Hôm nay,  

Con Đường Tới Phật Giáo

01/09/202610:46:00(Xem: 1295)
blank

Con Đường Tới Phật Giáo
 

Nguyên Giác
 

Bạn còn nhớ gì về những ngày thơ ấu, khi được mẹ dẫn vào ngôi chùa nơi đầu xóm để lễ Phật trong những ngày đầu năm? Bạn còn nhớ gì về tượng hai vị thần khổng lồ, một ông ngó mặt hiền lành và một ông có vẻ hung dữ, đang đứng hay bên cửa chính điện, như dường để hù dọa những đứa con nít như chúng ta đang đi lúp xúp bước theo mẹ? Và chúng ta đã vào chùa, lễ Phật, thắp hương, cúng dường trong khi chúng ta không hiểu gì về Đạo Phật, và rồi chúng ta nghe tụng kinh mà không hiểu bao nhiêu. Phải tới khi lớn lên kha khá, các cô các cậu như chúng ta mới nghe tới những chữ như Thiền tập, Chánh niệm, tỉnh thức... mà rất là sương khói mơ hồ, để rồi cho tới khi vào đại học, nơi chúng ta được đọc sách (và may mắn, vài bạn còn được học) một cách chính quy về Phật Giáo, một tôn giáo ngấm vào chúng ta như sương sớm, như mưa bụi.

Như thế đó, Phật tử Việt Nam và châu Á thường tiếp cận Phật giáo qua hòa nhập văn hóa thay vì chủ động tìm kiếm về mặt tâm linh. Tại nhiều nơi ở châu Á, Phật giáo hòa nhập với đời sống gia đình, các lễ hội theo mùa và những nghi thức cộng đồng. Trẻ em lớn lên đã quen với việc quy y, lễ Phật, tụng kinh và dâng lễ vật từ rất lâu trước khi có thể hiểu hay diễn giải ý nghĩa của giáo lý.
 

Ngay cả trong truyện cổ và ca dao cũng có chất men Phật Giáo để gắn kết các phẩm chất như lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, bản sắc văn hóa và sự gắn kết cộng đồng hơn là một lựa chọn tâm linh mang tính cá nhân. Thí dụ như khi chúng ta đọc các truyện kể về khoảng hai ngàn năm trước, các Ni sư đóng cửa chùa, chiêu mộ dân làng để theo Trưng Trắc chống quân ngoại xâm, và rồi được Trưng Vương phong là Công chúa Khâu Ni (chùa Huyền Cổ), Công chúa Bát Nàn (chùa Tiên La), Nữ tướng Thiều Hoa (sau chiến thắng quân Hán, bà đã xuất gia tu học tại chùa Phúc Khánh), Công chúa Phương Dung (chùa Thanh Vân), Công chúa Chiêu Dung (về học đạo với Thiền sư Đạo Uẩn tại chùa Hương Lan). Thế đó, khi học sử Việt, từ thơ ấu, Phật giáo ngấm vào chúng ta như một tôn giáo di sản. Chúng ta không bận tâm về Thiền Tông, về chánh niệm, cho dù có đọc nhiều về các Thiền sư nhà Trần, nhà Lý.

Tuy nhiên, thế hệ con em của chúng ta sẽ  khác: trẻ em lớn lên ở Hoa Kỳ (và các nước Châu Âu) có khi ở môi trường thiếu vắng ngôi chùa. May mắn lắm, nếu gia đình cư trú ở các nơi đông người Việt, như ở Nam và Bắc California, vài nơi ở Texas, ở Virginia, trẻ em mới có cơ duyên được ba mẹ dẫn đi chùa. Thêm nữa, trong khi chúng ta thời thơ ấu không bao giờ nêu câu hỏi với ba mẹ; bây giờ khác rồi, con em của chúng ta luôn luôn có nhiều câu hỏi, đôi khi là câu hỏi rất khó. Thí dụ, khi chúng ta đưa bản kinh Tâm Kinh để các em đọc theo đại chúng, khi về nhà chúng ta sẽ được nghe những câu hỏi như, “Tại sao ‘Form is emptiness’ và tại sao ‘Emptiness is form’?” (Sắc tức là Không, và Không tức là Sắc). Ngay cả khi bạn nhớ tới các kinh về duyên khởi, hay nhớ tới thí dụ “cái bàn không phải là cái bàn” do cụ Tâm Minh Lê Đình Thám giải thích, bạn sẽ thấy khó mà nói cho một cậu bé lớp 5 ở Hoa Kỳ hết thắc mắc.
 

Nên thấy, con em chúng ta sinh ra và lớn lên được tắm gội trong môi trường giáo dục Hoa Kỳ (và Tây phương). Bạn thử nhìn chung quanh sẽ thấy. Nhiều người Mỹ tiếp cận Phật giáo trước tiên thông qua Thiền chánh niệm  – thường là trong các môi trường thế tục như trị liệu tâm lý, các chương trình chăm sóc sức khỏe hoặc hội thảo giảm căng thẳng tại nơi làm việc, và qua các chương trình truyền hình. Thiền định được xem như một công cụ tâm lý học thay vì một thực hành tôn giáo, và mãi về sau một số người thực hành mới khám phá ra cội nguồn Phật giáo của pháp chánh niệm. Đối với những người Hoa Kỳ này (và với nhiều trẻ em gốc Việt), Phật giáo trở thành một con đường tự chọn, được tiếp cận thông qua sách vở, các khóa tu và sự tìm tòi cá nhân. Nhiều người Mỹ cũng thực hành thiền Phật giáo trong khi vẫn giữ đức tin Cơ Đốc giáo. Nơi này, Phật giáo ít mang tính truyền thống cộng đồng mà thiên về một phương pháp tâm linh cá nhân (nghĩa là cái gì rất là mênh mông như dường xa lạ, không giống như chúng ta thời mới lớn).

Do vậy, trong khi chúng ta quan tâm về nghi lễ, con em chúng ta nghĩ về về các câu hỏi. Và thực tế cho thấy, Phật tử châu Á thường thực hành lòng sùng kính mà không bận tâm bao nhiêu về thiền định, trong khi những người thấm nhuần văn hóa Mỹ có thể thiền định mà không cần sự sùng kính tôn giáo. Hẳn là, chỉ nên nói là tùy duyên, vì con đường nào tới Phật giáo cũng đều tốt đẹp. Ngay cả khi các bạn Thiền tập người Mỹ kia vẫn giữ đạo Thiên Chúa, không quy y Tam Bảo, cũng tốt đẹp hơn là không biết gì về Phật giáo.

Có lẽ (chúng ta chỉ nói có lẽ thôi) con đường tới với Phật giáo sâu sắc nhất vẫn là những đau khổ cá nhân. Nỗi đau buộc chúng ta phải đối mặt với mong manh của kiếp người. Trong hoàn cảnh Việt Nam (hay nói rộng hơn, tại châu Á), bạn có thể lớn lên thực hiện các nghi lễ, lạy Đức Phật hoặc tụng kinh cùng gia đình, nhưng chỉ thực sự ngấm lời kinh dạy về Khổ, về Vô thường, khi đau buồn, khi người thân ra đi. Và có lẽ tại phương Tây cũng vậy, một người nào đó có thể bắt đầu bằng học chánh niệm trong bệnh viện hay trong quân đội, hay đọc qua sách vở, nhưng thường là một cuộc khủng hoảng---mất mát, bệnh hoạn, lo lắng---mới làm cho họ suy nghĩ về Phật giáo như một con đường giải thoát.
 

Đau khổ trở thành cánh cửa chung mà qua đó những lời dạy của Đức Phật có thể được kinh nghiệm như sự thật. Như trường hợp của thiếu nữ về sau trở thành Ni trưởng Kisa Gotami, người mẹ đã bế đứa con đã chết của mình đến gặp Đức Phật, cầu xin Ngài phục hồi sự sống cho cậu bé. Nỗi đau buồn quá lớn khiến cô không thể chấp nhận cái chết cuối cùng. Đức Phật không đưa ra lý luận siêu hình hay sự an ủi; thay vào đó, Ngài yêu cầu cô tìm một hạt cải từ một gia đình chưa bị cái chết chạm tới. Khi đi từ nhà này sang nhà khác, cô thấy rằng gia đình nào cũng đều biết đến cái chết. Nỗi đau đã mở ra cho cô một sự thật phổ quát: cái chết gắn liền với sự sống, và sự bám víu chỉ làm nỗi đau thêm sâu sắc. Trong khoảnh khắc nhận ra đó, niềm tin của cô dẫn tới cái nhìn sâu sắc và trực tiếp về vô thường và bản chất hư vỡ của đời người. Trực tiếp. Đó là kinh nghiệm không qua chữ nghĩa, không qua khái niệm.

Nghĩ kỹ, ông bà mình truyền dạy Phật Giáo theo kiểu niềm tin đi trước, thực ra, cũng là theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật dạy rằng phước lành là người tin vào Tam Bảo, kính lễ Tăng Ni và người giữ giới, cúng dường và bố thí, chưa cần tới ngồi Thiền, cũng đủ để sinh vào cõi trời, cũng đủ để trường thọ, có nhan sắc, có sức khỏe. Thậm chí, bạn chỉ cần tín tâm và đảnh lễ các nhà sư, cũng đủ để bạn có phước sinh vào cõi trời.
 

Trong Kinh AN 5.199, bản dịch của Thầy Minh Châu viết, trích như sau: “Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.” (1)
 

Kinh Pháp Cú cũng nói rằng kính lễ cũng sinh khởi phước lành (trường thọ, dung sắc, an lạc, sức mạnh). Thậm chí, phước lành có khi cứu được mạng người, như trường hợp Kinh Pháp Cú bài kệ 109. Bản dịch của Thầy Minh Châu về hai bài Kệ 108 và 109 như sau.

108. "Suốt năm cúng tế vật / Để cầu phước ở đời. / Không bằng một phần tư / Kính lễ bậc chánh trực."

109. "Thường tôn trọng, kính lễ / Bậc kỳ lão trưởng thượng / Bốn pháp được tăng trưởng: Thọ, sắc, lạc, sức mạnh."

Truyện tích Pháp Cú 109 lược kể như sau. Trong thời gian trú ngụ tại một ngôi chùa trong làng gần Dighalanghika, Đức Phật đã thuyết giảng bài Kệ số 109 của tập Kinh Pháp Cú, liên quan đến trường hợp của Ayuvaddhanakumara.

Xưa kia, có hai vị ẩn sĩ cùng nhau tu tập khổ hạnh trong suốt 48 năm. Sau đó, một trong hai vị từ bỏ đời sống ẩn sĩ và lập gia đình. Khi sinh được một người con trai, gia đình họ đến thăm vị ẩn sĩ cũ và đảnh lễ ông. Với cha mẹ đứa trẻ, vị ẩn sĩ nói: "Chúc các vị sống lâu", nhưng ông lại không nói gì với đứa trẻ. Cha mẹ đứa trẻ cảm thấy băn khoăn và hỏi lý do tại sao ông lại im lặng. Vị ẩn sĩ cho họ biết rằng đứa trẻ chỉ còn sống được bảy ngày nữa và ông không biết cách nào để ngăn chặn cái chết đó, nhưng Đức Phật Gotama có thể biết cách giải quyết.

Vì vậy, cha mẹ đứa trẻ đưa con đến gặp Đức Phật; khi họ đảnh lễ Ngài, Ngài cũng chỉ nói "Chúc các vị sống lâu" với cha mẹ mà không nói với đứa trẻ. Đức Phật cũng tiên đoán về cái chết sắp đến của đứa trẻ. Để ngăn chặn cái chết này, cha mẹ đứa trẻ được hướng dẫn dựng một cái chòi ngay lối vào nhà và đặt đứa trẻ nằm trên một chiếc giường trong chòi. Sau đó, các vị Tỳ-kheo được cử đến để tụng kinh hộ trì (paritta) trong suốt bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, chính Đức Phật đã đến chòi; chư thiên từ khắp vũ trụ cũng tụ hội về. Lúc bấy giờ, loài quỷ Avaruddhaka đang đứng ở lối vào, chờ cơ hội để bắt đứa trẻ đi. Tuy nhiên, khi chư thiên có uy lực mạnh hơn kéo đến, loài quỷ buộc phải lùi lại nhường chỗ, khiến chúng phải đứng cách xa đứa trẻ đến hai do-tuần. Suốt đêm đó, việc tụng kinh hộ trì vẫn tiếp diễn, nhờ vậy đứa trẻ được bảo vệ an toàn. Hôm sau, đứa trẻ được bế khỏi giường và được hướng dẫn đảnh lễ Đức Phật. Lần này, Đức Phật nói: "Chúc con sống lâu" với đứa trẻ. Khi được hỏi đứa trẻ sẽ sống được bao lâu, Đức Phật trả lời rằng cậu bé sẽ sống đến 120 tuổi. Do đó, đứa trẻ được đặt tên là Ayuvaddhana.

Khi lớn lên, cậu đi khắp đất nước cùng với một nhóm gồm năm trăm người bạn đồng tu. Một ngày nọ, họ đến tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana); các vị Tỳ-kheo nhận ra ông và thưa hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, liệu có phương cách nào để chúng sinh đạt được sự trường thọ không?" Đức Phật đáp: "Nhờ biết tôn trọng và kính ngưỡng các bậc trưởng thượng cùng những người hiền trí, đức hạnh, một người sẽ đạt được không chỉ sự trường thọ mà còn cả sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh."

Sau đó, Đức Phật đã thuyết bài Kệ số 109: Đối với người luôn tôn trọng và kính ngưỡng những bậc trưởng thượng và đức hạnh, bốn phước lành---tức là trường thọ, sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh---sẽ tăng trưởng.

Kết thúc thời pháp, Ayuvaddhana cùng năm trăm người bạn đồng hành của ông đã chứng đắc quả Dự Lưu.

Và dĩ nhiên, nếu bạn dạy cho con em Thiền tập và nhiều giáo lý hơn nữa, bên cạnh việc dạy lòng sùng kính Tam Bảo, phước lành sẽ còn tăng nhiều hơn nữa. Lúc đó, bạn không chỉ trả lời được cho con em câu hỏi vì sao Sắc tức là Không và ngược lại, mà còn cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm trực tiếp về Chánh pháp, để các em chạm được, hít thở được, cảm thọ được, sống được, chứ không chỉ là hiểu Chánh pháp qua chữ nghĩa ngôn từ. Lúc đó, thực sự là tuyệt vời.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 5.199: https://suttacentral.net/an5.199/vi/minh_chau    

 

 

Abbott, người đã chích ngừa hôm tháng 12 và đã từ chối kêu gọi tái lập lệnh đeo khẩu trang khi biến thể delta lây lan cao hơn gia tăng tại Texas, đã cách ly tại biệt thự của thống đốc tại Austin và đang nhận điều trị bằng kháng thể đơn dòng, theo phát ngôn viên Mark Miner cho biết trong một tuyên bố. Ông là thống đốc thứ 11 thử nghiệm dương tính với vi khuẩn kể từ khi đại dịch bắt đầu, theo AP cho hay.
Taliban đã đồng ý cho phép “hành lang an toàn” từ Afghanistan cho những người dân đang gặp khó khăn để tham gia cuộc không vận do Hoa Kỳ chỉ đạo từ thủ đô Kabul, theo cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Joe Biden cho biết hôm Thứ Ba, 17 tháng 8 năm 2021, dù thời hạn cho việc hoàn tất di tản của người Mỹ, các đồng minh Afghan và những người khác chưa được thông qua với các lãnh đạo mới của Afghanistan, theo bản tin của Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Ba.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Đứng trước khủng hoảng do đại dịch Covid-19 và những bất cập trong hệ thống quản lý gây ra, người dân Việt Nam đã tự ra tay giúp nhau vượt qua những ngày tháng khó khăn.
Tại nhà hàng Dimond 3 Thành Phố Westminster, Nam California vào lúc 6 giờ chiều Chủ Nhật ngày 15 tháng 8 năm 2021, Trung Tâm Từ Ấn, do Thượng Tọa Thích Pháp Tánh làm Viện Chủ Chùa Khánh Hỷ và Chùa Từ Ấn, chủ trương, đã long trọng tổ chức lễ trao giải viết văn “Bông Hồng Cho Tuổi Thơ,” với sự tham dự buổi lễ ngoài một số quý chư tôn đức Tăng, Ni còn có quý vị nhân sĩ, quý Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, quý cơ quan truyền thông, cùng 600 đồng hương, quan khách có Nghị Viên Thành Phố Garden Grove ông Phát Bùi, Nhà truyền thông Quang Việt… Ban Giám Khảo cuộc thi có Giáo Sư Nguyễn Khoa Diệu Quyên, Tiến Sĩ Bằng Lăng, Giáo Sư Corey Vuu, hai vị giám khảo không đến tham dự vì bận công việc đó là Nhà báo Huỳnh Kim Quang và nhà văn Vĩnh Hảo.
Vào lúc 10 giờ sáng Thứ Bảy ngày 14 tháng 08 năm 2021 tại hội trường Thành Phố Westminster, 8200 Westminster Blvd CA 92683, Liên Đoàn Hướng Đạo Lam Sơn, Miền Tây Nam Hoa Kỳ tại Nam Cali đã tổ chức lễ trao Đẳng Thứ Hướng Đạo Đại Bàng (Eagle Award) cho các em Minh Trung Nguyễn, Clement Nguyễn, Andrew Nguyễn, Dylan Phạm, Nam Ngô, Tùng Trần, Preston Nguyễn, Nathan Nguyễn, và Ryan Dương.
Đơn vị Taliban hải ngoại ở Pakistan (TTP) đã chúc mừng quân Taliban đã chiếm hoàn toàn Afghanistan, chỉ trừ sân bay Kabul để quân Mỹ từ từ di tản, nói đây là chiến thắng chung của Hồi Giáo. Mohammad Khorasani, phát ngôn nhân TTP, gửi bản văn lập lại sự hỗ trợ cho Taliban Afghanistan, và hứa "hỗ trợ và tăng sức mạnh cho Tiêu Vương Quốc Hồi Giáo Afghanistan (Islamic Emirates of Afghanistan).
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
“Đây là điều tôi tin vào cốt lõi của mình: Là sai lầm để ra lệnh cho binh sĩ Mỹ bước tới khi chính quân đội của Afghanistan thì không,” theo Biden phát biểu trong bài nói chuyện của ông trước quốc dân hôm Thứ Hai. “Còn bao nhiêu thế hệ của con gái và con trai nước Mỹ mà bạn muốn tôi gửi họ đi chiến đấu cho cuộc nội chiến của Afghanistan? Tôi sẽ không lập lại những sai lầm mà chúng ta đã làm trong quá khứ.”
“Bao lâu còn có thể, quân đội Đức sẽ bốc càng nhiều người càng tốt ra khỏi Afghanistan và duy tri cầu không vận,” theo bà nói, cho biết thêm rằng điều này tùy thuộc vào ước muốn của Hoa Kỳ duy trì việc mở cửa phi trường. Không có chuyến bay di tản nào rời khỏi phi trường Kabul vào lúc này bởi vì những người tuyệt vọng cố chạy thoát khỏi nước đã vây kín phi đạo, theo một phát ngôn viên cho bộ ngoại giao Đức cho biết tại cuộc họp báo thường kỳ của chính phủ hôm Thứ Hai.
Chính phủ liên bang hôm Thứ Hai, 16 tháng 8 năm 2021 đã tuyên bố thiếu nước trên Sông Colorado River lần đầu tiên, đưa tới việc cắt giảm tiêu thụ nước cho nhiều tiểu bang tại Miền Tây Nam Hoa Kỳ, khi hạn hán do biến đổi khí hậu gây nên thúc đẩy mực nước tại Hồ Lake Mead xuống tới mức thấp chưa từng thấy, theo CNN tường thuật hôm Thứ Hai. Hồ Lake Mead, hồ chứa nước lớn nhất tại Hoa Kỳ tính theo dung lượng, đã cạn tới mức báo động trong năm nay.
Một người phụ nữ trẻ Trung Quốc nói rằng cô đã bị giam giữ 8 ngày tại một cơ sở giam giữ bí mật do TQ điều hành tại Dubai cùng với ít nhất 2 người Duy Ngô Nhĩ, trong cái mà là chứng cứ đầu tiên rằng TQ đang hoạt động cái được gọi là “nhà tù đen” bên ngoài biên giới của họ, theo bản tin của Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Hai, 16 tháng 8 năm 2021.
Trong hoàn cảnh đó, chính quyền của TT Joe Biden vừa đưa ra lời kêu các công dân Mỹ có lòng nhân đạo, hãy tiếp tay bảo trợ những người tỵ nạn khốn khổ Afghanistan. Chúng tôi xin kính chuyển lời kêu gọi đó đến với cộng đồng người tỵ nạn Việt Nam. Nếu quý vị nào ở trong hoàn cảnh thuận tiện và có đủ khả năng xin hãy ra tay cứu giúp bằng cách nhận bảo trợ dù chỉ một người hay một gia đình người A Phú Hãn. Họ đang lần lượt được di tản và sẽ đến HK trong một ngày gần đây, với số lượng ước tính khoảng 30 ngàn người.
“Nguồn gốc của sự kiện ngày hôm nay bắt nguồn từ những ngày đầu tiên của các hoạt động quân sự thiếu cân nhắc trong việc điều hành, sau sự kiện 9/11 tại Hoa Kỳ. Chúng ta không thể chiến tranh mãi mà không có hy vọng rút quân. Tôi tin rằng kết thúc cuộc chiến là một chính sách đúng, tuy nhiên khi làm như vậy, chúng ta không thể bỏ rơi những người dân vô tội.”
Tác giả Lê Chiều Giang vừa phát hành Không Đứng Mãi Trong Tranh. Tác phẩm dày 164 trang, vừa văn xuôi, vừa thơ. Độc giả sẽ thấy trong sách ngập tràn những quá khứ, như nhận định của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, “…đọc Lê Chiều Giang, những dòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc về, nhớ tới… Những quá khứ của thời đã ‘Chết đi, sống lại’.” Đúng ra, quá khứ chỉ là một phần, vì tác giả Lê Chiều Giang vẫn còn trên cõi này, còn đọc và còn viết. Và trong sách, có những bài được viết rất gần đây. Tác phẩm như dường rất mong manh, như mơ, như thực… Ngay nơi nhan đề sách đã là một hình ảnh của một chân trời cổ tích, “Không Đứng Mãi Trong Tranh.” Bạn có thể nhớ tới một tích cổ trong thời nhà Trần ở thành Thăng Long, chàng thư sinh Tú Uyên say mê thiếu nữ trong tranh, và trong một lần nàng bước ra khỏi tranh đã bị chàng nắm tay giữ lại cõi này. Có phải chuyện của người xưa ở phường Bích Câu cũng là chuyện đời nay của Sài Gòn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.