Hôm nay,  

Con Đường Tới Phật Giáo

01/09/202610:46:00(Xem: 1026)
blank

Con Đường Tới Phật Giáo
 

Nguyên Giác
 

Bạn còn nhớ gì về những ngày thơ ấu, khi được mẹ dẫn vào ngôi chùa nơi đầu xóm để lễ Phật trong những ngày đầu năm? Bạn còn nhớ gì về tượng hai vị thần khổng lồ, một ông ngó mặt hiền lành và một ông có vẻ hung dữ, đang đứng hay bên cửa chính điện, như dường để hù dọa những đứa con nít như chúng ta đang đi lúp xúp bước theo mẹ? Và chúng ta đã vào chùa, lễ Phật, thắp hương, cúng dường trong khi chúng ta không hiểu gì về Đạo Phật, và rồi chúng ta nghe tụng kinh mà không hiểu bao nhiêu. Phải tới khi lớn lên kha khá, các cô các cậu như chúng ta mới nghe tới những chữ như Thiền tập, Chánh niệm, tỉnh thức... mà rất là sương khói mơ hồ, để rồi cho tới khi vào đại học, nơi chúng ta được đọc sách (và may mắn, vài bạn còn được học) một cách chính quy về Phật Giáo, một tôn giáo ngấm vào chúng ta như sương sớm, như mưa bụi.

Như thế đó, Phật tử Việt Nam và châu Á thường tiếp cận Phật giáo qua hòa nhập văn hóa thay vì chủ động tìm kiếm về mặt tâm linh. Tại nhiều nơi ở châu Á, Phật giáo hòa nhập với đời sống gia đình, các lễ hội theo mùa và những nghi thức cộng đồng. Trẻ em lớn lên đã quen với việc quy y, lễ Phật, tụng kinh và dâng lễ vật từ rất lâu trước khi có thể hiểu hay diễn giải ý nghĩa của giáo lý.
 

Ngay cả trong truyện cổ và ca dao cũng có chất men Phật Giáo để gắn kết các phẩm chất như lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, bản sắc văn hóa và sự gắn kết cộng đồng hơn là một lựa chọn tâm linh mang tính cá nhân. Thí dụ như khi chúng ta đọc các truyện kể về khoảng hai ngàn năm trước, các Ni sư đóng cửa chùa, chiêu mộ dân làng để theo Trưng Trắc chống quân ngoại xâm, và rồi được Trưng Vương phong là Công chúa Khâu Ni (chùa Huyền Cổ), Công chúa Bát Nàn (chùa Tiên La), Nữ tướng Thiều Hoa (sau chiến thắng quân Hán, bà đã xuất gia tu học tại chùa Phúc Khánh), Công chúa Phương Dung (chùa Thanh Vân), Công chúa Chiêu Dung (về học đạo với Thiền sư Đạo Uẩn tại chùa Hương Lan). Thế đó, khi học sử Việt, từ thơ ấu, Phật giáo ngấm vào chúng ta như một tôn giáo di sản. Chúng ta không bận tâm về Thiền Tông, về chánh niệm, cho dù có đọc nhiều về các Thiền sư nhà Trần, nhà Lý.

Tuy nhiên, thế hệ con em của chúng ta sẽ  khác: trẻ em lớn lên ở Hoa Kỳ (và các nước Châu Âu) có khi ở môi trường thiếu vắng ngôi chùa. May mắn lắm, nếu gia đình cư trú ở các nơi đông người Việt, như ở Nam và Bắc California, vài nơi ở Texas, ở Virginia, trẻ em mới có cơ duyên được ba mẹ dẫn đi chùa. Thêm nữa, trong khi chúng ta thời thơ ấu không bao giờ nêu câu hỏi với ba mẹ; bây giờ khác rồi, con em của chúng ta luôn luôn có nhiều câu hỏi, đôi khi là câu hỏi rất khó. Thí dụ, khi chúng ta đưa bản kinh Tâm Kinh để các em đọc theo đại chúng, khi về nhà chúng ta sẽ được nghe những câu hỏi như, “Tại sao ‘Form is emptiness’ và tại sao ‘Emptiness is form’?” (Sắc tức là Không, và Không tức là Sắc). Ngay cả khi bạn nhớ tới các kinh về duyên khởi, hay nhớ tới thí dụ “cái bàn không phải là cái bàn” do cụ Tâm Minh Lê Đình Thám giải thích, bạn sẽ thấy khó mà nói cho một cậu bé lớp 5 ở Hoa Kỳ hết thắc mắc.
 

Nên thấy, con em chúng ta sinh ra và lớn lên được tắm gội trong môi trường giáo dục Hoa Kỳ (và Tây phương). Bạn thử nhìn chung quanh sẽ thấy. Nhiều người Mỹ tiếp cận Phật giáo trước tiên thông qua Thiền chánh niệm  – thường là trong các môi trường thế tục như trị liệu tâm lý, các chương trình chăm sóc sức khỏe hoặc hội thảo giảm căng thẳng tại nơi làm việc, và qua các chương trình truyền hình. Thiền định được xem như một công cụ tâm lý học thay vì một thực hành tôn giáo, và mãi về sau một số người thực hành mới khám phá ra cội nguồn Phật giáo của pháp chánh niệm. Đối với những người Hoa Kỳ này (và với nhiều trẻ em gốc Việt), Phật giáo trở thành một con đường tự chọn, được tiếp cận thông qua sách vở, các khóa tu và sự tìm tòi cá nhân. Nhiều người Mỹ cũng thực hành thiền Phật giáo trong khi vẫn giữ đức tin Cơ Đốc giáo. Nơi này, Phật giáo ít mang tính truyền thống cộng đồng mà thiên về một phương pháp tâm linh cá nhân (nghĩa là cái gì rất là mênh mông như dường xa lạ, không giống như chúng ta thời mới lớn).

Do vậy, trong khi chúng ta quan tâm về nghi lễ, con em chúng ta nghĩ về về các câu hỏi. Và thực tế cho thấy, Phật tử châu Á thường thực hành lòng sùng kính mà không bận tâm bao nhiêu về thiền định, trong khi những người thấm nhuần văn hóa Mỹ có thể thiền định mà không cần sự sùng kính tôn giáo. Hẳn là, chỉ nên nói là tùy duyên, vì con đường nào tới Phật giáo cũng đều tốt đẹp. Ngay cả khi các bạn Thiền tập người Mỹ kia vẫn giữ đạo Thiên Chúa, không quy y Tam Bảo, cũng tốt đẹp hơn là không biết gì về Phật giáo.

Có lẽ (chúng ta chỉ nói có lẽ thôi) con đường tới với Phật giáo sâu sắc nhất vẫn là những đau khổ cá nhân. Nỗi đau buộc chúng ta phải đối mặt với mong manh của kiếp người. Trong hoàn cảnh Việt Nam (hay nói rộng hơn, tại châu Á), bạn có thể lớn lên thực hiện các nghi lễ, lạy Đức Phật hoặc tụng kinh cùng gia đình, nhưng chỉ thực sự ngấm lời kinh dạy về Khổ, về Vô thường, khi đau buồn, khi người thân ra đi. Và có lẽ tại phương Tây cũng vậy, một người nào đó có thể bắt đầu bằng học chánh niệm trong bệnh viện hay trong quân đội, hay đọc qua sách vở, nhưng thường là một cuộc khủng hoảng---mất mát, bệnh hoạn, lo lắng---mới làm cho họ suy nghĩ về Phật giáo như một con đường giải thoát.
 

Đau khổ trở thành cánh cửa chung mà qua đó những lời dạy của Đức Phật có thể được kinh nghiệm như sự thật. Như trường hợp của thiếu nữ về sau trở thành Ni trưởng Kisa Gotami, người mẹ đã bế đứa con đã chết của mình đến gặp Đức Phật, cầu xin Ngài phục hồi sự sống cho cậu bé. Nỗi đau buồn quá lớn khiến cô không thể chấp nhận cái chết cuối cùng. Đức Phật không đưa ra lý luận siêu hình hay sự an ủi; thay vào đó, Ngài yêu cầu cô tìm một hạt cải từ một gia đình chưa bị cái chết chạm tới. Khi đi từ nhà này sang nhà khác, cô thấy rằng gia đình nào cũng đều biết đến cái chết. Nỗi đau đã mở ra cho cô một sự thật phổ quát: cái chết gắn liền với sự sống, và sự bám víu chỉ làm nỗi đau thêm sâu sắc. Trong khoảnh khắc nhận ra đó, niềm tin của cô dẫn tới cái nhìn sâu sắc và trực tiếp về vô thường và bản chất hư vỡ của đời người. Trực tiếp. Đó là kinh nghiệm không qua chữ nghĩa, không qua khái niệm.

Nghĩ kỹ, ông bà mình truyền dạy Phật Giáo theo kiểu niềm tin đi trước, thực ra, cũng là theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật dạy rằng phước lành là người tin vào Tam Bảo, kính lễ Tăng Ni và người giữ giới, cúng dường và bố thí, chưa cần tới ngồi Thiền, cũng đủ để sinh vào cõi trời, cũng đủ để trường thọ, có nhan sắc, có sức khỏe. Thậm chí, bạn chỉ cần tín tâm và đảnh lễ các nhà sư, cũng đủ để bạn có phước sinh vào cõi trời.
 

Trong Kinh AN 5.199, bản dịch của Thầy Minh Châu viết, trích như sau: “Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.” (1)
 

Kinh Pháp Cú cũng nói rằng kính lễ cũng sinh khởi phước lành (trường thọ, dung sắc, an lạc, sức mạnh). Thậm chí, phước lành có khi cứu được mạng người, như trường hợp Kinh Pháp Cú bài kệ 109. Bản dịch của Thầy Minh Châu về hai bài Kệ 108 và 109 như sau.

108. "Suốt năm cúng tế vật / Để cầu phước ở đời. / Không bằng một phần tư / Kính lễ bậc chánh trực."

109. "Thường tôn trọng, kính lễ / Bậc kỳ lão trưởng thượng / Bốn pháp được tăng trưởng: Thọ, sắc, lạc, sức mạnh."

Truyện tích Pháp Cú 109 lược kể như sau. Trong thời gian trú ngụ tại một ngôi chùa trong làng gần Dighalanghika, Đức Phật đã thuyết giảng bài Kệ số 109 của tập Kinh Pháp Cú, liên quan đến trường hợp của Ayuvaddhanakumara.

Xưa kia, có hai vị ẩn sĩ cùng nhau tu tập khổ hạnh trong suốt 48 năm. Sau đó, một trong hai vị từ bỏ đời sống ẩn sĩ và lập gia đình. Khi sinh được một người con trai, gia đình họ đến thăm vị ẩn sĩ cũ và đảnh lễ ông. Với cha mẹ đứa trẻ, vị ẩn sĩ nói: "Chúc các vị sống lâu", nhưng ông lại không nói gì với đứa trẻ. Cha mẹ đứa trẻ cảm thấy băn khoăn và hỏi lý do tại sao ông lại im lặng. Vị ẩn sĩ cho họ biết rằng đứa trẻ chỉ còn sống được bảy ngày nữa và ông không biết cách nào để ngăn chặn cái chết đó, nhưng Đức Phật Gotama có thể biết cách giải quyết.

Vì vậy, cha mẹ đứa trẻ đưa con đến gặp Đức Phật; khi họ đảnh lễ Ngài, Ngài cũng chỉ nói "Chúc các vị sống lâu" với cha mẹ mà không nói với đứa trẻ. Đức Phật cũng tiên đoán về cái chết sắp đến của đứa trẻ. Để ngăn chặn cái chết này, cha mẹ đứa trẻ được hướng dẫn dựng một cái chòi ngay lối vào nhà và đặt đứa trẻ nằm trên một chiếc giường trong chòi. Sau đó, các vị Tỳ-kheo được cử đến để tụng kinh hộ trì (paritta) trong suốt bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, chính Đức Phật đã đến chòi; chư thiên từ khắp vũ trụ cũng tụ hội về. Lúc bấy giờ, loài quỷ Avaruddhaka đang đứng ở lối vào, chờ cơ hội để bắt đứa trẻ đi. Tuy nhiên, khi chư thiên có uy lực mạnh hơn kéo đến, loài quỷ buộc phải lùi lại nhường chỗ, khiến chúng phải đứng cách xa đứa trẻ đến hai do-tuần. Suốt đêm đó, việc tụng kinh hộ trì vẫn tiếp diễn, nhờ vậy đứa trẻ được bảo vệ an toàn. Hôm sau, đứa trẻ được bế khỏi giường và được hướng dẫn đảnh lễ Đức Phật. Lần này, Đức Phật nói: "Chúc con sống lâu" với đứa trẻ. Khi được hỏi đứa trẻ sẽ sống được bao lâu, Đức Phật trả lời rằng cậu bé sẽ sống đến 120 tuổi. Do đó, đứa trẻ được đặt tên là Ayuvaddhana.

Khi lớn lên, cậu đi khắp đất nước cùng với một nhóm gồm năm trăm người bạn đồng tu. Một ngày nọ, họ đến tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana); các vị Tỳ-kheo nhận ra ông và thưa hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, liệu có phương cách nào để chúng sinh đạt được sự trường thọ không?" Đức Phật đáp: "Nhờ biết tôn trọng và kính ngưỡng các bậc trưởng thượng cùng những người hiền trí, đức hạnh, một người sẽ đạt được không chỉ sự trường thọ mà còn cả sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh."

Sau đó, Đức Phật đã thuyết bài Kệ số 109: Đối với người luôn tôn trọng và kính ngưỡng những bậc trưởng thượng và đức hạnh, bốn phước lành---tức là trường thọ, sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh---sẽ tăng trưởng.

Kết thúc thời pháp, Ayuvaddhana cùng năm trăm người bạn đồng hành của ông đã chứng đắc quả Dự Lưu.

Và dĩ nhiên, nếu bạn dạy cho con em Thiền tập và nhiều giáo lý hơn nữa, bên cạnh việc dạy lòng sùng kính Tam Bảo, phước lành sẽ còn tăng nhiều hơn nữa. Lúc đó, bạn không chỉ trả lời được cho con em câu hỏi vì sao Sắc tức là Không và ngược lại, mà còn cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm trực tiếp về Chánh pháp, để các em chạm được, hít thở được, cảm thọ được, sống được, chứ không chỉ là hiểu Chánh pháp qua chữ nghĩa ngôn từ. Lúc đó, thực sự là tuyệt vời.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 5.199: https://suttacentral.net/an5.199/vi/minh_chau    

 

 

Thị trưởng Michael Mueller (SPD) với nhà xuất bản Friede Springer tại đài tưởng niệm Peter Fechter ở Zimmerstrasse. Ở đó, nhiều người đã tưởng niệm việc xây dựng Bức tường Berlin cách đây 59 năm. Xếp SED Walter Ulbricht đã đi vào lịch sử với tư cách là “người xây tường”. Dưới sự lãnh đạo của Ulbricht, bức tường thành ngăn cách được dựng lên từ ngày 13 tháng 8 năm 1961. Lịch sử và Nạn nhân không nên rơi vào quên lãng.
RHODE ISLAND (VB) --- Bạn hãy hình dung rằng, khi bạn muốn bầu phiếu qua bưu điện, trên lá phiêu đó phải có chữ ký 2 nhân chứng mới có giá trị để được đếm phiếu... Đó là yêu cầu gây khó khăn do Đảng Cộng Hòa đưa ra cho cư dân tiểu bang Rhode Island. Một tòa tối cao hôm Thứ Năm ra phán lệnh để làm dễ dàng hơn cho cư dân nơi này, bác bỏ đòi hỏi 2 chữ ký của 2 nhân chứng trên lá phiếu.
SYDNEY, Úc châu (VB) --- Một cựu chuyên viên địa ốc gốc Việt đã bị kêu án 20 tháng quản chế chặt chẽ (intensive correct) vì đã hô biến $187,500 Úc kim từ các thân chủ của ông.
Được biết, Kỹ sư Tạ Trung đã làm việc cho các công ty quốc phòng và không gian Hoa Kỳ như Hughes Aircraft, Boeing và Raytheon company trong vòng 37 năm, với chức vụ Project Manager và hiện nay ông đã nghỉ hưu. Ngoài việc làm chính ông còn tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng người Việt tại Nam California như một nhà giáo dục và một nhà lãnh đạo cộng đồng, ông Trung đã cống hiến công sức, tham gia vào các sinh hoạt đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam trong suốt 30 năm qua.
Tuần qua dư luận thế giới ngoài việc theo dõi tình hình đại dịch vẫn còn lây lan tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Tân Tây Lan sau 102 ngày yên ổn đã phải phong tỏa trở lại vì vi khuẩn corona tái phát, còn đặc biệt quan tâm đến tình hình bầu cử Mỹ với tin đáng chú ý nhất là việc cựu PTT Joe Biden đã chọn nữ Thượng Nghị Sĩ Kamala Harris làm ứng cử viên PTT cho ông.
Trong tất cả cách đáng sợ mà vi khuẩn SARS-COV-2 ảnh hưởng cơ thể, một trong những cách ngấm ngầm là ảnh hưởng của Covid-19 lên não bộ. Hiện nay đã rõ rằng nhiều bệnh nhân đau khổ vì Covid-19 có các triệu chứng thần kinh, từ việc mất khứu giác, mê sảng, đến gia tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Cũng có nhiều hậu quả kéo dài đối với não bộ, gồm triệu chứng viêm não tủy/mỏi mệt kinh niên và triệu chứng Guillain-Barre [tình trạng yếu cơ bắp khởi phát nhanh do hệ thống miễn dịch làm tổn thương hệ thần kinh ngoại vi. Những ảnh hưởng này có thể được gây ra bởi nhiễm vi khuẩn trực tiếp của tế bào não. Nhưng ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy các hành động gián tiếp khác được kích thích thông qua việc nhiễm vi khuẩn của các tế bào biểu mô và hệ thống tim mạch, hay thông qua hệ thống miễn nhiễm và viêm, góp phần là thay đổi thần kinh lâu dài sau Covid-19. Tôi là chuyên gia về khoa học thần kinh trong cách trí nhớ được hình thành, vai trò của các tế bào miễn nhiễm trong não bộ
“Vì đất nước của bạn bây giờ và vì cuộc chiến đấu mà chúng ta đang chống Covid, tôi yêu cầu bạn làm 4 việc đơn giản: đeo khẩu trang, giữ khoảng cách xã hội, rửa tay của bạn và hãy thông minh nơi đám đông,” theo Bác Sĩ Robert Redfield, giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC) cho biết.
Hôm Thứ Tư, Bộ Lao Động đã đưa ra lá thư về chương trình tài trợ thấp nghiệp gửi tới các cơ quan tiểu bang cung cấp sự hướng dẫn về cách điều hành sự gia hạn của các phúc lợi thất nghiệp liên bang, về kỹ thuật được biết như là Trợ Cấp Tiền Lương Bị Mất (LWA), mà TT Trump đã công bố vào cuối tuần rồi, theo bản tin của Forbes cho biết hôm Thứ Năm, 13 tháng 8 năm 2020.
Một chánh án liên bang tại Pennsylvania đã nói với ban vận động tranh cử của Trump và Đảng Cộng Hòa rằng họ phải đưa ra chứng cứ mà họ có về gian lận bầu cử qua bỏ phiếu bằng thư tại tiểu bang hôm Thứ Sáu, theo bản tin CNN tường trình cho biết.
Nam Hàn đã xác nhận kế hoạch bắt đầu xây dựng hàng không mẫu hạm đầu tiên của họ vào năm tới giữa lúc các căng thẳng lên cao trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và TQ và vấn nạn về tham vọng nguyên tử của Bắc Hàn vẫn chưa được giải quyết.
Tổng Thống Trump hôm Thứ Năm, 13 tháng 8 năm 2020 tuyên bố điều mà ông gọi là một “Thỏa Thuận Hòa Bình Lịch Sử” giữa Do Thái và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, nói rằng họ đã đồng ý “bình thường hóa toàn diện các quan hệ,” theo bản tin Fox News cho biết.
Gần 100 dân cử tại chức và về hưu tại 28 nước Á Châu đã gửi thư đòi Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc trả tự do cho người tù chính trị Nguyễn Bắc Truyền, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm Thứ Năm, 13 tháng 8 năm 2020.
Một cái ngoáy họng (Rachenabstrich / Throat swab), một sự thử nghiệm trong phòng thí nghiệm - nhưng đôi khi đến hàng chục ngàn du khách phải mất hàng ngày mới biết được kết quả kiểm tra corona của họ. Chính quyền tiểu bang Bavaria đang chịu nhiều áp lực và phải gánh chịu hậu quả sau sự trục trặc.
Tại Canada, từ tháng 4 tới tháng 7 hằng năm là mùa tôm hùm (homard, lobster). Đây là một loại tôm biển. Nên phân biệt tôm hùm lobster với một loại tôm hùm nước ngọt tương tự mà người ta gọi là crawfish hay crayfish có rất nhiều tại vùng Kentucky và Louisiana.
Bộ Tư Pháp Mỹ cho biết các cư dân Việt Nam tên là Thu Phan Dinh, Tran Khanh và Nguyen Duy Toan đã gian lận để hưởng lợi từ đại dịch. Các nghi can này điều hành hơn 300 trang web gian lận nói là bán sản phẩm hiếm hoi thời đại dịch, kể cả thuốc nước rửa tay (sanitizers) và các tấm vải lau tẩy trùng (disinfectant wipes)...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.