tịch thu toàn bộ tài sản Giáo Hội Công Giáo, tại Ái Nhĩ Lan, ông phân chia tài sản này cho quân đội và người theo đạo Phản Thệ đến từ Anh Quốc. Sau khi Cromwell bị  vua Henry VIII xử tử năm 1658 và sự trở lại của hoàng gia Anh Charles II trở lại một thời kỳ tôn giáo ôn hòa, khi người em kế vị Jacques III, theo công giáo Ái Nhĩ Lan bắt đầu trả lại tài sản cho Giáo Hội Công Giáo. Hy vọng này chỉ trong một thời gian ngắn, một cuộc đảo chánh cung đình đã lật đổ Jacques II và đưa con gái là Mary kế vị, vợ của Guillaume III d ́ Orange. Jacques II trốn khỏi Irlande và thành lập một đội quân Công giáo hùng mạnh. Ngày 18-4-1689 đoàn quân này bao vây Londonderry nhưng không chiếm được thành phố. Tháng 6-1690 Guillame III đổ bộ Carrickfergus với binh đoàn tiến về thung lũng Boyne, nơi đó ông gặp và đánh bại đoàn quân Jacques II vào tháng bảy. Trận chiến thắng quân Guillaume d ́Orange được thành lễ hội tưởng niệm hằng năm tại Ulster.

 

            Sau trận đánh bại quân Công giáo, người Phản Thệ muốn thống trị thiết lập quyền lực lâu dài, họ ra luật hình sự năm 1695 nhắm tướt đoạt của cải người Công Giáo, cũng như người Phản Thệ Ulster được xem như người tà giáo, họ không được hành đạo nơi công cộng, cũng như không được một chức vụ trong hành chánh công quyền, điều đó làm họ phải bỏ nước ra đi. Giai đoạn “ hồng nhạn thiên di” (Wild Geese, Vol des Oies sauvange).  Nhiều người Ái Nhĩ Lan phải bỏ nước sang các vương quốc Công Giáo như Pháp, Tây Ban Nha. Các luật lệ này nảy sinh những tình cảm bất đồng nơi người Công Giáo, cũng như trong thành phần trí thức Anh Giáo đòi hỏi sự công bằng.

Phân nửa sau thế kỷ 18 tình hình có phần lắng dịu, các tôn giáo bớt phần căng thẳng, Ái Nhĩ Lan qua một giai đoạn kinh tế phồn thịnh dưới thời các vua Georges I, II, III, và IV xây dựng các công trình kiến trúc lớn ở Dublin là khuôn mẫu kiến trúc Ái Nhỉ Lan.

 

            Các tín đồ giáo phái Calvin nhìn thấy trong cách mạng Pháp 1789, một niềm tin hy vọng để lật đổ sự thống trị của Anh Giáo, phần lớn họ có trình độ giáo dục cao  và hấp thụ các tư tưởng dân chủ hơn người công giáo. Phần lớn tín đồ phái Phản Thệ này thành lập năm 1791 tại Belfast phong trào United Irishmen, tổ chức yêu nước đầu tiên bởi một luật sư Phản Thệ, Théobald Wolfe Tone, ông tuyên bố dùng tên Ái Nhĩ Lan thay cho Công Giáo hay Phản Thệ. Ông sang Pháp thuyết phục chính quyền cách mạng Pháp giúp đỡ cho Ái Nhĩ Lan Thống Nhất; cuộc đổ bộ trợ giúp bị thất bại trước Bantry trong  vùng Cork, người Ái Nhỉ Lan thống nhất vẫn quyết định thiết lập nền cộng hòa, họ lập một đội quân gồm cả người phản thệ và nông dân công giáo. Nhưng cuộc nổi dậy năm 1798 bị thất bại vì thiếu chuẩn bị. Họ chiếm được các thành phố quan trọng như Wexford kháng cự lâu dài, nhưng bại trận trong trận đánh Vinegar Hill gần Enniscorthy. Hơn 30 000 người khởi nghĩa và thường dân bị tàn sát, Wolfe Tone bị bắt làm tù binh và tự sát một thời gian sau.

 

            Giấc mơ tự do, độc lập Ái Nhĩ Lan không được Giáo Hội Công Giáo yểm trợ vì  chính phong trào cộng hòa là một mối hiểm họa cho giáo hội. Thiếu sự ủng hộ đó người Ái Nhĩ Lan các tôn giáo bị đặt dưới sự đô hộ toàn quyền của Londres.

  

            Về hành chính, Ái Nhĩ Lan chia ra làm 26 quận (comté), thuộc Cộng Hoà Ái Nhĩ Lan và 6  quận đa số theo Phản Thệ Giáo (Tin Lành) phía bắc thuộc Anh Quốc, 32 quận chia thành 4 tỉnh (provinces). Tuy thuộc Anh Quốc nhưng từ năm 1998, Bắc Ái Nhỉ Lan theo Hiệp Ước hoà bình có riêng quốc hội, thượng viện, và chính phủ riêng thủ đô tại Stormont.

 

            Đời sống chính trị Cộng Hòa Ái Nhĩ Lan, được ban hành bởi Hiến pháp năm 1937, chi phối bởi đạo Công Giáo. Mặc dù hủy bỏ năm 1972 điều luật xem Công giáo là nền tảng quốc gia, năm 1995 đạo luật cấm ly dị. Ái Nhỉ Lan là nước không tách rời tôn giáo khỏi chính trị như các nước Âu Châu, Giáo Hội Công Giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong Giáo Dục, trong tổ chức xã hội và y tế. Gia nhập vào Âu Châu, việc tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị đang tiến hành từng bước. Cộng Hoà Ái Nhỉ Lan là một nền dân chủ đại nghị, có quốc hội gồm 160 dân biểu và thượng viện gồm 60 thượng nghị sĩ. Tổng Thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu trực tiếp bảy năm một lần, nắm giữ quyền hành, bảo đảm bởi Hiến Pháp và chỉ huy quân đội, Tổng Thống và bổ nhiệm Thủ Tướng do Quốc Hội đề nghị; các luật lệ được viết bằng hai thứ tiếng Gaélique và tiếng Anh. Năm 1990 bà Mary Robinson được bầu làm Tổng Thống và  bà Mary Mc Aleese được bầu làm Tổng Thống với hai nhiệm kỳ 1997 và 2011. Tổng Thống bổ nhiệm ông Simon Harris làm thủ tướng. Tình hình chính trị Ái Nhỉ Lan không vững vàng do đảng Sinn Féin ngày càng chiếm nhiều ghế cả nam bắc Ái Nhĩ Lan. Thành lập từ năm 1905 đảng Sinn Féin (có nghĩa là Chính chúng ta) đòi hỏi độc lập  và thống nhất hai miền nam bắc Ái Nhỉ Lan.

 

            Năm 2016, Anh Quốc bầu cử trưng cầu dân ý tách rời Anh Quốc ra khỏi Liên Hiệp Âu Châu, bắc Ái Nhỉ Lan 56% chống lại quyết định này, phong trào bắc Ái Nhỉ Lan, muốn tách rời khỏi Anh và thống nhất với nam Ái Nhỉ Lan càng lớn mạnh, đã dẫn đến nhiều cuộc hiệp thương và biên giới nam bắc Ái Nhỉ Lan.

 

            Tiếng Anh là ngôn ngữ được dùng khắp đảo, nhưng tiếng Gaélique là ngôn ngữ biểu tượng chính thức. Tất cả văn kiện hành chánh đều được viết bằng cả hai ngôn ngữ, tuy nhiên ở bắc Ái Nhỉ Lan chỉ dùng tiếng Anh. Ngôn ngữ Gaélique thuộc phổ hệ ngôn ngữ Ấn Âu, cùng một nhánh với ngôn ngữ Celte như le Breton, le Cornouailles, le Gallois, le Manxois và l ́ Ecossais. Viện Bảo Tàng Ái Nhĩ Lan còn gìn giữ chữ viết cổ nhất của ngôn ngữ celtiques, được bồi bổ qua bao thế kỷ và được ghi chép bằng “alphabet”. Sách ‘Book of Kells” trưng bày tại Trinity College ở Dublin, thánh kinh được viết bằng tiếng gaélique là bằng chứng quan trọng. Từ năm 1960 để đọc nhanh chóng chữ viết này nhường chổ cho chữ Romain. Việc tập đọc được giảng dạy từ tiểu học, nhưng chỉ có khoảng 30 000 đến 50 000 người dùng thông thạo, và 1 200 000 triệu người dùng trên thế giới. Tiếng Gaélique Á Nhỉ Lan là ngôn ngữ chính thức trong Liên Hiệp Âu Châu và năm 2021 trở thành ngôn ngữ thứ 24 Liên Hiệp Âu Châu. Sự đổi mới tiếng Gaélique từ thế kỷ 19 trở thành ý thức quan trọng cho việc thành hình quốc gia. Xưa chỉ có những tác phẩm truyền khẩu của các nông dân, đã được các nhà văn, nhà viết kịch như Yeats, Synge xử dụng và các đại học nghiên cứu phổ biến văn phạm. Từ khi độc lập năm 1921 chữ Gaélique trở thành ngôn ngữ bắt buộc trong các kỳ thi.

 

            Từ năm 1850 đến 1930, do nạn thất mùa khoai tây, một triệu người chết đói, hơn bốn triệu người di cư sang Hoa Kỳ, họ trở thành nhân tố tích cực trong việc xây dựng sự phồn thịnh Hoa Kỳ, người Ái Nhĩ Lan dẫn đầu trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, nghệ thuật, xã hội. Những tên tuối dòng dõi Ái Nhỉ Lan rất dễ nhận ra: hai mươi bốn người trở thành Tổng Thống Mỹ Kennedy, Ronald Reagen đến Biden và một người thành Tổng Thống Pháp là Mac Mahon. Phi hành gia Neil Armstrong người đầu tiên lên mặt trăng, Henry Ford thành lập hảng xe Ford. Về tài tử điện ảnh nhiều ngôi sao nổi tiếng gốc người Ái Nhỉ Lan như John Wayne, Clint Eastwood, Harrison Ford, Robert de Niro, Kevin Costner, Mel Gibson, Tom Cruise, George Clooney, Grace Kelly..

 

            Đến Bắc Ái Nhĩ Lan, thăm Belfaste không thể không đi thăm viện Bảo Tàng Titanic, thành lập năm 2012 kỷ niệm 100 năm tai nạn đắm tàu, con tàu danh tiếng thế kỷ. Bảo tàng xây dựng bởi kiến trúc sư Eric Kuhne, kiến trúc bằng nhôm hình ngôi sao để tưởng niệm công ty White Star Line, xây dựng tàu Titanic trên xưởng đóng tàu chính nơi này năm 1911, nơi hạ thủy con tàu còn hai hàng trụ cột, ngày đó hơn một trăm ngàn người đến xem con tàu to lớn, tối tân, với tính toán không thể nào chìm được. Bốn góc là bốn phần viện bảo tàng tượng trưng bốn con tàu, tầng sát đất trung tâm là các cửa tiệm và nhà hàng. Cuộc viếng thăm được trình bày các đoạn phim hình ảnh lúc xây dựng con tàu tìm được trong văn khố phim ảnh năm 1911. Từ công ty, kỹ sư thiết kế con tàu, thuyền trưởng, thủy thủ, các nhân viên phục vụ trên tàu và chuyến đi định mệnh con tàu, nguyên nhân đầu tiên từ người phụ trách đã cất chùm chìa khoá viễn vọng kính, làm cho người lái tàu không nhìn xa được, người thuyền trưởng lại ra lệnh cho con  tàu xả hết tốc lực để lập thành tích nhanh chóng đến New York, nếu con tàu đụng thẳng vào tảng băng tàu cũng không thể chìm, nhưng việc tàu đụng vào tảng băng bên hông, ngay tại các điểm các chốt sắt mang đặc điểm yếu kém nhất vì người thầu cung cấp không đúng tiêu chuẩn, hàng loạt các yếu điểm kế tiếp dẫn đến con tàu không thể nào chìm, tàu chia làm nhiều khoang vách ngăn chận, nếu một khoang bị ngập nước cũng không chìm theo  tính toán  chính xác, niềm kiêu ngạo của các kỷ sư đóng tàu thách đố việc xây dựng con tàu biển to lớn đã tan biến, sau khi đánh điện cấp cứu SOS, thuyền trưởng giờ ra lệnh di tản khỏi con tàu, phải hai giờ rưỡi sau mới có tàu gần nhất đến cứu, các thuyền nhỏ hạ thủy xuống, mỗi thuyền chứa được 40 người nhưng chỉ mười mấy người lên thuyền, các khoang vô nước, tàu Titanic đã gảy làm hai chìm xuống lòng đại dương. Hơn 1500 chết trong số 2200 người, gồm 1316 hành khách và 900 nhân viên, thủy thủ. Trong 1316 hành khách: hạng nhất gồm 325 người giàu có, tư bản, hạng hai 285 du khách và hạng ba 786 ngươi di dân.  Cuối cùng là các di vật vớt được từ con tàu trong lòng đại dương. Lịch sử kỹ nghệ đóng tàu Belfast đã được trình bày qua các giai đoạn.

 

            Có hơn 33 triệu người Hoa Kỳ khai báo mình dòng dõi Ái Nhĩ Lan, 10% dân số Hoa kỳ. Từ 1820 đến 1920 do nạn đón năm 1845-1855 có bốn triệu người di dân sang Mỹ. Ngày nay có khoảng 80 triệu người Ái Nhỉ Lan trên thế giới chủ yếu ở Nam Mỹ, Âu Châu, Úc Châu.. hằng năm họ về Ái Nhĩ Lan tìm lại gốc tích dòng dõi mình tạo nên một nguồn lợi lớn ngành du lịch. Người có tên Ái Nhỉ Lan dễ nhận ra như chữ Mac có nghĩa là con ông, Mac Arthur con ông Arthur.

 

            Ái Nhĩ Lan có nhiều thắng cảnh thiên nhiên, vườn quốc gia và các tu viện đẹp.

Thắng cảnh thiên nhiên khu bờ biển đá thiên nhiên hình trụ lục lăng Derry vùng Letterkenny.

Bờ biển vách đá dựng Slieve League cao thứ nhì Âu Châu 601m. Bờ biển đá Moher đá xếp chồng nghiêng nghiêng từng mảng.

Những công trình xây dựng tuyệt đẹp từ mái nhà bằng tranh, vách vôi trắng bên cạnh các bến cá,

đến tu viện Kylemore kiến trúc từ lâu đài một nhà kỹ nghệ , di tích tu viện Glendelough..

Vườn Quốc Gia Killarney và vườn Muckross cảnh sắc tuyệt đẹp với những cánh đồng cỏ tuyệt đẹp  bên cạnh các vườn hoa muôn sắc.

Ái Nhĩ Lan nổi tiếng với những xưởng cá hồi un khói Burren Smokehouse và nghề chưng cất rượu Whisky hảng Midleton, vùng Carlow.

 

            Bờ biển đá lục lăng hình trụ là một hiện tượng địa chất đặc biệt, lôi cuốn du khách tại vùng bắc Ái Nhỉ Lan. Theo huyền thoại celtique cổ đại con đường biển đá lục lăng xây dựng bởi người khổng lồ Fionn Mac Cumhaill (Finn McCool) cho kẻ thù địch Benandonner đi đến đánh nhau. Bị đánh bại kẻ thù địch muốn trốn chạy theo đường cũ nhưng Finn McCool làm con đường biến mất vào biển cả. Từ thế kỷ thứ 19 người ta mới hiểu các trụ đá hình lục lăng là do nham thạch từ lòng đất phun ra cách đây 60 triệu  năm và kết tinh thành hình trụ lục lăng.

 

            Về Văn học, dù tiếng Anh là ngôn ngữ chính sáng tạo văn chương, văn học Ái Nhĩ Lan vẫn giữ ảnh hưởng độc lập với ảnh hưởng văn chương Anh và Hoa Kỳ. Thời cận đại Ái Nhỉ Lan hãnh diện đã có bốn nhà văn lớn viết tiếng Anh đoạt giải Nobel văn chương: William Butler Yeats (1923) Georges Bernard Shaw (1925), Samuel Beckett (1969), Seamus Heaney(1995) và nhiều tác giả hiện đại có sách bán chạy nhất hàng năm bằng tiếng Anh. Trong các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc cũng khá nhiều nhạc sĩ nhạc rook hàng đầu khai thác đề tài cuộc đấu tranh với Anh quốc, chế độ tàn bạo trong ngục tù, khai thác tinh thần nổi loạn hay nỗi buồn lưu vong.

 

            Nhiều nhà văn, nhà thơ là những người kể chuyện tài năng, dù ngôn ngữ Gaélique hay tiếng Anh cũng mang lại một luồng gió mới vào văn chương Anh Mỹ vượt ra khỏi biên giới Ái Nhĩ Lan.

Jonathan Swift (1667-1745), thi sĩ Thomas More (1779-1852). Oscar Wilde(1854-1900) viết Chân dung Dorian Gray, nổi tiếng là một tuyệt phẩm công nhận bởi giới trí thức Anh, tiếng Anh chính xác, thanh nhã, tráng lệ, nhiều nhà văn giữ các hình thức gốc từ tiếng Gaélique sáng sủa, đơn giản và giàu tưởng tượng, đôi khi thân mật và xấc xược. James Joyce (1882-1941) là một anh hùng lớn của cuộc cách mạng văn chương, đã góp phần đảo lộn kỹ thuật viết văn. John Millington Synge(1871-1909) đã thành công phát biểu tinh thần Ái Nhĩ Lan trong tiếng Anh mặc dù giữ mọi cấu trúc văn phạm truyền thống từ tiếng gaélique trong vỡ kịch Cuộc phiêu du trong thế giới Tây phương, Sean O ́ Casey sống lại trong sách ông đời sống thợ thuyền tại Dublin. Liam O ́ Flaherty đam mê trong tiểu thuyết lịch sử. Thi sĩ Patrick Kavanagh (1906-1967) trong tự truyện Ngọn cỏ ngu si, vẽ lại bức tranh Ái Nhỉ Lan đồng quê. Frank O ́ Connor (1903-1966) với những truyện ngắn châm biếm. Bredan Behan(1923-1964) là một kịch tác gia tài năng.

 

            Về thi ca William Butler Yeats (1865-1935) đưa người đọc trở lại cuộc sống tưởng tượng thời Celtique, những thời đại huyền sử, bí mật. Seamus Heaney (1939-2013) làm chứng nhân trong thi ca ông sự gắn bó tuyệt vọng về nguồn gốc. Về kịch nghệ cũng là một ưu điểm sống động do Yeats thành lập cùng các bạn hữu. Lady Gregory tại Abbey Théâtre ở Dubin sáng tạo những vở kịch danh tiếng của JM Synge. O ́ Casey với những vở kịch chính trị đương thời.

 

            Thăm Ái Nhĩ Lan, chúng ta không khỏi ngạc nhiên với sức sống kỳ diệu một dân tộc, một quốc gia nhỏ bé, từ lầm than tăm tối bị nạn đói, mất mùa khoai lang tây thế kỷ 19, phải bỏ nước ra đi, đã tạo nên những con người tài năng hàng đầu một cường quốc lớn giàu có nhất địa cầu.

 

Paris 18-8-2026



Đơn vị Taliban hải ngoại ở Pakistan (TTP) đã chúc mừng quân Taliban đã chiếm hoàn toàn Afghanistan, chỉ trừ sân bay Kabul để quân Mỹ từ từ di tản, nói đây là chiến thắng chung của Hồi Giáo. Mohammad Khorasani, phát ngôn nhân TTP, gửi bản văn lập lại sự hỗ trợ cho Taliban Afghanistan, và hứa "hỗ trợ và tăng sức mạnh cho Tiêu Vương Quốc Hồi Giáo Afghanistan (Islamic Emirates of Afghanistan).
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
“Đây là điều tôi tin vào cốt lõi của mình: Là sai lầm để ra lệnh cho binh sĩ Mỹ bước tới khi chính quân đội của Afghanistan thì không,” theo Biden phát biểu trong bài nói chuyện của ông trước quốc dân hôm Thứ Hai. “Còn bao nhiêu thế hệ của con gái và con trai nước Mỹ mà bạn muốn tôi gửi họ đi chiến đấu cho cuộc nội chiến của Afghanistan? Tôi sẽ không lập lại những sai lầm mà chúng ta đã làm trong quá khứ.”
“Bao lâu còn có thể, quân đội Đức sẽ bốc càng nhiều người càng tốt ra khỏi Afghanistan và duy tri cầu không vận,” theo bà nói, cho biết thêm rằng điều này tùy thuộc vào ước muốn của Hoa Kỳ duy trì việc mở cửa phi trường. Không có chuyến bay di tản nào rời khỏi phi trường Kabul vào lúc này bởi vì những người tuyệt vọng cố chạy thoát khỏi nước đã vây kín phi đạo, theo một phát ngôn viên cho bộ ngoại giao Đức cho biết tại cuộc họp báo thường kỳ của chính phủ hôm Thứ Hai.
Chính phủ liên bang hôm Thứ Hai, 16 tháng 8 năm 2021 đã tuyên bố thiếu nước trên Sông Colorado River lần đầu tiên, đưa tới việc cắt giảm tiêu thụ nước cho nhiều tiểu bang tại Miền Tây Nam Hoa Kỳ, khi hạn hán do biến đổi khí hậu gây nên thúc đẩy mực nước tại Hồ Lake Mead xuống tới mức thấp chưa từng thấy, theo CNN tường thuật hôm Thứ Hai. Hồ Lake Mead, hồ chứa nước lớn nhất tại Hoa Kỳ tính theo dung lượng, đã cạn tới mức báo động trong năm nay.
Một người phụ nữ trẻ Trung Quốc nói rằng cô đã bị giam giữ 8 ngày tại một cơ sở giam giữ bí mật do TQ điều hành tại Dubai cùng với ít nhất 2 người Duy Ngô Nhĩ, trong cái mà là chứng cứ đầu tiên rằng TQ đang hoạt động cái được gọi là “nhà tù đen” bên ngoài biên giới của họ, theo bản tin của Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Hai, 16 tháng 8 năm 2021.
Trong hoàn cảnh đó, chính quyền của TT Joe Biden vừa đưa ra lời kêu các công dân Mỹ có lòng nhân đạo, hãy tiếp tay bảo trợ những người tỵ nạn khốn khổ Afghanistan. Chúng tôi xin kính chuyển lời kêu gọi đó đến với cộng đồng người tỵ nạn Việt Nam. Nếu quý vị nào ở trong hoàn cảnh thuận tiện và có đủ khả năng xin hãy ra tay cứu giúp bằng cách nhận bảo trợ dù chỉ một người hay một gia đình người A Phú Hãn. Họ đang lần lượt được di tản và sẽ đến HK trong một ngày gần đây, với số lượng ước tính khoảng 30 ngàn người.
“Nguồn gốc của sự kiện ngày hôm nay bắt nguồn từ những ngày đầu tiên của các hoạt động quân sự thiếu cân nhắc trong việc điều hành, sau sự kiện 9/11 tại Hoa Kỳ. Chúng ta không thể chiến tranh mãi mà không có hy vọng rút quân. Tôi tin rằng kết thúc cuộc chiến là một chính sách đúng, tuy nhiên khi làm như vậy, chúng ta không thể bỏ rơi những người dân vô tội.”
Tác giả Lê Chiều Giang vừa phát hành Không Đứng Mãi Trong Tranh. Tác phẩm dày 164 trang, vừa văn xuôi, vừa thơ. Độc giả sẽ thấy trong sách ngập tràn những quá khứ, như nhận định của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, “…đọc Lê Chiều Giang, những dòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc về, nhớ tới… Những quá khứ của thời đã ‘Chết đi, sống lại’.” Đúng ra, quá khứ chỉ là một phần, vì tác giả Lê Chiều Giang vẫn còn trên cõi này, còn đọc và còn viết. Và trong sách, có những bài được viết rất gần đây. Tác phẩm như dường rất mong manh, như mơ, như thực… Ngay nơi nhan đề sách đã là một hình ảnh của một chân trời cổ tích, “Không Đứng Mãi Trong Tranh.” Bạn có thể nhớ tới một tích cổ trong thời nhà Trần ở thành Thăng Long, chàng thư sinh Tú Uyên say mê thiếu nữ trong tranh, và trong một lần nàng bước ra khỏi tranh đã bị chàng nắm tay giữ lại cõi này. Có phải chuyện của người xưa ở phường Bích Câu cũng là chuyện đời nay của Sài Gòn
Lâu lắm rồi, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận giảng ở San Diego: - Việt Nam có 84 triệu mỏ than. Người không hiểu tự hỏi: Việt Nam có 84 triệu mỏ than thì nước Việt Nam giàu quá, nếu những mỏ than này mà khai thác hết thì nước Việt Nam giàu lắm, giàu lắm. Nhưng sau này hiểu ra thì không phải là "mỏ than" mà là người Việt Nam hay than, giàu nghèo gì cũng than, còn thiếu 1 ngàn đồng thành 1 triệu cũng than.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
“Tôi sẽ ngạc nhiên nếu chúng ta không vượt qua 200,000 trường hợp một ngày trong vài tuần lễ nữa, và điều đó được xem là đau lòng vì chúng ta không bao giờ nghĩ chúng ta trở lại trong tốc độ đó nữa,” theo Collins cho biết. Collins khẩn nài những người Mỹ chưa chích ngừa hãy đi chích ngừa, gọi họ là “những con vịt ngồi” đối với biến thể Delta mà đang tàn phá đất nước và cho thấy dấu hiệu nhỏ bé của việc xóa bỏ nó.
Tổng Thống Joe Biden và các viên chức hàng đầu khác của Hoa Kỳ đã ngạc nhiên hôm Chủ Nhật, 15 tháng 8 năm 2021, bởi tốc độ của việc Taliban chiếm hoàn toàn Afghanistan, khi việc rút quân đội Mỹ theo kế hoạch khẩn cấp đã trở thành nhiệm vụ để bảo đảm một cuộc di tản an toàn, theo bản tin của AP tường thuật hôm Chủ Nhật. Tốc độ sụp đổ của chính quyền Afghanistan và những hỗn loạn tiếp theo nêu ra thử thách nghiêm trọng nhất của Biden trong tư cách tổng tư lệnh, và ông là đối tượng của sự chỉ trích từ Cộng Hòa là những người nói rằng ông đã thất bại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.