Hôm nay,  

Con Đường Tới Phật Giáo

01/09/202610:46:00(Xem: 828)
blank

Con Đường Tới Phật Giáo
 

Nguyên Giác
 

Bạn còn nhớ gì về những ngày thơ ấu, khi được mẹ dẫn vào ngôi chùa nơi đầu xóm để lễ Phật trong những ngày đầu năm? Bạn còn nhớ gì về tượng hai vị thần khổng lồ, một ông ngó mặt hiền lành và một ông có vẻ hung dữ, đang đứng hay bên cửa chính điện, như dường để hù dọa những đứa con nít như chúng ta đang đi lúp xúp bước theo mẹ? Và chúng ta đã vào chùa, lễ Phật, thắp hương, cúng dường trong khi chúng ta không hiểu gì về Đạo Phật, và rồi chúng ta nghe tụng kinh mà không hiểu bao nhiêu. Phải tới khi lớn lên kha khá, các cô các cậu như chúng ta mới nghe tới những chữ như Thiền tập, Chánh niệm, tỉnh thức... mà rất là sương khói mơ hồ, để rồi cho tới khi vào đại học, nơi chúng ta được đọc sách (và may mắn, vài bạn còn được học) một cách chính quy về Phật Giáo, một tôn giáo ngấm vào chúng ta như sương sớm, như mưa bụi.

Như thế đó, Phật tử Việt Nam và châu Á thường tiếp cận Phật giáo qua hòa nhập văn hóa thay vì chủ động tìm kiếm về mặt tâm linh. Tại nhiều nơi ở châu Á, Phật giáo hòa nhập với đời sống gia đình, các lễ hội theo mùa và những nghi thức cộng đồng. Trẻ em lớn lên đã quen với việc quy y, lễ Phật, tụng kinh và dâng lễ vật từ rất lâu trước khi có thể hiểu hay diễn giải ý nghĩa của giáo lý.
 

Ngay cả trong truyện cổ và ca dao cũng có chất men Phật Giáo để gắn kết các phẩm chất như lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, bản sắc văn hóa và sự gắn kết cộng đồng hơn là một lựa chọn tâm linh mang tính cá nhân. Thí dụ như khi chúng ta đọc các truyện kể về khoảng hai ngàn năm trước, các Ni sư đóng cửa chùa, chiêu mộ dân làng để theo Trưng Trắc chống quân ngoại xâm, và rồi được Trưng Vương phong là Công chúa Khâu Ni (chùa Huyền Cổ), Công chúa Bát Nàn (chùa Tiên La), Nữ tướng Thiều Hoa (sau chiến thắng quân Hán, bà đã xuất gia tu học tại chùa Phúc Khánh), Công chúa Phương Dung (chùa Thanh Vân), Công chúa Chiêu Dung (về học đạo với Thiền sư Đạo Uẩn tại chùa Hương Lan). Thế đó, khi học sử Việt, từ thơ ấu, Phật giáo ngấm vào chúng ta như một tôn giáo di sản. Chúng ta không bận tâm về Thiền Tông, về chánh niệm, cho dù có đọc nhiều về các Thiền sư nhà Trần, nhà Lý.

Tuy nhiên, thế hệ con em của chúng ta sẽ  khác: trẻ em lớn lên ở Hoa Kỳ (và các nước Châu Âu) có khi ở môi trường thiếu vắng ngôi chùa. May mắn lắm, nếu gia đình cư trú ở các nơi đông người Việt, như ở Nam và Bắc California, vài nơi ở Texas, ở Virginia, trẻ em mới có cơ duyên được ba mẹ dẫn đi chùa. Thêm nữa, trong khi chúng ta thời thơ ấu không bao giờ nêu câu hỏi với ba mẹ; bây giờ khác rồi, con em của chúng ta luôn luôn có nhiều câu hỏi, đôi khi là câu hỏi rất khó. Thí dụ, khi chúng ta đưa bản kinh Tâm Kinh để các em đọc theo đại chúng, khi về nhà chúng ta sẽ được nghe những câu hỏi như, “Tại sao ‘Form is emptiness’ và tại sao ‘Emptiness is form’?” (Sắc tức là Không, và Không tức là Sắc). Ngay cả khi bạn nhớ tới các kinh về duyên khởi, hay nhớ tới thí dụ “cái bàn không phải là cái bàn” do cụ Tâm Minh Lê Đình Thám giải thích, bạn sẽ thấy khó mà nói cho một cậu bé lớp 5 ở Hoa Kỳ hết thắc mắc.
 

Nên thấy, con em chúng ta sinh ra và lớn lên được tắm gội trong môi trường giáo dục Hoa Kỳ (và Tây phương). Bạn thử nhìn chung quanh sẽ thấy. Nhiều người Mỹ tiếp cận Phật giáo trước tiên thông qua Thiền chánh niệm  – thường là trong các môi trường thế tục như trị liệu tâm lý, các chương trình chăm sóc sức khỏe hoặc hội thảo giảm căng thẳng tại nơi làm việc, và qua các chương trình truyền hình. Thiền định được xem như một công cụ tâm lý học thay vì một thực hành tôn giáo, và mãi về sau một số người thực hành mới khám phá ra cội nguồn Phật giáo của pháp chánh niệm. Đối với những người Hoa Kỳ này (và với nhiều trẻ em gốc Việt), Phật giáo trở thành một con đường tự chọn, được tiếp cận thông qua sách vở, các khóa tu và sự tìm tòi cá nhân. Nhiều người Mỹ cũng thực hành thiền Phật giáo trong khi vẫn giữ đức tin Cơ Đốc giáo. Nơi này, Phật giáo ít mang tính truyền thống cộng đồng mà thiên về một phương pháp tâm linh cá nhân (nghĩa là cái gì rất là mênh mông như dường xa lạ, không giống như chúng ta thời mới lớn).

Do vậy, trong khi chúng ta quan tâm về nghi lễ, con em chúng ta nghĩ về về các câu hỏi. Và thực tế cho thấy, Phật tử châu Á thường thực hành lòng sùng kính mà không bận tâm bao nhiêu về thiền định, trong khi những người thấm nhuần văn hóa Mỹ có thể thiền định mà không cần sự sùng kính tôn giáo. Hẳn là, chỉ nên nói là tùy duyên, vì con đường nào tới Phật giáo cũng đều tốt đẹp. Ngay cả khi các bạn Thiền tập người Mỹ kia vẫn giữ đạo Thiên Chúa, không quy y Tam Bảo, cũng tốt đẹp hơn là không biết gì về Phật giáo.

Có lẽ (chúng ta chỉ nói có lẽ thôi) con đường tới với Phật giáo sâu sắc nhất vẫn là những đau khổ cá nhân. Nỗi đau buộc chúng ta phải đối mặt với mong manh của kiếp người. Trong hoàn cảnh Việt Nam (hay nói rộng hơn, tại châu Á), bạn có thể lớn lên thực hiện các nghi lễ, lạy Đức Phật hoặc tụng kinh cùng gia đình, nhưng chỉ thực sự ngấm lời kinh dạy về Khổ, về Vô thường, khi đau buồn, khi người thân ra đi. Và có lẽ tại phương Tây cũng vậy, một người nào đó có thể bắt đầu bằng học chánh niệm trong bệnh viện hay trong quân đội, hay đọc qua sách vở, nhưng thường là một cuộc khủng hoảng---mất mát, bệnh hoạn, lo lắng---mới làm cho họ suy nghĩ về Phật giáo như một con đường giải thoát.
 

Đau khổ trở thành cánh cửa chung mà qua đó những lời dạy của Đức Phật có thể được kinh nghiệm như sự thật. Như trường hợp của thiếu nữ về sau trở thành Ni trưởng Kisa Gotami, người mẹ đã bế đứa con đã chết của mình đến gặp Đức Phật, cầu xin Ngài phục hồi sự sống cho cậu bé. Nỗi đau buồn quá lớn khiến cô không thể chấp nhận cái chết cuối cùng. Đức Phật không đưa ra lý luận siêu hình hay sự an ủi; thay vào đó, Ngài yêu cầu cô tìm một hạt cải từ một gia đình chưa bị cái chết chạm tới. Khi đi từ nhà này sang nhà khác, cô thấy rằng gia đình nào cũng đều biết đến cái chết. Nỗi đau đã mở ra cho cô một sự thật phổ quát: cái chết gắn liền với sự sống, và sự bám víu chỉ làm nỗi đau thêm sâu sắc. Trong khoảnh khắc nhận ra đó, niềm tin của cô dẫn tới cái nhìn sâu sắc và trực tiếp về vô thường và bản chất hư vỡ của đời người. Trực tiếp. Đó là kinh nghiệm không qua chữ nghĩa, không qua khái niệm.

Nghĩ kỹ, ông bà mình truyền dạy Phật Giáo theo kiểu niềm tin đi trước, thực ra, cũng là theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật dạy rằng phước lành là người tin vào Tam Bảo, kính lễ Tăng Ni và người giữ giới, cúng dường và bố thí, chưa cần tới ngồi Thiền, cũng đủ để sinh vào cõi trời, cũng đủ để trường thọ, có nhan sắc, có sức khỏe. Thậm chí, bạn chỉ cần tín tâm và đảnh lễ các nhà sư, cũng đủ để bạn có phước sinh vào cõi trời.
 

Trong Kinh AN 5.199, bản dịch của Thầy Minh Châu viết, trích như sau: “Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.” (1)
 

Kinh Pháp Cú cũng nói rằng kính lễ cũng sinh khởi phước lành (trường thọ, dung sắc, an lạc, sức mạnh). Thậm chí, phước lành có khi cứu được mạng người, như trường hợp Kinh Pháp Cú bài kệ 109. Bản dịch của Thầy Minh Châu về hai bài Kệ 108 và 109 như sau.

108. "Suốt năm cúng tế vật / Để cầu phước ở đời. / Không bằng một phần tư / Kính lễ bậc chánh trực."

109. "Thường tôn trọng, kính lễ / Bậc kỳ lão trưởng thượng / Bốn pháp được tăng trưởng: Thọ, sắc, lạc, sức mạnh."

Truyện tích Pháp Cú 109 lược kể như sau. Trong thời gian trú ngụ tại một ngôi chùa trong làng gần Dighalanghika, Đức Phật đã thuyết giảng bài Kệ số 109 của tập Kinh Pháp Cú, liên quan đến trường hợp của Ayuvaddhanakumara.

Xưa kia, có hai vị ẩn sĩ cùng nhau tu tập khổ hạnh trong suốt 48 năm. Sau đó, một trong hai vị từ bỏ đời sống ẩn sĩ và lập gia đình. Khi sinh được một người con trai, gia đình họ đến thăm vị ẩn sĩ cũ và đảnh lễ ông. Với cha mẹ đứa trẻ, vị ẩn sĩ nói: "Chúc các vị sống lâu", nhưng ông lại không nói gì với đứa trẻ. Cha mẹ đứa trẻ cảm thấy băn khoăn và hỏi lý do tại sao ông lại im lặng. Vị ẩn sĩ cho họ biết rằng đứa trẻ chỉ còn sống được bảy ngày nữa và ông không biết cách nào để ngăn chặn cái chết đó, nhưng Đức Phật Gotama có thể biết cách giải quyết.

Vì vậy, cha mẹ đứa trẻ đưa con đến gặp Đức Phật; khi họ đảnh lễ Ngài, Ngài cũng chỉ nói "Chúc các vị sống lâu" với cha mẹ mà không nói với đứa trẻ. Đức Phật cũng tiên đoán về cái chết sắp đến của đứa trẻ. Để ngăn chặn cái chết này, cha mẹ đứa trẻ được hướng dẫn dựng một cái chòi ngay lối vào nhà và đặt đứa trẻ nằm trên một chiếc giường trong chòi. Sau đó, các vị Tỳ-kheo được cử đến để tụng kinh hộ trì (paritta) trong suốt bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, chính Đức Phật đã đến chòi; chư thiên từ khắp vũ trụ cũng tụ hội về. Lúc bấy giờ, loài quỷ Avaruddhaka đang đứng ở lối vào, chờ cơ hội để bắt đứa trẻ đi. Tuy nhiên, khi chư thiên có uy lực mạnh hơn kéo đến, loài quỷ buộc phải lùi lại nhường chỗ, khiến chúng phải đứng cách xa đứa trẻ đến hai do-tuần. Suốt đêm đó, việc tụng kinh hộ trì vẫn tiếp diễn, nhờ vậy đứa trẻ được bảo vệ an toàn. Hôm sau, đứa trẻ được bế khỏi giường và được hướng dẫn đảnh lễ Đức Phật. Lần này, Đức Phật nói: "Chúc con sống lâu" với đứa trẻ. Khi được hỏi đứa trẻ sẽ sống được bao lâu, Đức Phật trả lời rằng cậu bé sẽ sống đến 120 tuổi. Do đó, đứa trẻ được đặt tên là Ayuvaddhana.

Khi lớn lên, cậu đi khắp đất nước cùng với một nhóm gồm năm trăm người bạn đồng tu. Một ngày nọ, họ đến tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana); các vị Tỳ-kheo nhận ra ông và thưa hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, liệu có phương cách nào để chúng sinh đạt được sự trường thọ không?" Đức Phật đáp: "Nhờ biết tôn trọng và kính ngưỡng các bậc trưởng thượng cùng những người hiền trí, đức hạnh, một người sẽ đạt được không chỉ sự trường thọ mà còn cả sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh."

Sau đó, Đức Phật đã thuyết bài Kệ số 109: Đối với người luôn tôn trọng và kính ngưỡng những bậc trưởng thượng và đức hạnh, bốn phước lành---tức là trường thọ, sắc đẹp, hạnh phúc và sức mạnh---sẽ tăng trưởng.

Kết thúc thời pháp, Ayuvaddhana cùng năm trăm người bạn đồng hành của ông đã chứng đắc quả Dự Lưu.

Và dĩ nhiên, nếu bạn dạy cho con em Thiền tập và nhiều giáo lý hơn nữa, bên cạnh việc dạy lòng sùng kính Tam Bảo, phước lành sẽ còn tăng nhiều hơn nữa. Lúc đó, bạn không chỉ trả lời được cho con em câu hỏi vì sao Sắc tức là Không và ngược lại, mà còn cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm trực tiếp về Chánh pháp, để các em chạm được, hít thở được, cảm thọ được, sống được, chứ không chỉ là hiểu Chánh pháp qua chữ nghĩa ngôn từ. Lúc đó, thực sự là tuyệt vời.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 5.199: https://suttacentral.net/an5.199/vi/minh_chau    

 

 

Hội Đồng Giám Sát Quận Cam đã bỏ phiếu với tỉ lệ 5 trên 0 vào chiều Thứ Ba, 28 tháng 4 để mở cửa các cơ sở kinh doanh với những hướng dẫn bảo đảm sự an toàn của công chúng. Các hướng dẫn được giới thiệu bởi nữ Chủ Tịch Michelle Steel và Giám Sát Viên Don Wagner được thông qua bởi hội đồng sẽ áp dụng như mô hình cho Quận Cam để trở lại tình trạng sinh hoạt bình thường, theo các viên chức cho biết. Theo hội đồng, “Tất cả đề nghị theo Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam và không thay thế bất cứ lệnh mâu thuẫn hay hạn chế nào được đưa ra bởi các chính quyền địa phương, Tiểu Bang California, hay Chính Phủ Liên Bang.” “Quận Cam đã “làm thẳng đường cong” một cách hiệu quả.”
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47) ngày hôm nay đã đệ trình Nghị Quyết Hạ Viện ghi nhận biến cố lịch sử quan trọng và tưởng niệm 45 năm ngày Sài Gòn thất thủ và sự sập đổ bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày 30 tháng 4, năm 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị lực lượng Cộng sản xâm chiếm trong Tháng Tư Đen và Sài Gòn đã bị thất thủ. Mỗi năm biến cố trọng đại này được các cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ tổ chức tưởng niệm.
Nhân dịp lần thứ 45 tưởng niệm biến cố Tháng Tư Đen, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa Hạt 48) đã gởi thông điệp đến với cộng đồng Người Mỹ gốc Việt tại Quận Cam: Trong thông điệp này, Dân Biểu Rouda cũng nhắc đến những người trong cộng đồng chúng ta mà ông vừa vinh danh: Tướng Lê Minh Đảo, nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác Sĩ Phạm Đỗ Thiên Hương.
Tuần này sẽ đánh dấu nhiều mốc ngoặc mới trong đại dịch vi khuẩn corona khi các trường hợp bị lây nhiễm tại Hoa Kỳ đã hơn 1 triệu, ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh tái mở cửa và một số nhân viên y tế địa phương bắt đầu thử nghiệm kháng thể cho công chúng, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 27 tháng 4 năm 2020. Tính tới Thứ Hai, Hoa Kỳ đã có 1,008,571 trường hợp bị lây, với 56,521 người thiệt mạng.
3 videos ngắn cho thấy “hiện tượng xuất hiện trong không gian không xác định” đã được công bố bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các video, đã được phổ biến trước đây bởi một công ty tư nhân, cho thấy cái gì đó trông giống các vật bay không xác định di chuyển nhanh trong khi được thu hình bởi các máy thu hồng ngoại tuyến, theo CNN tường trình cho biết. 2 trong 3 video, các quân nhân có thể nghe được sự phản ứng các vật bay nhanh như thế nào. Một giọng nói cho thấy nó có thể là một chiếc robot.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.