Hôm nay,  

Lời khuyên đừng tranh cãi

03/10/202620:03:00(Xem: 128)
blank

Lời khuyên đừng tranh cãi

Nguyên Giác
 

Tôi từng được Thầy bổn sư dạy rằng, "Con đừng nên tranh cãi." Thế rồi nhiều năm sau, tôi bước vào nghề báo. Và thế rồi, tôi tự nhận thấy, từng dòng chữ mình viết xuống, từ trong thời chưa có máy vi tính, và từng chữ gõ xuống bàn phím từ khi có vi tính, là đi giữa những trận đồ tranh cãi. Thí dụ, chữ "máy vi tính" tôi vừa gõ hiển nhiên là một lựa chọn, và những lý luận, rằng tại sao không gõ chữ "máy điện toán" và rằng chữ này hay chữ kia là mang theo cả một khung trời giáo dục. Hay lựa chọn giữa chữ "tàu sân bay" và "hàng không mẫu hạm" và rất nhiều nữa.

Tại sao không nên tranh cãi? Về sau, tôi đọc phần Chánh ngữ, chỉ thấy nói rằng hãy từ bỏ nói dối, từ bỏ nói kiểu kích động hai đầu, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tức là phải nói sự thật, nói dịu dàng, nói xây dựng, không nói chuyện vô ích. Thế rồi tôi tập quen tới mức lòng mình tịch lặng, nhiều ngày không thấy chữ nào hiện lên trong tâm (bất kể mình sắp phải gõ vài ngàn chữ cho tờ báo buổi chiều), và rồi không còn bận tâm chữ này hay chữ kia nữa ngay cả khi theo dõi các cuộc tranh luận ở cõi thế gian (nhiều vô số kể, hễ mở TV là thấy rồi) hay các biện luận về pháp xuất thế gian (tôi vẫn theo dõi các nhà sư Mỹ, Úc, Anh... thảo luận trên mạng).

Tôi nghiệm ra rằng lời khuyên "chớ nên tranh cãi" có một sức mạnh huyền bí. Bởi vì, tranh cãi là trận chiến của chữ, của ý nghĩa, của lựa chọn, của một mặt trận trong tâm từng người, trước khi trở thành một cuộc chiến trên trang báo giấy hay trên màn hình TV. Nghĩa là, một cách tự nhiên, chữ sẽ biến mất trong tâm của bạn, cho dù bạn vẫn duy trì khả năng viết cả ngàn chữ mỗi ngày.  Khi bạn dứt bặt tranh cãi trong tâm là bạn sẽ thấy tịch lặng ngay cả khi ngồi giữa chợ.

Thêm nữa, tôi suy đoán rằng lời khuyên đừng tranh cãi hẳn là chớ nên giữ kiểu suy nghĩ "mình đúng, còn họ thì sai" -- kiểu suy nghĩ như thế dễ nảy sinh lòng kiêu hãnh và gây chia rẽ. Xin nói rõ, trong cộng đồng, tôi là một kẻ ba phải, nghe ai nói gì thì mình cũng im lặng; đôi khi về nhà, liền tìm bản tin xác thật để dịch ra cho đồng bào đọc, và tự nhủ, "Hơi đâu cãi nhau, mình chỉ cần dịch bản tin này là đủ để nêu lên sự thật."
 

Trong Kinh MN 139, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp." (1)
 

Nghĩa là, phải có trình độ để biết tán thán cách sống nào của thân, khẩu, ý phù hợp với Chánh pháp, và cần biết chỉ trích nếu cách sống nào không phù hợp. Sau đó thì không cần bận tâm chuyện tán thán với chỉ trích, mà hãy tùy duyên thuyết pháp. Bất kể ai nói rằng mình không đủ kiến thức để tranh biện, hay là có cãi cũng thua. 

Thêm nữa, đối với người thường trực sống với niệm vô thường, chuyện tranh cãi như dường là xa xỉ. Vì không chắc gì mình còn sống để nói dứt một câu nói. Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 6, có một tích truyện về tranh cãi. Lúc đó, trong thời gian an cư tại tu viện Jetavana ở Savatthi, Đức Phật đã thuyết giảng Kệ số 6 của Pháp Cú, liên quan đến các vị tỳ-kheo ở Kosambi.

Các tỳ-kheo tại Kosambi đã chia thành hai nhóm: một nhóm theo vị thầy thông thạo Luật tạng (Vinaya) và nhóm kia theo vị thầy thông thạo Giáo pháp (Dhamma); họ thường xuyên tranh cãi lẫn nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi; vì vậy, Ngài đã rời bỏ họ và trải qua mùa an cư kiết hạ một mình tại rừng Rakkhita, gần khu rừng Palileyyaka. Tại đó, con voi Palileyya đã hầu cận Đức Phật.

Các cư sĩ tại Kosambi, khi biết lý do Đức Phật rời đi, đã từ chối cúng dường cho các vị tỳ-kheo còn lại. Điều này khiến họ nhận ra sai lầm của mình và đi đến hòa giải với nhau. Tuy nhiên, các cư sĩ vẫn không còn đối đãi với họ đầy tôn kính như trước nữa, cho đến khi họ khai nhận lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng lúc đó Đức Phật đang ở xa và đang giữa mùa an cư, nên các tỳ-kheo Kosambi đã phải trải qua mùa an cư trong sự khổ sở và gian nan.

Khi mùa an cư kết thúc, Tôn giả Ananda cùng năm trăm vị tỳ-kheo đã đến gặp Đức Phật và chuyển lời thỉnh cầu từ ông Anathapindika cùng các cư sĩ khác, mong Ngài trở về. Sau đó, Đức Phật đã trở lại tu viện Jetavana ở Savatthi. Các tỳ-kheo đi theo Ngài về đó, đảnh lễ dưới chân Ngài và thú nhận lỗi lầm. Đức Phật quở trách họ vì đã không vâng lời Ngài. Ngài nhắc nhở họ rằng ai rồi cũng sẽ phải chết, do đó họ cần chấm dứt tranh cãi và không được hành xử như thể mình sẽ bất tử.

Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kệ Pháp Cú 6 như sau: Những người không có trí tuệ thường không nhận thức được rằng trong thế gian này rồi ai cũng sẽ phải chết (và vì không nhận thức được điều đó, họ cứ tiếp tục tranh cãi). Người có trí tuệ thì nhận thức được điều này, và nhờ đó, những tranh cãi của họ được chấm dứt.

 
Như thế, hễ ai sống được với vô thường, họ sẽ không bận tâm tranh cãi nữa. Thế nào là sống với vô thường. Nếu bạn nhớ, trong các bản kinh về vô thường, câu đầu tiên Đức Phật thường hỏi là, "mắt có vô thường không?" Do vậy, chúng ta có thể niệm vô thường bắt đầu bằng tất cả những cái đang chuyển biến vô thường quanh mình: những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường (nhóm này gọi là sắc, hay là form). Và tất cả những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường, do vậy vô ngã, do vậy vô tự tánh. Chỉ cần sống với kinh nghiệm này thôi, không cần tranh cãi gì hết.

Tương tự, trong Kinh SN 22.94, Đức Phật nói rằng: "...Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời... Sắc, này các Tỳ-khưu, là pháp thế gian. Pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, vẫn không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy." (Tương tự với Thọ, Tưởng, Hành, Thức) (2)
 

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta nhận thấy rất nhiều vị sư dựa vào kỹ năng tranh biện trong khi hoằng pháp. Phật giáo Tây Tạng đã lấy tranh biện làm công cụ, như một phương tiện trong khi hoằng pháp. Tranh luận trở thành một môn học tại các tu viện Phật giáo Tây Tạng. Bạn dễ dàng tìm thấy những cuộc tranh luận này trên các băng hình YouTube. Tranh luận trong các tu viện Tây Tạng không phải để cãi nhau hơn thua. Mục tiêu là giúp nhau đưa ra các lý luận sắc bén, bạn học đồng môn sẽ giúp nhau bộc lộ những lỗ hổng, sự mơ hồ hoặc hiểu sai về các khái niệm sâu xa như Tánh Không hay Vô Thường.


 

Nơi đây, chúng ta sẽ dịch sơ lược bài "The Purpose and Benefits of Debate" (Mục đích và lợi ích của việc tranh biện) của Đại sư Tsenshap Serkong Rinpoche II:

"Trong Phật giáo, tranh biện không nhằm mục đích đánh bại người khác bằng những lý lẽ khôn khéo. Mục đích của nó là giúp người học củng cố sự hiểu biết của mình, để họ không còn hoài nghi khi thực hành thiền định. Trong lớp học, mỗi học viên sẽ thách thức bạn học bảo vệ quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi và chỉ ra những điểm bất hợp lý trong câu trả lời của đối phương. Kết quả là cả hai bên đều cùng tiến bộ.

Một trong những mục đích chính của việc tranh biện trong quá trình tu học Phật giáo là giúp bạn phát triển nhận thức kiên định. Bạn đưa ra một quan điểm và người bạn tranh biện sẽ thách thức quan điểm đó từ nhiều góc độ khác nhau. Nếu bạn có thể bảo vệ quan điểm của mình trước mọi sự phản bác, đồng thời nhận thấy nó không có điểm bất hợp lý hay mâu thuẫn nào về mặt logic, bạn có thể tập trung vào quan điểm hoặc cách nhìn đó với một nhận thức hoàn toàn kiên định, không gì lay chuyển nổi. Trạng thái tâm trí này còn được gọi là niềm tin vững chắc. Bạn cần có nhận thức xác tín và niềm tin vững chắc này khi thực hành thiền định chuyên chú vào bất kỳ đề tài nào, chẳng hạn như tính vô thường, sự bình đẳng giữa bản thân và người khác, coi người khác quý giá hơn bản thân, tâm Bồ-đề, tính Không, v.v. Nếu tự mình phát triển nhận thức xác tín đó—ví dụ như thông qua thiền quán (thiền phân tích) hoặc chỉ suy ngẫm về Giáo pháp—bạn sẽ không bao giờ có thể tự đặt ra nhiều câu hỏi phản biện cho sự hiểu biết của mình như khi tranh biện cùng nhiều bạn học am hiểu. Người khác có thể dễ dàng nhận ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót trong lập luận của bạn hơn chính bản thân bạn.

Hơn nữa, tranh biện tạo ra môi trường thuận lợi hơn thiền định để người mới bắt đầu rèn luyện khả năng tập trung. Những thách thức từ bạn tranh biện và sự hiện diện của các bạn học đang lắng nghe buộc bạn phải tập trung cao độ. Khi thiền định một mình, chỉ có ý chí mới giúp bạn ngăn tâm trí xao nhãng hoặc tránh bị buồn ngủ. Ngoài ra, tại các sân tranh biện trong tu viện, nhiều cuộc tranh biện thường diễn ra đồng thời với âm thanh rất lớn. Điều này cũng buộc bạn phải tập trung. Nếu những cuộc tranh biện xung quanh làm bạn xao nhãng hoặc gây khó chịu, coi như bạn đã thất bại. Một khi đã rèn luyện được kỹ năng tập trung trên sân tranh biện, bạn có thể áp dụng nó vào việc thiền định, ngay cả khi thiền ở những nơi ồn ào.

Thêm vào đó, tranh biện còn giúp phát triển nhân cách của bạn. Bạn không thể vừa giữ thái độ rụt rè, e ngại mà vẫn tham gia tranh biện được. Bạn cần lên tiếng khi đối thủ đưa ra thách thức. Ngược lại, nếu tỏ ra kiêu ngạo hay nổi nóng, tâm trí bạn sẽ trở nên thiếu sáng suốt và chắc chắn bạn sẽ bị đối phương đánh bại. Bạn cần luôn giữ được sự cân bằng về mặt cảm xúc. Dù thắng hay thua, cuộc tranh biện vẫn mang lại cơ hội tuyệt vời để nhận diện cái "Tôi" cần phải bị bác bỏ. Khi bạn nghĩ hoặc cảm thấy "Mình đã thắng; mình thật thông minh" hay "Mình đã thua; mình thật ngu ngốc", bạn có thể nhận diện rõ ràng sự phóng chiếu của một cái "Tôi" kiên cố, đầy tự mãn mà bạn đang đồng nhất mình với nó. Đây chính là cái "Tôi" hoàn toàn hư ảo và cần phải bị bác bỏ.

Ngay cả khi chứng minh được rằng quan điểm của đối phương là phi lý, bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không có nghĩa là bạn thông minh hơn còn họ thì ngu ngốc. Động cơ của bạn phải luôn là giúp đối phương phát triển sự hiểu biết sáng suốt và niềm tin vững chắc vào những điều có thể được chứng minh bằng lý luận." (3)
 

Như thế, mục đích của tranh biện là để thiết lập chánh kiến trước khi hành thiền, trong lộ trình (Văn-Tư-Tu), một phương pháp diệt trừ chấp ngã (giữa người hỏi và người đáp không có chuyện cãi thắng, cãi thua, chỉ là để học Phật thôi; không có chuyện kiêu hãnh khi cãi đúng Chánh pháp hay mắc cỡ khi nói chệch Chánh pháp). Việc đối diện trực tiếp với sự yếu kém của bản thân trong môi trường tranh biện ồn ào, công khai giúp người tham dự học cách buông bỏ lòng kiêu hãnh, giữ tâm bình thản và nhận diện rõ bản chất ảo tưởng của cái "Tôi". Bạn hãy hình dung thế này: hai nhà sư đang tranh biện nơi sân chùa nên được tự thấy như hai đám mây đang chuyển động của đất nước gió lửa đang rủ nhau gạn lọc Chánh pháp.
 

Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo trong video "The Art of Buddhist Debate" (Nghệ thuật Tranh biện Phật Giáo) trên YouTube kể lại rằng các tu viện Phật giáo Tây Tạng khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng bất cứ điều gì giáo viên nói, chứ không phải chấp nhận nó chỉ vì giáo viên nói vậy. Trong video dài 10:22 phút có phụ đề tiếng Anh, tiếng Việt (nút cc: rồi chọn phụ đề) Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo kể về thực hành tranh biện trong Phật giáo Tây Tạng. 

https://youtu.be/QIamQnti3as?si=hR8ytqKWZj9Rth5-

 
Nhìn lại, tôi nghĩ rằng mỗi người có một cách ứng biến khác nhau cho tự thích hợp với môi trường. Cũng y hệt như con chim thì bay, và con cá thì lội, mỗi người sẽ tùy theo hành nghiệp riêng sẽ tự biết cách bay như chim hay lội như cá cho phù hợp Chánh pháp. Thêm nữa, với người phải tự quán sát chính mình, biết cách tự sống như một hòn đảo hiển nhiên là không thấy có gì để tranh cãi.

Do vậy, một trong những niềm vui thầm lặng mà tôi tìm thấy trong nghề báo không đến từ lúc hoàn thành bài viết, mà lại hiển lộ ngay khi tôi tạm dừng bút, tạm dừng gõ giữa chừng. Trong khoảnh khắc dừng lại ấy, tôi tự hỏi: Liệu chi tiết này có chính xác không? Có điều gì mình đã hiểu sai chăng? Mình có đang quậy phá ai không? Chữ của mình có từ ái không? Và những câu hỏi tương tự.
 

Những khoảnh khắc chiêm nghiệm này chuyển hóa công việc viết báo thành một kiểu tu tập. Các chủ đề gây tranh cãi, những ý kiến ​​trái chiều và các cuộc thảo luận công khai trở thành cơ hội để tôi tự hỏi xem mình chánh niệm ra sao. Khi thấy cộng đồng mình hiểu sai một vấn đề, mình nên viết ra sự thực cách nào để "giải ảo" mà sẽ không ai tự ái hay bị tổn thương?

Và viết chính là hạnh phúc. Thực sự như thế. Hạnh phúc là sống với không một chữ trong tâm, nhưng khi cần phải viết thì vô lượng chữ hiện ra. Hạnh phúc là viết với lòng yêu thương không ngừng, trong khi cân nhắc từng chữ của sự thật và từ ái. Hạnh phúc là khi ngồi viết với trí tuệ vô sanh, y hệt như một ngọn nến đang tỏa ra ánh sáng bằng toàn thân tự cháy trong khi chưa lụi tàn, và không bận tâm tranh cãi với bóng tối cõi này. 

   

GHI CHÚ:

(1) Kinh MN 139: https://suttacentral.net/mn139/vi/minh_chau   

(2) Kinh SN 22.94: https://suttacentral.net/sn22.94/vi/minh_chau    

(3) The Purpose and Benefits of Debate: https://studybuddhism.com/en/tibetan-buddhism/about-buddhism/how-to-study-buddhism/the-purpose-and-benefits-of-debate  

 




Tuy nhiên cũng khó so sánh vụ Iran với Việt Nam vì quyền lợi của Mỹ ở hai khu vực rất khác biệt: Đông Nam Á là cơ bắp trong dây chuyền thương mại toàn cầu nhưng Trung Đông vẫn là mạch máu dầu hỏa cho kinh tế thế giới.
Ngày 22/6/1980 chuyến bay charter Wardair cất cánh từ Bangkok đã đưa trên 300 thuyền nhân Việt Nam qua định cư tại Canada.
Sự tàn phá từ các trận cháy rừng tại Úc được báo cáo là đã diệt sạch một tỉ thú vật, dẫn đến điều mà một nhà khoa học mô tả là một “cuộc khủng hoảng diệt chủng.”
Thủ Tướng Iraq yêu cầu bộ ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu làm việc để rút quân đội Mỹ ra khỏi Iraq, theo văn phòng của ông thủ tướng cho biết hôm 10 tháng 1, nêu dấu hiệu về sự kiên quyết chấm dứt sự hiện diện quân đội Hoa Kỳ bất luận các thay đổi gần đây để giảm căng thẳng giữa Iran và Hoa Kỳ.
Tuyển tập nhắm vào giới độc giả trẻ, là thế hệ đoàn sinh và huynh trưởng GĐPT sanh ra và lớn lên tại hải ngoại, hầu nâng cao nhận thức và hành động trước thiên tai ngày càng nặng nề do những hành vi tiêu cực của con người gây ra.
Ra Mắt 6 cuốn sách, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 6 sẽ tổ chức tại Chùa Phổ Từ, 17327 Meekland Ave, Hayward, CA 945411, từ 1:30-6:00 chiều, Thứ Bảy, ngày 22 tháng 02, 2020.
Yêu cầu: Chấm dứt ngay việc dùng lực lượng vũ trang (quân đội, công an, các lực lượng khác) dùng bạo lực dưới mọi hình thức trong việc giải quyết vấn đề đất đai với nhân dân Đồng Tâm cũng như với nhân dân tất cả các địa phương ở Việt Nam
Bà Trần Thị Nga là nhà đấu tranh trong nước được phóng thích sang Hoa Kỳ hôm 10 tháng 1 trong lúc đang ngồi tù 9 năm vì tội “tuyên truyền chống nhà nước,” theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho hay hôm Thứ Sáu.
Vụ xung đột giữa người dân Đồng Tâm và chính quyền CSVN tiếp tục sôi động khi có tin mới nhất hôm 10 tháng 1 cho biết người thủ lãnh tinh thần của dân Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình đã chết trong vụ đối đầu với công an hôm 9 tháng 1, theo bản tin cập nhật của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho hay hôm 10 tháng 1.
Đã phải theo kinh tế thị trường, nay lại phải tham gia khối tự do mậu dịch, nhà cầm quyền ở Hà nội không thể làm gì khác hơn là tham gia các Công ước quốc tế về lao động. Để có thể tham gia, Hà nội đã sửa đổi Luật Lao động cho phù hợp với luật pháp của thế giới tự do.
Giải thi Hoa Hậu Áo Dài California năm 2020 diễn ra vào chiều Thứ Bảy 4 tháng 1 năm 2020 tại rạp hát Santa Clara Convention Center gồm 14 thí sinh
trong khóa học Lãnh đạo Phục vụ VII do Huynh trưởng Nghĩa Sinh hướng dẫn tại Trung tâm Mục vụ Saigon - Vào lúc 8 giờ sáng ngày 4/1/2020
Thể theo lời yêu cầu của một số thí sinh hiếu học, Ban Tổ Chức đã đồng ý nới rộng hạn tuổi của thí sinh như sau
Sự xung đột vũ trang giữa Mỹ và Iran tại Trung Đông là một trong những thách thức cho Hội Đồng Bảo An LHQ. Viêt Nam trong tư thế Ủy viên không thường trực của HĐBA/LHQ cũng phải tham gia xử lý xung đột này.
Hoa Kỳ đang cố gắng bắt kịp Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường Khổng Lồ (BRI) của Trung Quốc với một dự án mới mà một chuyên gia cho biết sẽ là một di sản của chính quyền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.