Hôm nay,  

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa

28/09/202621:21:00(Xem: 493)
blank

 

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Trí nhớ của Cung Tích Biền có vẻ như tuyệt vời, theo cách ông nói chuyện không do dự; dù vậy, tôi vẫn ngờ vực có thể có một số chi tiết ông nhầm lẫn, bởi vì bản thân tôi nhỏ tuổi hơn mà cũng đã thấy trí nhớ lãng đãng bên triền mây trắng. Đôi khi ngồi uống cà phê, tôi hỏi ông về một số người cầm viết Miền Trung, trong đó có nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, một người tôi rất mực thân thiết trong những năm bạn này còn sinh tiền, ông kể về những chuyện tôi chưa từng đọc về đời của họ với giọng thương cảm, lân tài. Bây giờ thì nhà văn Cung Tích Biền cũng ra đi rồi.
 

Có thể tóm tắt vài câu về cuộc đời của nhà văn Cung Tích Biền hay không? Tôi muốn viết theo chủ quan của mình rằng, nhà văn họ Cung là người chủ hòa: bước vào đời từ thời niên thiếu trong vùng kháng chiến với nhiều năm hoạt động nơi sân chùa, bị xô đẩy theo đủ thứ sóng gió giũa một thời nội chiến, rồi sống như một nhà văn đời thường với các đam mê rất người, nhưng tận cùng luôn luôn là một ngòi bút đi tìm cái đẹp ngôn ngữ trong khi đưa ra những dòng chữ kêu gọi hòa bình và lời ước mơ có các quyền làm người. Cần ghi nhận: nơi đây chúng ta nói "chủ hòa" để tránh chữ "phản chiến" -- một cách nói tương đương, nhưng có lẽ đã bị ô nhiễm. Thực sự, chủ hòa chính là lý tưởng nhân bản nhất của nhân loại, cũng là của lời dạy của Đức Phật, rằng chúng ta không nên làm tổn thương bất kỳ ai, bất kỳ sinh vật nào.

Cung Tích Biền đã kể rằng ông trong thời thiếu niên đã đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời đó ông cũng đi đánh đàn, chơi nhạc. Thời gian này, ông cũng là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Trong một bài viết, khi kể về 2 tuần lễ tới khu Chợ Được để huấn luyện cho các đoàn sinh Phật Tử, ông gọi đây là những ngày hạnh phúc.
 

Tháng 7 năm 2024, ông viết bài "Vương Trùng Dương: Một Cây Bút Đa Diện" ghi rằng: “Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi”.

Đó là lời ông nói, rằng đó là những ngày vui, hạnh phúc... Chúng ta có thể hình dung rằng những năm hoạt động ở sân chùa thời niên thiếu đã hun đúc tâm hồn ông, đã dẫn tới khuynh hướng chủ hòa theo lời dạy của giới luật, rằng không ai có quyền gây tổn thương hay sát hại ai. Thêm nữa, chắc chắn rằng Cung Tích Biền phải dạy cho các đoàn sinh Phật tử kia về lời dạy Lục Hòa, tức là sáu pháp hòa thuận, từ ái và tôn trọng lẫn nhau. Người nào sống được như thế, sẽ thấy tâm mình y hệt như chữ viết trên nước, không có gì để phải sân si giận dỗi trong cõi này.

Ông kể lại với nhà văn Vương Trùng Dương rằng, sau năm 1954, khi đất nước chia đôi, "lúc đó anh 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm nên sau đó được thả ra."
 

Hiển nhiên rằng ông cân nhắc rất kỹ trước khi cầm bút sáng tác với bút hiệu Cung Tích Biền. Ban đầu, ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 1958 dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3 năm 1966 (tức là ba năm sau khi vào quân lực VNCH), bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với hai truyện ngắn Ngoại ô Dĩ An và Linh hồn tôi. Tại sao chọn bút hiệu Cung Tích Biền? Nhà thơ Luân Hoán kể rằng ông chọn bút danh này đơn giản vì đây là tên ghép từ tên của các anh chị ruột trong gia đình. Trong đó, chữ "Biền" là tên một người anh đi tập kết. Nghĩa là, ông viết trong khi ý thức rằng bút hiệu của mình đang có tên một người anh đã tập kết, và rồi mất tích.

Nhà văn Vương Trùng Dương kể rằng Cung Tích Biền có 2 người anh chết cho cuộc chiến phân đôi này. Người thứ nhất trong gia đình hy sinh là ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, tập kết ra Bắc, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai là ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, ông Tấn đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất.
 

Cung Tích Biền sinh ngày 8 tháng 2/1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từng theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Trước khi vào quân đội VNCH, từng đi dạy học tại các trường trung học ở quê nhà Quảng Nam vào năm 1960. Năm 1963, bị động viên nhập ngũ và theo học khóa Sĩ quan (trường Bộ binh Thủ Đức. Từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp, quân nhu và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Năm 1973, Cung Tích Biền giải ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).

Sau năm 1975, ông ngừng viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt đầu cầm bút trở lại, có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông Hương, Văn Nghệ) lẫn các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da Màu). Nhà văn Cung Tích Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 theo diện vợ con bảo lãnh. Tại Hoa Kỳ, Cung Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm. Tính chung là hơn 150 truyện ngắn và trên 30 tiểu thuyết, một số đã in thành sách, đã được dịch sang Pháp và Anh ngữ, và hàng trăm bài khác ở nhiều thể loại...
 

Khi nhìn lại, Cung Tích Biền nói lên tâm sự rất buồn, qua bài viết về một nhạc sĩ cũng có thời trẻ ở vùng kháng chiến. Bài viết nhan đề "Phạm Duy, Người Đi Cùng Mệnh Nước Ngược Xuôi -- Ra Đi Từ Lúc Trăng Tơ" đăng trên Việt Báo ngày 03/02/2023, với những dòng chữ tự sự rất buồn của họ Cung, trích:

"Chúng tôi chào đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ. Cái buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng thể ra ngoái nỗi nhớ…. Là nhà văn, khi cầm bút, quá khứ luôn đứng đầu chỗ ngọn bút. Mỗi giọt mực là một giọt/dòng dĩ vãng. Tất cả cái “bản đồ số phận” trong Cõi nhớ ấy, trong một thời/không gian có hạn định, đã từ lâu trôi qua. Có khi trôi tút mù trong bộ nhớ của nhơn loại. Nó như xác một con dán chết khô trong kẹt tủ, dưới gầm bàn bỏ quên. Mà chúng tôi vẫn nhớ. Nhớ tận mạng, li ti, day dứt. Không có thước tấc nào đo đạc đủ bề sâu chiều rộng cái Nhớ ấy. Nhìn chung, chúng tôi, chừng là một tộc người đang đánh mất hiện tại, mù đôi mắt nhìn ra tương lai. Chỉ dặm dài, hun hút một đôi-mắt-luôn-sau-ót, phản chiếu những phó bản của Ngày qua." (ngưng trích)

Cuộc đời ông là như thế, một thời ở sân chùa, một thời thiếu niên trong vùng kháng chiến chống Pháp, rồi tới cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc: chào đời vào buổi không mấy vui, phải sống với một đôi-mắt-luôn-sau-ót... và không thoát khỏi nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ nào? Chúng ta có thể suy đoán rằng ông luôn nhớ mãi thời cầm đàn đi tới các sân chùa để hướng dẫn các đơn vị Gia Đình Phật Tử, mà ông gọi là những ngày vui, những giờ hạnh phúc. Thực tế, chiến tranh cũng là thời mà bất kỳ ai cũng là nạn nhân.
 

Tư tưởng chống chiến tranh của Cung Tích Biền được hiển lộ trong truyện “Thừa Dư” một cách điển hình. Truyện “Thừa Dư” viết tại Sài Gòn năm 1992, tức là thời kỳ hậu 1975. Truyện kể về hai anh em sinh đôi Dư và Thừa, sinh ra trong một gia đình đông con. Ngay từ khi chào đời, hai người đã giống nhau đến mức gần như không thể phân biệt. Trong bối cảnh chiến tranh, hai anh em chia lìa: Thừa cưới vợ, vào lính VNCH, rồi giải ngũ và trở về khai hoang ở vùng núi Bình Thuận; Dư thì phiêu bạt theo một con đường khác. Thừa bị tai nạn trên đường từ rừng về và phải cưa mất chân trái. Nhiều năm sau, người kể chuyện là Ngọc nhận được thư của Thừa, mời về quê để cùng bà con trùng tu nhà thờ họ. Dịp này, Dư cũng sẽ về làng, nhưng cũng bị cưa chân, không được truyện nói rõ lý do, nhưng Cung Tích Biền ghi là do lý tưởng, trích: "Trong hương xưa ngất ngây, không ai than phiền mình đã bị gãy cẳng, hoặc vui vẻ được gãy cẳng vì lý-tưởng-có-sẵn-mì-ăn-liền." (Ghi nhận: lý tưởng này không được giải thích rõ trong truyện.)

Cả hai anh em đều đã mất một chân: Thừa mất chân trái, còn Dư mất chân phải. Trong đêm văn nghệ mừng khánh thành nhà thờ họ. Dư và Thừa cùng lên sân khấu trong tiết mục “Anh em một nhà, chúng ta cùng tiến bước”. Vì mỗi người chỉ còn một chân, họ dìu nhau, ghép hai thân thể thành một hình tượng có đủ hai chân nhưng hai thân người, hai cái đầu. Dư chơi guitare, Thừa thổi khẩu cầm. Cuối truyện, Ngọc, Dư và Thừa ngủ chung một giường. Trong đêm, Thừa đắp mền cho Dư và Ngọc; khi chân họ chạm vào nhau, Ngọc chợt nhận ra rằng ba người họ, sau tất cả những biến động của lịch sử, chỉ còn sống trên bốn cái chân.

Đoạn kết Cung Tích Biền viết, trích: "Gần sáng, trời trở lạnh. Thừa quơ mền đắp cho Dư và đắp quàng qua cho tôi. Chân chạm vào nhau mới sực tỉnh: Hóa ra trong bao năm dài chúng tôi ba người chỉ có, và chỉ sống trên bốn cái chân. Lịch sử từ lâu nhường bước cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua..."
 

 Một điển hình cho nền văn học chủ hòa khác: truyện ngắn Bạch Hóa, do Cung Tích Biền viết sau trận Mậu Thân, 1968. “Bạch Hóa” lấy bối cảnh một vùng quê Việt Nam bị chiến tranh tàn phá. Nhân vật trung tâm là chú Sáu, một người nông dân ít học, cả đời gắn bó với ruộng đồng và đàn bò. Đối với chú, con bò không đơn thuần là gia súc mà là một phần của đời sống, lao động và thế giới tinh thần của mình. Chú từng có một con bò đực rất khỏe, nhưng nó chết vì đạn pháo. Từ đó, chú đặc biệt quý trọng hai con bò còn lại, nhất là con bò con.

Chiến tranh đã biến làng quê thành nơi đầy chết chóc và sợ hãi. Sáu Vu, một người từ lâu rời làng trở về, đã tổ chức một cuộc xử án và chặt đầu chính cha của y là Hương Đằng, nhân danh cách mạng. Sau đó, chiến tranh tiếp tục làm làng xóm tan hoang, người dân bỏ đi, ruộng vườn bị phá hủy, bom đạn trở thành một phần của đời sống hàng ngày.

Trong căn hầm tránh pháo, chú Sáu sống cùng cô con gái Miệng và con chó đen. Miệng còn trẻ, nhưng chiến tranh đã khiến cuộc sống của cô bị bóp nghẹt. Chú Sáu thương con gái, thương người vợ đã chết và cảm thấy con người đang bị đẩy trở lại tình trạng sống như súc vật. Một đêm, pháo kích dữ dội. Một mảnh đạn xuyên vào sau đầu Miệng và cô chết ngay trong căn hầm. Con chó cũng chết. Buổi sáng, con bò cái bị bom giết chết. Chú Sáu mất dần tất cả những gì thân thuộc: vợ, con, bò, chó và quê nhà. Ngọc, người thương Miệng, âm thầm đào huyệt chôn cô và con chó.

Bốn tháng sau, chú Sáu phải rời quê đến một khu định cư. Chú chỉ còn con bò con. Ở thành phố, chú không thích nghi được với đời sống mới. Người ta cấp cho chú nhà cửa, thực phẩm và quần áo, nhưng những thứ ấy không thể thay thế quê hương, ruộng đồng, cánh đồng và đời sống cũ. Chú vẫn chỉ nghĩ đến việc kiếm cỏ và chăm sóc con bò. Cuối cùng, một trận pháo kích giết chết luôn con bò con. Nó bị phá tan thành thịt, máu và thuốc súng. Đối với chú Sáu, đó là giọt nước cuối cùng. Chú quyết định trở về quê, mặc dù mọi người cảnh báo đó là “vùng oanh kích tự do”, nơi người ta có thể tùy ý bắn phá.

Trên đường về, chú Sáu gặp Ô Mã Nhi và những người du kích. Họ buộc tội chú là gián điệp và đọc một “bản cáo trạng” giả tạo để kết án tử hình. Thực chất, tờ giấy ấy chỉ là một mảnh giấy thu lúa, nhưng Ô Mã Nhi dùng nó làm cớ để giết chú. Chú Sáu chết mà không kịp biết rằng chính người con trai của mình, Đích, cũng bị họ tuyên án tử hình.

Phần cuối truyện chuyển sang Đích, con trai chú Sáu, lúc này là một người lính Quốc gia. Đích cùng đơn vị trở về vùng quê của mình. Anh nhớ lại tuổi thơ, những cánh đồng, gia đình và những con bò ngày trước. Nhưng nơi quê nhà giờ đây chỉ còn cây cháy, nhà đổ, hố bom và những dấu vết chết chóc.

Đích gặp một đứa trẻ sống sót. Đứa trẻ nói cha mẹ mình đã chết dưới hầm và nó không còn gì để sống. Thế rồi một người lính khám phá ra một xác một cụ già chết đã sình thối dưới mương. Người lính nói xác ấy mặc áo viện trợ Chicago. Đích không biết đó là xác cha mình. Khi đoàn lính hành quân và rồi quay về lại, anh chợt hỏi: “Ơ, hồi nãy có đứa nào chịu khó chôn lão già không bây.” Truyện kết thúc ở đó, để lại một cảm giác đau đớn về một người con đã trở về quê nhưng không còn quê nhà, và có thể đã đi ngang qua xác chính cha mình.
 

Để kết bài này, chúng ta có thể nhận ra rằng ước mơ của nhà văn Cung Tích Biền cũng chính là những gì đã được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đó là quyền biểu tình để đòi quyền sống, đó là quyền tự do ngôn luận, và các quyền căn bản khác. Trong bài đưa tiễn Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền viết bài "Ông Dương, Ông Đã Đi Rồi" vào tháng 9/2019, trích:

"Sáng hôm nay, ngày chủ nhật. Mỗi buổi sáng cuối tuần tôi thường đi vơ vẩn khu trung tâm thành phố, quanh nhà thờ Đức Bà. Xem có gì “lạ” không. Xa xa, trên đường phố, có thể có một đám đông. Một đám đông dân chúng đi biểu tình đòi quyền sống, quyền ngôn luận, quyền làm chủ một đất nước có danh dự. Một phản xạ có điều kiện, cứ sáng sáng chủ nhật là tôi ra khỏi nhà. Như ngày ngày của một gã ăn xin, mong được bố thí, nửa ổ bánh mì, một mẩu vụn lời hứa cho Tự do..."

Thế đó, cái mà chúng ta nơi đây gọi là nền văn học chủ hòa trong truyện Cung Tích Biền vẫn có mục tiêu cụ thể, đó là ước mơ có quyền làm người. Những ngày Chủ Nhật của Cung Tích Biền khi còn ở quê nhà là những bước đi chờ đợi, hy vọng cho một ngày người dân Việt Nam được sống tử tế như con người, được tôn trọng các quyền làm người, để được nói và viết tự do.
 

Khi Cung Tích Biền từ trần, sách của ông vẫn chưa được phép in lại tại Việt Nam; nhưng chúng ta vẫn có thể tin rằng sẽ tới một ngày các quyền làm người, các quyền căn bản ghi trong Hiến chương LHQ sẽ được tôn trọng và thực hiện tại quê nhà. Bởi vì, sâu thẳm của ý nghĩa “chủ hòa” trong truyện của Cung Tích Biền là xuất phát từ lời dạy Lục Hòa trong các sân chùa khi các đơn vị Gia Đình Phật Tử sinh hoạt, nơi đó hoàn toàn vắng bóng bạo lực, nơi đó là hòa nhã, từ ái, và tôn trọng lẫn nhau. Thực sự, chủ hòa là ước mơ lớn của lịch sử nhân loại, bất kể ở quốc độ nào và với bất kỳ dân tộc nào. Và nền văn học chủ hòa chắc chắn sẽ đưa tới một ngày cứu được dân tộc Việt Nam, khi mọi người nhìn nhau như anh em một nhà  và xa lìa hẳn một quá khứ bạo lực.

Xin từ biệt nhà văn Cung Tích Biền. Anh đã có một chỗ đứng độc đáo trong văn học Việt Nam. Những gì anh viết sẽ được nhiều thế hệ về sau suy ngẫm, nghiên cứu và để rút ra bài học về lời kêu gọi chủ hòa.

(Một số trích đoạn trong bài này đã được tác giả đọc trong tang lễ
nhà văn Cung Tích Biền hôm Thứ Hai 28/9/2026 tại Quận Cam, California
.)

 



Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 03/05/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi giảng pháp với chủ đề Phật Đản cho nhóm Phật tử Giới Trẻ Mây Từ và đạo hữu. Có ít nhất hơn 250 người theo dõi qua facebook của Giới Trẻ Mây Từ.
Thứ Năm ngày 7 tháng 5, 2020 tại Parking lot nhà thờ Living Spring Church, 9851 Bixby Avenue, Garden Grove; và Thứ Bảy ngày 9 tháng 5, 2020 sau Trung Tâm Performing Arts Parking lot phía sau, 16149 Brookhurst, Fountain Valley
Đành rằng Hoa Kỳ là một cường quôc trên thế gới, nền ngoai giao rất đa đoan, phức tạp. Chính sách của Hoa Kỳ dưới thời bất cứ tổng thống nào cũng chỉ phục vụ quyền lợi của dân chúng Hoa Kỳ, nhưng dù sao, như lời tổng thống Trần Văn Hương nói với đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin trước khi chia tay vào tháng 4-1975: “Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 353.)
Nga đã báo cáo con số kỷ lục các trường hợp bị truyền nhiễm vi khuẩn corona trong 4 ngày liên tiếp tính tới Chủ Nhật, 3 tháng 5, khi vi khuẩn lây lan nhanh tại Nga, đã nhanh chóng trở thành trung tâm COVID-19 trên toàn cầu. Đã có 10,633 trường hợp mới được xác nhận hôm Chủ Nhật, theo Tổng Thống Nga Putin cho biết, khoảng hơn 1,000 trường hợp được báo cáo hôm Thứ Bảy, theo tài liệu từ Worldometers cho biết. Tổng cộng 134,687 người hiện được xác nhận đã bị lây vi khuẩn corona tại Nga, làm cho nước này trở thành quốc gia bị lây nhiều thứ 7 trên toàn cầu. Hơn một nửa trường hợp bị lây tại Nga được báo cáo xảy ra tại thủ đô Moscow.
Thống Đốc Illinois J.B. Pritzker hôm Chủ Nhật, 3 tháng 5 nói rằng qua nhiều tuần lễ Bạch Ốc “đã không giúp gì” cho các tiểu bang giữa trận đại dịch vi khuẩn corona. “Nhiều thống đốc đã đứng lên thách thức,” theo Pritzker phát biểu trong chương trình “Face the Nation” của Đài CBS. “Tôi đã nói chuyện với các thống đốc đồng nghiệp của tôi, Cộng Hòa và Dân Chủ. Chúng tôi đã chia xẻ suy nghĩ với nhau về cách giữ an toàn cho người dân.” “Chúng tôi đã có một số hướng dẫn từ [Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ - CDC] là hữu ích, nhưng phần nhiều điều đưa ra của Bạch Ốc qua nhiều tuần lễ là vô ích,” theo thống đốc Illinois cho biết.
“Các bạn không có quyền gây nguy hiểm cho sức khỏe của tôi. Các bạn muốn gây nguy hiểm cho sức khỏe của các bạn, tôi cầu Thượng Đế ban phước lành cho các bạn. Các bạn không có quyền gây nguy hiểm cho sức khỏe của tôi,” ông Cuomo nói thế. “Đeo khẩu trang không phải chỉ vì sức khỏe của các bạn. Đeo khẩu trang là vì sức khỏe của tôi, và sức khỏe của con cái của tôi và sức khỏe của con cái của các bạn và đó là tại sao các bạn phải đeo khẩu trang. Nó không phải chỉ là mạng sống của các bạn, nó là mạng sống của những người khác.”
Trong mùa đại dịch toàn cầu Covid-19, tính đến hôm nay đã khiến hơn 250.000 người trên thế giới tử vong, riêng tại Hoa kỳ là 67.000 người. Đức Phật Dược Sư đã phát mười hai đại nguyện cứu độ các bịnh khổ thân tâm của hết thảy chúng sinh. Chúng sanh nghe danh ngài, đãnh lễ ngài liền có thể tiêu trừ được nhiều bịnh tật và chết chóc.
Trước thềm Đại hội 13 tình hình thực sự của chế độ XHCN đã được chuyên viên xác nhận chính thức như sau: “..đã xuất hiện ngày càng nhiều “nhóm lợi ích” tiêu cực, đã và đang ảnh hưởng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là ở những ngành, lĩnh vực quan trọng, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, như quản lý đất đai, tài chính - ngân hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên. Thậm chí, “nhóm lợi ích” tiêu cực còn xuất hiện ở một số ngành, lĩnh vực vốn vẫn được coi là tôn nghiêm, liên quan đến an ninh quốc gia, như công tác tổ chức - cán bộ, phòng, chống tội phạm,... Một loạt vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian gần đây liên quan đến nhiều tổ chức đảng, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cao cấp cho thấy, “nhóm lợi ích” đã leo cao, luồn sâu vào trong bộ máy Đảng và Nhà nước, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.”
Một thành phố là cảng thương mại hiện đại nằm ở rìa phía nam của Navajo Nation bị phong tỏa vào cuối tuần dưới sự giám sát của Vệ Binh Quốc Gia và cảnh sát tiểu bang để không cho đi lại và thương mại không cần thiết khi dịch vi khuẩn corona đang bùng nổ, theo tin AP cho biết hôm Thứ Bảy, 2 tháng 5. Thống Đốc New Mexico Michelle Lujan Grisham đã ra lệnh cho cư dân của thành phố Gallup phải ở trong nhà ngoại trừ các trường hợp khẩn cấp và các đường bị đóng không cho vào và ra khỏi thành phố đối với việc đi lại không cần thiết và bất cứ xe cộ nào chở hơn 2 người. Lây nhiễm của COVID-19 tại Gallup và quận phụ cận McKinley đã vượt hơn 1,110 trường hợp được xác nhận tính tới Thứ Bảy chiếm 30% các trường hợp bị lây trên toàn tiểu bang, vượt hơn số lây nhiễm tại các cộng đồng lớn hơn nhiều như Albuquerque. Tính chung, có hơn 3,730 trường hợp được báo cáo tại New Mexico hôm Thứ Bảy, với ít nhất 139 người thiệt mạng.
Hàng ngàn người đã tràn ra các đường phố lần đầu tiên trong 2 tháng khi Tây Ban Nha nới lỏng các hạn chế chống vi khuẩn corona trên toàn quốc. Nhiều nơi công cộng, như bãi biển và công viên, vẫn còn hạn chế, nhưng những nơi công cộng khác đã cho tự do để tập thể dục. Chính phủ đã đặt ra lịch trình theo nhóm tuổi và các hoạt động để ngăn chận đám đông tụ tập và lây nhiễm nguy cơ cho dân chúng.
Ít nhất 46 người chết trong một cuộc bạo loạn tại Nhà Tù Los Llanos tại tiểu bang Portuguesa của Venezuela, theo một nhà lập pháp đối lập trong khu vực cho CNN biết hôm Thứ Bảy. Hàng chục người khác cũng bị thương trong vụ bạo loạn đã bắt đầu trong thời gian cố gắng trốn trại tù, theo Dân Biểu Quốc Gia của tiểu bang Portuguesa là Maria Beatriz Martina nói với CNN. Martinez cho biết rằng một trái lựu đạn đã nổ trong cuộc trốn chạy khỏi nhà tù, gây thương tích cho ít nhất một quan chức.
Chính phủ Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam tổng cộng 9 triệu rưỡi đô la để đối phó với bệnh dịch COVID-19, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm 2 tháng 5 năm 2020.
Toàn là thần chú và phép lạ cả. Điều mầu nhiệm là tuy chỉ được ăn bánh vẽ nhưng cả nước vẫn không ai kêu đói, và có người còn tấm tắc khen ngon. Mầu nhiệm hơn nữa là một dân tộc dễ chịu (và dễ dậy) tới cỡ đó mà vẫn sống sót được mãi cho đến đầu thế kỷ này.
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.