Hôm nay,  

Con Đường Tới Phật Giáo

01/09/202610:46:00(Xem: 1014)
blank

Con Đường Tới Phật Giáo
 

Nguyên Giác
 

Bạn còn nhớ gì về những ngày thơ ấu, khi được mẹ dẫn vào ngôi chùa nơi đầu xóm để lễ Phật trong những ngày đầu năm? Bạn còn nhớ gì về tượng hai vị thần khổng lồ, một ông ngó mặt hiền lành và một ông có vẻ hung dữ, đang đứng hay bên cửa chính điện, như dường để hù dọa những đứa con nít như chúng ta đang đi lúp xúp bước theo mẹ? Và chúng ta đã vào chùa, lễ Phật, thắp hương, cúng dường trong khi chúng ta không hiểu gì về Đạo Phật, và rồi chúng ta nghe tụng kinh mà không hiểu bao nhiêu. Phải tới khi lớn lên kha khá, các cô các cậu như chúng ta mới nghe tới những chữ như Thiền tập, Chánh niệm, tỉnh thức... mà rất là sương khói mơ hồ, để rồi cho tới khi vào đại học, nơi chúng ta được đọc sách (và may mắn, vài bạn còn được học) một cách chính quy về Phật Giáo, một tôn giáo ngấm vào chúng ta như sương sớm, như mưa bụi.

Như thế đó, Phật tử Việt Nam và châu Á thường tiếp cận Phật giáo qua hòa nhập văn hóa thay vì chủ động tìm kiếm về mặt tâm linh. Tại nhiều nơi ở châu Á, Phật giáo hòa nhập với đời sống gia đình, các lễ hội theo mùa và những nghi thức cộng đồng. Trẻ em lớn lên đã quen với việc quy y, lễ Phật, tụng kinh và dâng lễ vật từ rất lâu trước khi có thể hiểu hay diễn giải ý nghĩa của giáo lý.
 

Ngay cả trong truyện cổ và ca dao cũng có chất men Phật Giáo để gắn kết các phẩm chất như lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, bản sắc văn hóa và sự gắn kết cộng đồng hơn là một lựa chọn tâm linh mang tính cá nhân. Thí dụ như khi chúng ta đọc các truyện kể về khoảng hai ngàn năm trước, các Ni sư đóng cửa chùa, chiêu mộ dân làng để theo Trưng Trắc chống quân ngoại xâm, và rồi được Trưng Vương phong là Công chúa Khâu Ni (chùa Huyền Cổ), Công chúa Bát Nàn (chùa Tiên La), Nữ tướng Thiều Hoa (sau chiến thắng quân Hán, bà đã xuất gia tu học tại chùa Phúc Khánh), Công chúa Phương Dung (chùa Thanh Vân), Công chúa Chiêu Dung (về học đạo với Thiền sư Đạo Uẩn tại chùa Hương Lan). Thế đó, khi học sử Việt, từ thơ ấu, Phật giáo ngấm vào chúng ta như một tôn giáo di sản. Chúng ta không bận tâm về Thiền Tông, về chánh niệm, cho dù có đọc nhiều về các Thiền sư nhà Trần, nhà Lý.

Tuy nhiên, thế hệ con em của chúng ta sẽ  khác: trẻ em lớn lên ở Hoa Kỳ (và các nước Châu Âu) có khi ở môi trường thiếu vắng ngôi chùa. May mắn lắm, nếu gia đình cư trú ở các nơi đông người Việt, như ở Nam và Bắc California, vài nơi ở Texas, ở Virginia, trẻ em mới có cơ duyên được ba mẹ dẫn đi chùa. Thêm nữa, trong khi chúng ta thời thơ ấu không bao giờ nêu câu hỏi với ba mẹ; bây giờ khác rồi, con em của chúng ta luôn luôn có nhiều câu hỏi, đôi khi là câu hỏi rất khó. Thí dụ, khi chúng ta đưa bản kinh Tâm Kinh để các em đọc theo đại chúng, khi về nhà chúng ta sẽ được nghe những câu hỏi như, “Tại sao ‘Form is emptiness’ và tại sao ‘Emptiness is form’?” (Sắc tức là Không, và Không tức là Sắc). Ngay cả khi bạn nhớ tới các kinh về duyên khởi, hay nhớ tới thí dụ “cái bàn không phải là cái bàn” do cụ Tâm Minh Lê Đình Thám giải thích, bạn sẽ thấy khó mà nói cho một cậu bé lớp 5 ở Hoa Kỳ hết thắc mắc.
 

Nên thấy, con em chúng ta sinh ra và lớn lên được tắm gội trong môi trường giáo dục Hoa Kỳ (và Tây phương). Bạn thử nhìn chung quanh sẽ thấy. Nhiều người Mỹ tiếp cận Phật giáo trước tiên thông qua Thiền chánh niệm  – thường là trong các môi trường thế tục như trị liệu tâm lý, các chương trình chăm sóc sức khỏe hoặc hội thảo giảm căng thẳng tại nơi làm việc, và qua các chương trình truyền hình. Thiền định được xem như một công cụ tâm lý học thay vì một thực hành tôn giáo, và mãi về sau một số người thực hành mới khám phá ra cội nguồn Phật giáo của pháp chánh niệm. Đối với những người Hoa Kỳ này (và với nhiều trẻ em gốc Việt), Phật giáo trở thành một con đường tự chọn, được tiếp cận thông qua sách vở, các khóa tu và sự tìm tòi cá nhân. Nhiều người Mỹ cũng thực hành thiền Phật giáo trong khi vẫn giữ đức tin Cơ Đốc giáo. Nơi này, Phật giáo ít mang tính truyền thống cộng đồng mà thiên về một phương pháp tâm linh cá nhân (nghĩa là cái gì rất là mênh mông như dường xa lạ, không giống như chúng ta thời mới lớn).

Do vậy, trong khi chúng ta quan tâm về nghi lễ, con em chúng ta nghĩ về về các câu hỏi. Và thực tế cho thấy, Phật tử châu Á thường thực hành lòng sùng kính mà không bận tâm bao nhiêu về thiền định, trong khi những người thấm nhuần văn hóa Mỹ có thể thiền định mà không cần sự sùng kính tôn giáo. Hẳn là, chỉ nên nói là tùy duyên, vì con đường nào tới Phật giáo cũng đều tốt đẹp. Ngay cả khi các bạn Thiền tập người Mỹ kia vẫn giữ đạo Thiên Chúa, không quy y Tam Bảo, cũng tốt đẹp hơn là không biết gì về Phật giáo.

Có lẽ (chúng ta chỉ nói có lẽ thôi) con đường tới với Phật giáo sâu sắc nhất vẫn là những đau khổ cá nhân. Nỗi đau buộc chúng ta phải đối mặt với mong manh của kiếp người. Trong hoàn cảnh Việt Nam (hay nói rộng hơn, tại châu Á), bạn có thể lớn lên thực hiện các nghi lễ, lạy Đức Phật hoặc tụng kinh cùng gia đình, nhưng chỉ thực sự ngấm lời kinh dạy về Khổ, về Vô thường, khi đau buồn, khi người thân ra đi. Và có lẽ tại phương Tây cũng vậy, một người nào đó có thể bắt đầu bằng học chánh niệm trong bệnh viện hay trong quân đội, hay đọc qua sách vở, nhưng thường là một cuộc khủng hoảng---mất mát, bệnh hoạn, lo lắng---mới làm cho họ suy nghĩ về Phật giáo như một con đường giải thoát.
 

Đau khổ trở thành cánh cửa chung mà qua đó những lời dạy của Đức Phật có thể được kinh nghiệm như sự thật. Như trường hợp của thiếu nữ về sau trở thành Ni trưởng Kisa Gotami, người mẹ đã bế đứa con đã chết của mình đến gặp Đức Phật, cầu xin Ngài phục hồi sự sống cho cậu bé. Nỗi đau buồn quá lớn khiến cô không thể chấp nhận cái chết cuối cùng. Đức Phật không đưa ra lý luận siêu hình hay sự an ủi; thay vào đó, Ngài yêu cầu cô tìm một hạt cải từ một gia đình chưa bị cái chết chạm tới. Khi đi từ nhà này sang nhà khác, cô thấy rằng gia đình nào cũng đều biết đến cái chết. Nỗi đau đã mở ra cho cô một sự thật phổ quát: cái chết gắn liền với sự sống, và sự bám víu chỉ làm nỗi đau thêm sâu sắc. Trong khoảnh khắc nhận ra đó, niềm tin của cô dẫn tới cái nhìn sâu sắc và trực tiếp về vô thường và bản chất hư vỡ của đời người. Trực tiếp. Đó là kinh nghiệm không qua chữ nghĩa, không qua khái niệm.

Nghĩ kỹ, ông bà mình truyền dạy Phật Giáo theo kiểu niềm tin đi trước, thực ra, cũng là theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật dạy rằng phước lành là người tin vào Tam Bảo, kính lễ Tăng Ni và người giữ giới, cúng dường và bố thí, chưa cần tới ngồi Thiền, cũng đủ để sinh vào cõi trời, cũng đủ để trường thọ, có nhan sắc, có sức khỏe. Thậm chí, bạn chỉ cần tín tâm và đảnh lễ các nhà sư, cũng đủ để bạn có phước sinh vào cõi trời.
 

Trong Kinh AN 5.199, bản dịch của Thầy Minh Châu viết, trích như sau: “Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.” (1)
 

Kinh Pháp Cú cũng nói rằng kính lễ cũng sinh khởi phước lành (trường thọ, dung sắc, an lạc, sức mạnh). Thậm chí, phước lành có khi cứu được mạng người, như trường hợp Kinh Pháp Cú bài kệ 109. Bản dịch của Thầy Minh Châu về hai bài Kệ 108 và 109 như sau.

108. "Suốt năm cúng tế vật / Để cầu phước ở đời. / Không bằng một phần tư / Kính lễ bậc chánh trực."

109. "Thường tôn trọng, kính lễ / Bậc kỳ lão trưởng thượng / Bốn pháp được tăng trưởng: Thọ, sắc, lạc, sức mạnh."

Truyện tích Pháp Cú 109 lược kể như sau. Trong thời gian trú ngụ tại một ngôi chùa trong làng gần Dighalanghika, Đức Phật đã thuyết giảng bài Kệ số 109 của tập Kinh Pháp Cú, liên quan đến trường hợp của Ayuvaddhanakumara.

Xưa kia, có hai vị ẩn sĩ cùng nhau tu tập khổ hạnh trong suốt 48 năm. Sau đó, một trong hai vị từ bỏ đời sống ẩn sĩ và lập gia đình. Khi sinh được một người con trai, gia đình họ đến thăm vị ẩn sĩ cũ và đảnh lễ ông. Với cha mẹ đứa trẻ, vị ẩn sĩ nói: "Chúc các vị sống lâu", nhưng ông lại không nói gì với đứa trẻ. Cha mẹ đứa trẻ cảm thấy băn khoăn và hỏi lý do tại sao ông lại im lặng. Vị ẩn sĩ cho họ biết rằng đứa trẻ chỉ còn sống được bảy ngày nữa và ông không biết cách nào để ngăn chặn cái chết đó, nhưng Đức Phật Gotama có thể biết cách giải quyết.

Vì vậy, cha mẹ đứa trẻ đưa con đến gặp Đức Phật; khi họ đảnh lễ Ngài, Ngài cũng chỉ nói "Chúc các vị sống lâu" với cha mẹ mà không nói với đứa trẻ. Đức Phật cũng tiên đoán về cái chết sắp đến của đứa trẻ. Để ngăn chặn cái chết này, cha mẹ đứa trẻ được hướng dẫn dựng một cái chòi ngay lối vào nhà và đặt đứa trẻ nằm trên một chiếc giường trong chòi. Sau đó, các vị Tỳ-kheo được cử đến để tụng kinh hộ trì (paritta) trong suốt bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, chính Đức Phật đã đến chòi; chư thiên từ khắp vũ trụ cũng tụ hội về. Lúc bấy giờ, loài quỷ Avaruddhaka đang đứng ở lối vào, chờ cơ hội để bắt đứa trẻ đi. Tuy nhiên, khi chư thiên có uy lực mạnh hơn kéo đến, loài quỷ buộc phải lùi lại nhường chỗ, khiến chúng phải đứng cách xa đứa trẻ đến hai do-tuần. Suốt đêm đó, việc tụng kinh hộ trì vẫn tiếp diễn, nhờ vậy đứa trẻ được bảo vệ an toàn. Hôm sau, đứa trẻ được bế khỏi giường và được hướng dẫn đảnh lễ Đức Phật. Lần này, Đức Phật nói: "Chúc con sống lâu" với đứa trẻ. Khi được hỏi đứa trẻ sẽ sống được bao lâu, Đức Phật trả lời rằng cậu bé sẽ sống đến 120 tuổi. Do đó, đứa trẻ được đặt tên là Ayuvaddhana.

Khi lớn lên, cậu đi khắp đất nước cùng với một nhóm gồm năm trăm người bạn đồng tu. Một ngày nọ, họ đến tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana); các vị Tỳ-kheo nhận ra ông và thưa hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, liệu có phương cách nào để chúng sinh đạt được sự trường thọ không?" Đức Phật đáp: "Nhờ biết tôn trọng và kính ngưỡng các bậc trưởng thượng cùng những người hiền trí, đức hạnh, một người sẽ đạt được không chỉ sự trường thọ mà còn cả sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh."

Sau đó, Đức Phật đã thuyết bài Kệ số 109: Đối với người luôn tôn trọng và kính ngưỡng những bậc trưởng thượng và đức hạnh, bốn phước lành---tức là trường thọ, sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh---sẽ tăng trưởng.

Kết thúc thời pháp, Ayuvaddhana cùng năm trăm người bạn đồng hành của ông đã chứng đắc quả Dự Lưu.

Và dĩ nhiên, nếu bạn dạy cho con em Thiền tập và nhiều giáo lý hơn nữa, bên cạnh việc dạy lòng sùng kính Tam Bảo, phước lành sẽ còn tăng nhiều hơn nữa. Lúc đó, bạn không chỉ trả lời được cho con em câu hỏi vì sao Sắc tức là Không và ngược lại, mà còn cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm trực tiếp về Chánh pháp, để các em chạm được, hít thở được, cảm thọ được, sống được, chứ không chỉ là hiểu Chánh pháp qua chữ nghĩa ngôn từ. Lúc đó, thực sự là tuyệt vời.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 5.199: https://suttacentral.net/an5.199/vi/minh_chau    

 

 

- Trump từng tổ chức 1 bữa tiệc tưng bừng dành cho "các cô gái trẻ", nơi Jeffrey Epstein "là khách mời duy nhất" - Elon Musk đã chinh phục nhiều quan chức của Trump: không thể giúp Trump trừng phạt Musk - 4 nạn nhân của Epstein nói với NBC: nên phổ biến hồ sơ Epstein để xoa dịu các đạu đớn không chữa lành nổi
- DB Derek Tran yêu cầu Trump đừng cắt ngân sách giáo dục của 6 triệu trẻ em ở California. - California: xin đừng cắt giảm ngân sách 2026 chương trình TRIO đối với hơn 100.000 SVHS nghèo - California: 3 lính cứu hỏa chữa lửa, bị cây đè trúng, bị thương, nhập viện - Thủ tục xin thị thực (visa) vào Mỹ sẽ có phí 250 đô, riêng tờ đơn từ 6 đô lên 24 đô. Sẽ hốt bạc World Cup 2026 và Thế vận 2028.
- Dân biểu Jamie Raskin (Dân chủ) ra nghị quyết được nhiều DB ủng hộ: Trump phải nộp tất cả "hồ sơ Epstein" - Đặc vụ ICE được xem dữ liệu Medicaid chi trả cho bệnh viện, sẽ dò ra những di dân lậu cần bị trục xuất. Nếu bạn khai gian để có Mediciad cũng cơ nguy bị tước quốc tịch và bị trục xuất sang VN hay Phi Châu.
Trong một chính trường phân cực sâu sắc, nơi tiếng nói bất đồng bị chụp mũ và ranh giới giữa quyền lực và tư thù ngày càng mong manh, một điều xem ra đã luật bất thành văn: khi Donald Trump không vừa ý, sẽ có kẻ phải trả giá. Và cái giá đó không bao giờ rẻ. Các tập đoàn, hãng luật và đại học Hoa Kỳ vốn lệ thuộc vào giấy phép, ngân khoản liên bang hay cửa ngõ ra vào chính quyền – bỗng trở thành miếng mồi cho cuộc mặc cả quyền lực của Tổng thống. Có nơi chọn cách cúi đầu cho yên chuyện. Có nơi chống trả tới cùng. Hai phản ứng, hai lối thoát – hoặc dàn xếp để "giữ thể diện" cho Trump, hoặc chấp nhận đòn phản công để giữ thể diện cho chính mình.
Rạng sáng thứ Bảy, tại Rafah, một em bé 12 tuổi – chưa xác định tên – bị bắn chết ngay tại chỗ hôm 12 tháng 7, khi em đang cố len lỏi tiến lên rào sắt để nhận phần lương thực cho gia đình. Cùng hôm đó, hơn ba mươi người khác gục xuống giữa bụi cát và khói đạn, trong lúc chen chúc tại điểm phát thực phẩm của một tổ chức mang tên Gaza Humanitarian Foundation (GHF).Trước đó, tại trại Nuseirat, sáu trẻ em – có em chỉ độ sáu tuổi – trúng pháo kích thiệt mạng khi đang hứng nước vào ca. Trong tay các em không có đá, không có súng… chỉ có chiếc bình nhựa, vài mẩu bánh mì chưa kịp đem về nhà. Giữa cảnh Gaza bị phong toả hoàn toàn, dân chúng đói khát, bệnh tật, kiệt sức… thì chính phủ Hoa Kỳ chọn rót ba mươi triệu Mỹ kim cho GHF – một tổ chức tư nhân, lập ra vội vã, không kinh nghiệm, không kế hoạch, không kiểm toán, không ai giám sát.
Trong một chính trường phân cực sâu sắc, nơi tiếng nói bất đồng bị chụp mũ và ranh giới giữa quyền lực và tư thù ngày càng mong manh, một điều xem ra đã luật bất thành văn: khi Donald Trump không vừa ý, sẽ có kẻ phải trả giá. Và cái giá đó không bao giờ rẻ. Các tập đoàn, hãng luật và đại học Hoa Kỳ vốn lệ thuộc vào giấy phép, ngân khoản liên bang hay cửa ngõ ra vào chính quyền – bỗng trở thành miếng mồi cho cuộc mặc cả quyền lực của Tổng thống. Có nơi chọn cách cúi đầu cho yên chuyện. Có nơi chống trả tới cùng. Hai phản ứng, hai lối thoát – hoặc dàn xếp để "giữ thể diện" cho Trump, hoặc chấp nhận đòn phản công để giữ thể diện cho chính mình.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 — Tòa án Tối cao Hoa Kỳ hiện đã cho phép chính quyền Trump trục xuất người di dân sang một “nước thứ ba”, tức là một quốc gia không phải là quê hương của họ. Tòa án Tối cao đã hủy bỏ phán quyết của một thẩm phán tòa án liên bang ở Boston. Phán quyết này cho rằng những người di dân được lên lịch bị trục xuất sang nước thứ ba cần được trao cho cơ hội giải thích với giới chức rằng họ có lý do chính đáng để tin rằng họ sẽ bị ngược đãi hoặc tra tấn ở quốc gia thứ ba đó.
Trong trái tim của biết bao người di dân, nước Mỹ luôn là một miền đất hứa, nơi mọi ước mơ có thể nảy mầm và được bảo vệ. Niềm tin ấy được xây dựng trên một trụ cột vững chắc: quyền công dân theo nơi sinh, một nguyên tắc được khắc sâu trong Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, khẳng định rằng bất cứ ai sinh ra trên đất Mỹ đều là công dân của quốc gia này.
Do các cuộc biểu tình liên quan đến vấn để lao động vẫn đang tiếp diễn, việc thu gom rác tại Garden Grove vẫn bị trì hoãn. Đặc khu Vệ sinh Garden Grove (Đặc Khu Vệ Sinh) hiện đang cung cấp các điểm thu gom rác trong khu vực. Cư dân và các cơ sở thương mại đang sử dụng dịch vụ từ Sanitary District có thể đến các điểm thu gom rác tạm thời, miễn phí này để vứt bỏ rác
Trang mạng thông tin khoa học www.livescience.com có đưa hai tin ngắn đáng chú ý vào trung tuần Tháng Bảy. Bản tin đầu tiên là về sự dịch chuyển của lưỡng cực trái đất. Đại đa số chúng ta không nhận ra rằng thời gian của một ngày “ngắn” hơn một chút trong thời gian trung tuần tháng 7. Nhưng hành tinh của chúng ta thực sự đã quay nhanh hơn một chút, do sự thay đổi vị trí của Mặt Trăng so với hai cực của Trái Đất.
Chủ nghĩa bài ngoại – quan điểm cho rằng chính phủ cần bảo vệ người Mỹ sinh trong nước trước các mối đe dọa từ di dân – đã tồn tại lâu đời trong lịch sử Hoa Kỳ, theo Daniel Tichenor, Giáo sư Chính trị học tại Đại học Oregon, viết trên trang The Conversation ngày 15 tháng 7, 2025. Hiện nay, chính quyền Trump đang viện dẫn Đạo luật Di trú và Quốc tịch năm 1952 – một đạo luật ra đời trong thời kỳ lo sợ chủ nghĩa cộng sản – để siết chặt quyền của những người không mang quốc tịch Mỹ.
Trong thế giới hiện đại, niềng răng đã trở nên phổ biến như một phần của chăm sóc nha khoa. Tuy nhiên, các nghiên cứu khảo cổ học cho thấy rằng tình trạng răng mọc lệch (malocclusion) ở người tiền sử không phổ biến như hiện nay. Các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu nguyên nhân, và một trong những yếu tố được chú ý là chế độ ăn thay đổi theo thời gian, từ thô cứng sang mềm và dễ nhai hơn.
Theo tờ The Economist ngày 7 tháng 7, hơn 100 người đã thiệt mạng trong một trận lụt được xem là tồi tệ nhất tại Hoa Kỳ trong cả thế kỷ qua. Trận mưa như trút nước xảy ra vào rạng sáng ngày 4 tháng 7 đã quét qua quận Kerr ở miền trung Texas. Trong số các nạn nhân có 27 bé gái và nhân viên bị nước lũ cuốn trôi tại một trại hè Thiên Chúa giáo. Dự báo còn có thêm mưa lớn trong những ngày tới. Các bản đồ và biểu đồ khí tượng cho thấy ba yếu tố góp phần biến tai họa này thành thảm sát: 1. địa hình hiểm yếu, 2. lượng mưa kỷ lục, và 3. một hệ thống báo động không hoạt động.
Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc.
Sau 10 năm anh Tony Trương ra khỏi tù, anh lập lại sự nghiệp từ đầu cũng rất thành công mau chóng như trước kia. Nhờ anh chịu khó chăm chỉ học nghề sửa chữa điện lạnh trong suốt thời gian ở tù và khi anh ra tù anh đã có đầy đủ chứng chỉ tốt nghiệp và bằng hành nghề máy điện lạnh tại tư gia cũng như cho các cơ sở thương mại. Ít lâu sau anh anh thành lập một hãng Air Repairs Company sửa chữa điện lạnh
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.