Hôm nay,  

Lời khuyên đừng tranh cãi

03/10/202620:03:00(Xem: 710)
blank

Lời khuyên đừng tranh cãi

Nguyên Giác
 

Tôi từng được Thầy bổn sư dạy rằng, "Con đừng nên tranh cãi." Thế rồi nhiều năm sau, tôi bước vào nghề báo. Và thế rồi, tôi tự nhận thấy, từng dòng chữ mình viết xuống, từ trong thời chưa có máy vi tính, và từng chữ gõ xuống bàn phím từ khi có vi tính, là đi giữa những trận đồ tranh cãi. Thí dụ, chữ "máy vi tính" tôi vừa gõ hiển nhiên là một lựa chọn, và những lý luận, rằng tại sao không gõ chữ "máy điện toán" và rằng chữ này hay chữ kia là mang theo cả một khung trời giáo dục. Hay lựa chọn giữa chữ "tàu sân bay" và "hàng không mẫu hạm" và rất nhiều nữa.

Tại sao không nên tranh cãi? Về sau, tôi đọc phần Chánh ngữ, chỉ thấy nói rằng hãy từ bỏ nói dối, từ bỏ nói kiểu kích động hai đầu, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tức là phải nói sự thật, nói dịu dàng, nói xây dựng, không nói chuyện vô ích. Thế rồi tôi tập quen tới mức lòng mình tịch lặng, nhiều ngày không thấy chữ nào hiện lên trong tâm (bất kể mình sắp phải gõ vài ngàn chữ cho tờ báo buổi chiều), và rồi không còn bận tâm chữ này hay chữ kia nữa ngay cả khi theo dõi các cuộc tranh luận ở cõi thế gian (nhiều vô số kể, hễ mở TV là thấy rồi) hay các biện luận về pháp xuất thế gian (tôi vẫn theo dõi các nhà sư Mỹ, Úc, Anh... thảo luận trên mạng).

Tôi nghiệm ra rằng lời khuyên "chớ nên tranh cãi" có một sức mạnh huyền bí. Bởi vì, tranh cãi là trận chiến của chữ, của ý nghĩa, của lựa chọn, của một mặt trận trong tâm từng người, trước khi trở thành một cuộc chiến trên trang báo giấy hay trên màn hình TV. Nghĩa là, một cách tự nhiên, chữ sẽ biến mất trong tâm của bạn, cho dù bạn vẫn duy trì khả năng viết cả ngàn chữ mỗi ngày.  Khi bạn dứt bặt tranh cãi trong tâm là bạn sẽ thấy tịch lặng ngay cả khi ngồi giữa chợ.

Thêm nữa, tôi suy đoán rằng lời khuyên đừng tranh cãi hẳn là chớ nên giữ kiểu suy nghĩ "mình đúng, còn họ thì sai" -- kiểu suy nghĩ như thế dễ nảy sinh lòng kiêu hãnh và gây chia rẽ. Xin nói rõ, trong cộng đồng, tôi là một kẻ ba phải, nghe ai nói gì thì mình cũng im lặng; đôi khi về nhà, liền tìm bản tin xác thật để dịch ra cho đồng bào đọc, và tự nhủ, "Hơi đâu cãi nhau, mình chỉ cần dịch bản tin này là đủ để nêu lên sự thật."
 

Trong Kinh MN 139, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp." (1)
 

Nghĩa là, phải có trình độ để biết tán thán cách sống nào của thân, khẩu, ý phù hợp với Chánh pháp, và cần biết chỉ trích nếu cách sống nào không phù hợp. Sau đó thì không cần bận tâm chuyện tán thán với chỉ trích, mà hãy tùy duyên thuyết pháp. Bất kể ai nói rằng mình không đủ kiến thức để tranh biện, hay là có cãi cũng thua. 

Thêm nữa, đối với người thường trực sống với niệm vô thường, chuyện tranh cãi như dường là xa xỉ. Vì không chắc gì mình còn sống để nói dứt một câu nói. Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 6, có một tích truyện về tranh cãi. Lúc đó, trong thời gian an cư tại tu viện Jetavana ở Savatthi, Đức Phật đã thuyết giảng Kệ số 6 của Pháp Cú, liên quan đến các vị tỳ-kheo ở Kosambi.

Các tỳ-kheo tại Kosambi đã chia thành hai nhóm: một nhóm theo vị thầy thông thạo Luật tạng (Vinaya) và nhóm kia theo vị thầy thông thạo Giáo pháp (Dhamma); họ thường xuyên tranh cãi lẫn nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi; vì vậy, Ngài đã rời bỏ họ và trải qua mùa an cư kiết hạ một mình tại rừng Rakkhita, gần khu rừng Palileyyaka. Tại đó, con voi Palileyya đã hầu cận Đức Phật.

Các cư sĩ tại Kosambi, khi biết lý do Đức Phật rời đi, đã từ chối cúng dường cho các vị tỳ-kheo còn lại. Điều này khiến họ nhận ra sai lầm của mình và đi đến hòa giải với nhau. Tuy nhiên, các cư sĩ vẫn không còn đối đãi với họ đầy tôn kính như trước nữa, cho đến khi họ khai nhận lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng lúc đó Đức Phật đang ở xa và đang giữa mùa an cư, nên các tỳ-kheo Kosambi đã phải trải qua mùa an cư trong sự khổ sở và gian nan.

Khi mùa an cư kết thúc, Tôn giả Ananda cùng năm trăm vị tỳ-kheo đã đến gặp Đức Phật và chuyển lời thỉnh cầu từ ông Anathapindika cùng các cư sĩ khác, mong Ngài trở về. Sau đó, Đức Phật đã trở lại tu viện Jetavana ở Savatthi. Các tỳ-kheo đi theo Ngài về đó, đảnh lễ dưới chân Ngài và thú nhận lỗi lầm. Đức Phật quở trách họ vì đã không vâng lời Ngài. Ngài nhắc nhở họ rằng ai rồi cũng sẽ phải chết, do đó họ cần chấm dứt tranh cãi và không được hành xử như thể mình sẽ bất tử.

Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kệ Pháp Cú 6 như sau: Những người không có trí tuệ thường không nhận thức được rằng trong thế gian này rồi ai cũng sẽ phải chết (và vì không nhận thức được điều đó, họ cứ tiếp tục tranh cãi). Người có trí tuệ thì nhận thức được điều này, và nhờ đó, những tranh cãi của họ được chấm dứt.

 
Như thế, hễ ai sống được với vô thường, họ sẽ không bận tâm tranh cãi nữa. Thế nào là sống với vô thường. Nếu bạn nhớ, trong các bản kinh về vô thường, câu đầu tiên Đức Phật thường hỏi là, "mắt có vô thường không?" Do vậy, chúng ta có thể niệm vô thường bắt đầu bằng tất cả những cái đang chuyển biến vô thường quanh mình: những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường (nhóm này gọi là sắc, hay là form). Và tất cả những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường, do vậy vô ngã, do vậy vô tự tánh. Chỉ cần sống với kinh nghiệm này thôi, không cần tranh cãi gì hết.

Tương tự, trong Kinh SN 22.94, Đức Phật nói rằng: "...Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời... Sắc, này các Tỳ-khưu, là pháp thế gian. Pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, vẫn không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy." (Tương tự với Thọ, Tưởng, Hành, Thức) (2)
 

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta nhận thấy rất nhiều vị sư dựa vào kỹ năng tranh biện trong khi hoằng pháp. Phật giáo Tây Tạng đã lấy tranh biện làm công cụ, như một phương tiện trong khi hoằng pháp. Tranh luận trở thành một môn học tại các tu viện Phật giáo Tây Tạng. Bạn dễ dàng tìm thấy những cuộc tranh luận này trên các băng hình YouTube. Tranh luận trong các tu viện Tây Tạng không phải để cãi nhau hơn thua. Mục tiêu là giúp nhau đưa ra các lý luận sắc bén, bạn học đồng môn sẽ giúp nhau bộc lộ những lỗ hổng, sự mơ hồ hoặc hiểu sai về các khái niệm sâu xa như Tánh Không hay Vô Thường.


 

Nơi đây, chúng ta sẽ dịch sơ lược bài "The Purpose and Benefits of Debate" (Mục đích và lợi ích của việc tranh biện) của Đại sư Tsenshap Serkong Rinpoche II:

"Trong Phật giáo, tranh biện không nhằm mục đích đánh bại người khác bằng những lý lẽ khôn khéo. Mục đích của nó là giúp người học củng cố sự hiểu biết của mình, để họ không còn hoài nghi khi thực hành thiền định. Trong lớp học, mỗi học viên sẽ thách thức bạn học bảo vệ quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi và chỉ ra những điểm bất hợp lý trong câu trả lời của đối phương. Kết quả là cả hai bên đều cùng tiến bộ.

Một trong những mục đích chính của việc tranh biện trong quá trình tu học Phật giáo là giúp bạn phát triển nhận thức kiên định. Bạn đưa ra một quan điểm và người bạn tranh biện sẽ thách thức quan điểm đó từ nhiều góc độ khác nhau. Nếu bạn có thể bảo vệ quan điểm của mình trước mọi sự phản bác, đồng thời nhận thấy nó không có điểm bất hợp lý hay mâu thuẫn nào về mặt logic, bạn có thể tập trung vào quan điểm hoặc cách nhìn đó với một nhận thức hoàn toàn kiên định, không gì lay chuyển nổi. Trạng thái tâm trí này còn được gọi là niềm tin vững chắc. Bạn cần có nhận thức xác tín và niềm tin vững chắc này khi thực hành thiền định chuyên chú vào bất kỳ đề tài nào, chẳng hạn như tính vô thường, sự bình đẳng giữa bản thân và người khác, coi người khác quý giá hơn bản thân, tâm Bồ-đề, tính Không, v.v. Nếu tự mình phát triển nhận thức xác tín đó—ví dụ như thông qua thiền quán (thiền phân tích) hoặc chỉ suy ngẫm về Giáo pháp—bạn sẽ không bao giờ có thể tự đặt ra nhiều câu hỏi phản biện cho sự hiểu biết của mình như khi tranh biện cùng nhiều bạn học am hiểu. Người khác có thể dễ dàng nhận ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót trong lập luận của bạn hơn chính bản thân bạn.

Hơn nữa, tranh biện tạo ra môi trường thuận lợi hơn thiền định để người mới bắt đầu rèn luyện khả năng tập trung. Những thách thức từ bạn tranh biện và sự hiện diện của các bạn học đang lắng nghe buộc bạn phải tập trung cao độ. Khi thiền định một mình, chỉ có ý chí mới giúp bạn ngăn tâm trí xao nhãng hoặc tránh bị buồn ngủ. Ngoài ra, tại các sân tranh biện trong tu viện, nhiều cuộc tranh biện thường diễn ra đồng thời với âm thanh rất lớn. Điều này cũng buộc bạn phải tập trung. Nếu những cuộc tranh biện xung quanh làm bạn xao nhãng hoặc gây khó chịu, coi như bạn đã thất bại. Một khi đã rèn luyện được kỹ năng tập trung trên sân tranh biện, bạn có thể áp dụng nó vào việc thiền định, ngay cả khi thiền ở những nơi ồn ào.

Thêm vào đó, tranh biện còn giúp phát triển nhân cách của bạn. Bạn không thể vừa giữ thái độ rụt rè, e ngại mà vẫn tham gia tranh biện được. Bạn cần lên tiếng khi đối thủ đưa ra thách thức. Ngược lại, nếu tỏ ra kiêu ngạo hay nổi nóng, tâm trí bạn sẽ trở nên thiếu sáng suốt và chắc chắn bạn sẽ bị đối phương đánh bại. Bạn cần luôn giữ được sự cân bằng về mặt cảm xúc. Dù thắng hay thua, cuộc tranh biện vẫn mang lại cơ hội tuyệt vời để nhận diện cái "Tôi" cần phải bị bác bỏ. Khi bạn nghĩ hoặc cảm thấy "Mình đã thắng; mình thật thông minh" hay "Mình đã thua; mình thật ngu ngốc", bạn có thể nhận diện rõ ràng sự phóng chiếu của một cái "Tôi" kiên cố, đầy tự mãn mà bạn đang đồng nhất mình với nó. Đây chính là cái "Tôi" hoàn toàn hư ảo và cần phải bị bác bỏ.

Ngay cả khi chứng minh được rằng quan điểm của đối phương là phi lý, bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không có nghĩa là bạn thông minh hơn còn họ thì ngu ngốc. Động cơ của bạn phải luôn là giúp đối phương phát triển sự hiểu biết sáng suốt và niềm tin vững chắc vào những điều có thể được chứng minh bằng lý luận." (3)
 

Như thế, mục đích của tranh biện là để thiết lập chánh kiến trước khi hành thiền, trong lộ trình (Văn-Tư-Tu), một phương pháp diệt trừ chấp ngã (giữa người hỏi và người đáp không có chuyện cãi thắng, cãi thua, chỉ là để học Phật thôi; không có chuyện kiêu hãnh khi cãi đúng Chánh pháp hay mắc cỡ khi nói chệch Chánh pháp). Việc đối diện trực tiếp với sự yếu kém của bản thân trong môi trường tranh biện ồn ào, công khai giúp người tham dự học cách buông bỏ lòng kiêu hãnh, giữ tâm bình thản và nhận diện rõ bản chất ảo tưởng của cái "Tôi". Bạn hãy hình dung thế này: hai nhà sư đang tranh biện nơi sân chùa nên được tự thấy như hai đám mây đang chuyển động của đất nước gió lửa đang rủ nhau gạn lọc Chánh pháp.
 

Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo trong video "The Art of Buddhist Debate" (Nghệ thuật Tranh biện Phật Giáo) trên YouTube kể lại rằng các tu viện Phật giáo Tây Tạng khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng bất cứ điều gì giáo viên nói, chứ không phải chấp nhận nó chỉ vì giáo viên nói vậy. Trong video dài 10:22 phút có phụ đề tiếng Anh, tiếng Việt (nút cc: rồi chọn phụ đề) Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo kể về thực hành tranh biện trong Phật giáo Tây Tạng. 

https://youtu.be/QIamQnti3as?si=hR8ytqKWZj9Rth5-

 
Nhìn lại, tôi nghĩ rằng mỗi người có một cách ứng biến khác nhau cho tự thích hợp với môi trường. Cũng y hệt như con chim thì bay, và con cá thì lội, mỗi người sẽ tùy theo hành nghiệp riêng sẽ tự biết cách bay như chim hay lội như cá cho phù hợp Chánh pháp. Thêm nữa, với người phải tự quán sát chính mình, biết cách tự sống như một hòn đảo hiển nhiên là không thấy có gì để tranh cãi.

Do vậy, một trong những niềm vui thầm lặng mà tôi tìm thấy trong nghề báo không đến từ lúc hoàn thành bài viết, mà lại hiển lộ ngay khi tôi tạm dừng bút, tạm dừng gõ giữa chừng. Trong khoảnh khắc dừng lại ấy, tôi tự hỏi: Liệu chi tiết này có chính xác không? Có điều gì mình đã hiểu sai chăng? Mình có đang quậy phá ai không? Chữ của mình có từ ái không? Và những câu hỏi tương tự.
 

Những khoảnh khắc chiêm nghiệm này chuyển hóa công việc viết báo thành một kiểu tu tập. Các chủ đề gây tranh cãi, những ý kiến ​​trái chiều và các cuộc thảo luận công khai trở thành cơ hội để tôi tự hỏi xem mình chánh niệm ra sao. Khi thấy cộng đồng mình hiểu sai một vấn đề, mình nên viết ra sự thực cách nào để "giải ảo" mà sẽ không ai tự ái hay bị tổn thương?

Và viết chính là hạnh phúc. Thực sự như thế. Hạnh phúc là sống với không một chữ trong tâm, nhưng khi cần phải viết thì vô lượng chữ hiện ra. Hạnh phúc là viết với lòng yêu thương không ngừng, trong khi cân nhắc từng chữ của sự thật và từ ái. Hạnh phúc là khi ngồi viết với trí tuệ vô sanh, y hệt như một ngọn nến đang tỏa ra ánh sáng bằng toàn thân tự cháy trong khi chưa lụi tàn, và không bận tâm tranh cãi với bóng tối cõi này. 

   

GHI CHÚ:

(1) Kinh MN 139: https://suttacentral.net/mn139/vi/minh_chau   

(2) Kinh SN 22.94: https://suttacentral.net/sn22.94/vi/minh_chau    

(3) The Purpose and Benefits of Debate: https://studybuddhism.com/en/tibetan-buddhism/about-buddhism/how-to-study-buddhism/the-purpose-and-benefits-of-debate  

 




Cách đây khoảng hơn 13 năm có một vụ án tù chung thân được ban bố cho một nữ tù nhân người Việt Nam đầu tiên duy nhất tên là Lê Thị Vân trên toàn quốc Hoa Kỳ tại tiểu bang Oklahoma, mà tác giả may mắn được mắt thấy tai nghe từ đầu câu chuyện xảy ra cho tới khi nội vụ được xét xử tại tòa án và vị Quan Tòa chủ tọa phiên tòa đã phán quyết một án phạt chung thân quá cay nghiệt cho bị cáo phải sống trong tù cho tới khi chết (Lifetime Sentence without Parole).
Hoa Kỳ và Nam Hàn sẽ bắt đầu cuộc tập trận quân sự chung Double Dragon vào thứ Hai, theo lực lượng Hải quân và Thủy quân Lục chiến Nam Hàn cho biết vào Chủ Nhật. Các cuộc tập trận quy mô lớn này sẽ kéo dài đến ngày 7 tháng 9 và bao gồm nhiều máy bay tác chiến và khoảng 40 tàu chiến, theo tuyên bố của Yonhap.
Ứng cử viên tổng thống độc lập Robert F. Kennedy Jr. đã tuyên bố vào thứ sáu rằng ông sẽ tạm dừng chiến dịch tranh cử tổng thống của mình tại mười "tiểu bang chiến trường" nơi sự hiện diện của ông "sẽ là một sự phá hỏng" đối với ứng cử viên tổng thống đảng Cộng hòa Donald Trump và ứng cử viên đảng Dân chủ Kamala Harris.
Tôi đã đọc bản thảo “Dòng Đời” khá là chậm. Đôi khi tôi đọc lại môt số đoạn, một số trang. Khi đọc lại toàn văn bản thảo lần thứ nhì, tôi lấy giấy ra ghi chú về các nhân vật, các mốc thời gian, những chuyển biến khi các nhân vật dời đổi từ bên dòng sông này qua thị trấn miền núi kia. Tất cả như một cuốn phim về một quê nhà đang tìm hướng đi trong thời kỳ hậu thực dân Pháp, nơi lối rẽ của tranh chấp để con sông trở thành đôi bờ và rồi người lái đò (trong tiểu thuyết này là người có tên là ông Ba Đò) trở thành người hai mặt, bị buộc cung cấp tin cho cả hai lực lượng thuộc hai ý thức hệ khác nhau.
Thông cáo báo chí ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Los Angeles, Hiệp Hội Phát Huy Công Lý Người Mỹ gốc Á Nam California (AJSOCAL) giới thiệu Tài nguyên Thông tin qua trang mạng điện tử bao gồm những thông tin quan trọng và dịch vụ trợ giúp của AJSOCAL mà những người di cư rất cần khi họ vừa đến Hoa Kỳ. Trang mạng cũng kết nối những nguồn thông của Tiểu bang, Liên bang và những nguồn thông tin cần thiết khác. Trang thông tin điện tử hiện tại cũng được dịch sang năm ngôn ngữ bao gồm Anh, Hoa, Ấn, Hàn và Việt Ngữ
T&T Supermarket Inc., nhà bán lẻ đồ tạp hóa Châu Á được ưa chuộng nhất tại Canada, thông báo sẽ khai trương cửa hàng đầu tiên tại California ở Trung Tâm Westgate, 1600 Saratoga Ave, San Jose, vào mùa thu năm 2025. Với hai cửa hàng đang được xây dựng tại Washington, đây là thông báo mở cửa hàng thứ ba của T&T tại Hoa Kỳ.
Đã có một kế hoạch cho các cuộc trục xuất hàng loạt. Ông Trump đã làm việc chặt chẽ với Stephen Miller, người cố vấn đã tạo ra các chính sách và luật lệ chống di dân của ông Trump. Miller cho biết nếu đảng Cộng hòa vào lại Nhà Trắng vào năm 2025, họ sẽ có hai mục tiêu: "Đóng cửa biên giới. Trục xuất tất cả những người bất hợp pháp".
Cấy ghép điện tử để khôi phục thị giác cho người mù là một công nghệ đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Công nghệ này hoạt động bằng cách kích thích trung tâm thị giác của não qua các xung điện, tạo ra cảm giác nhìn ngay cả khi mắt không còn khả năng hoạt động. Tuy nhiên, các cấy ghép hiện tại, chủ yếu làm từ silic với kích thước lớn, thường gây ra mô sẹo trong não và bị ăn mòn theo thời gian, làm giảm hiệu quả và tuổi thọ của chúng.
Đám cháy Park Fire ở California đã tạo ra ít nhất một cơn lốc xoáy lửa, còn được gọi là lốc lửa, xoáy lửa hoặc vòi rồng lửa. Nhưng lốc xoáy lửa là gì, và có thực sự đáng sợ như cái tên không? Cháy rừng không chỉ là những đám cháy hung hiểm lan rộng ra xung quanh, mà còn có thể tự tạo ra cả một hệ thống thời tiết riêng biệt, gọi là “fire weather system” (xin tạm dịch là “hệ thống thời tiết của đám cháy,” có gió, mây, bão…). Trong hệ thống này, một loại mây đặc biệt được hình thành gọi là “pyrocumulonimbus”
Theo bản tin AP tuần qua, giới chức trách cho biết không ai có quyền đến gần câu các chai rượu nằm trong khu vực đắm thuyền có chứa gần 100 chai rượu champaign từ thế kỷ 19 ngoài khơi tây nam Thụy Điển mà không có giấy phép.
HOA KỲ – Hôm thứ Năm (22/8), trước tình hình số ca nhiễm COVID-19 tăng liên tục, Cơ quan Kiểm soát Thực-Dược phẩm (FDA) đã cho phép sử dụng các loại thuốc ngừa (vaccine) mới của Pfizer và Moderna để chủng ngừa cho mọi người, theo Huffpost.
WASHINGTON – Hôm thứ Sáu (23/8), NASA cho biết đang cân nhắc xem có cần chờ phi thuyền của SpaceX đưa hai phi hành gia đang bị kẹt ở Trạm Không gian Quốc tế (International Space Station – ISS), trên phi thuyền Starliner của Boeing, trở về Trái Đất hay không; quyết định sẽ được công bố sớm nhất vào thứ Bảy, theo Reuters.
Đến năm 2030, ước tính hơn 10.8 triệu người California (một phần tư dân số của tiểu bang) sẽ ở độ tuổi trên 60. California hiện đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt tới 3.2 triệu người chăm sóc.
Nói sơ tâm, là nói về tâm của người mới học, tâm đơn sơ, tâm như hài nhi trẻ nhỏ, tâm rất mực hồn nhiên, chưa có chút gì là chữ nghĩa dày đặc, không chút gì là kiến thức uyên bác. Ngắn gọn, tận cùng của người sống với “sơ tâm” là sống với “tâm không biết,” bởi vì, hễ “có biết” là có quá khứ, có mài giũa, có lộ trình nhân quả, không còn là tâm nguyên sơ, tâm bản nhiên. Cốt tủy Thiền Tông là sống với sơ tâm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.