Hôm nay,  

Lời khuyên đừng tranh cãi

03/10/202620:03:00(Xem: 1060)
blank

Lời khuyên đừng tranh cãi

Nguyên Giác
 

Tôi từng được Thầy bổn sư dạy rằng, "Con đừng nên tranh cãi." Thế rồi nhiều năm sau, tôi bước vào nghề báo. Và thế rồi, tôi tự nhận thấy, từng dòng chữ mình viết xuống, từ trong thời chưa có máy vi tính, và từng chữ gõ xuống bàn phím từ khi có vi tính, là đi giữa những trận đồ tranh cãi. Thí dụ, chữ "máy vi tính" tôi vừa gõ hiển nhiên là một lựa chọn, và những lý luận, rằng tại sao không gõ chữ "máy điện toán" và rằng chữ này hay chữ kia là mang theo cả một khung trời giáo dục. Hay lựa chọn giữa chữ "tàu sân bay" và "hàng không mẫu hạm" và rất nhiều nữa.

Tại sao không nên tranh cãi? Về sau, tôi đọc phần Chánh ngữ, chỉ thấy nói rằng hãy từ bỏ nói dối, từ bỏ nói kiểu kích động hai đầu, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tức là phải nói sự thật, nói dịu dàng, nói xây dựng, không nói chuyện vô ích. Thế rồi tôi tập quen tới mức lòng mình tịch lặng, nhiều ngày không thấy chữ nào hiện lên trong tâm (bất kể mình sắp phải gõ vài ngàn chữ cho tờ báo buổi chiều), và rồi không còn bận tâm chữ này hay chữ kia nữa ngay cả khi theo dõi các cuộc tranh luận ở cõi thế gian (nhiều vô số kể, hễ mở TV là thấy rồi) hay các biện luận về pháp xuất thế gian (tôi vẫn theo dõi các nhà sư Mỹ, Úc, Anh... thảo luận trên mạng).

Tôi nghiệm ra rằng lời khuyên "chớ nên tranh cãi" có một sức mạnh huyền bí. Bởi vì, tranh cãi là trận chiến của chữ, của ý nghĩa, của lựa chọn, của một mặt trận trong tâm từng người, trước khi trở thành một cuộc chiến trên trang báo giấy hay trên màn hình TV. Nghĩa là, một cách tự nhiên, chữ sẽ biến mất trong tâm của bạn, cho dù bạn vẫn duy trì khả năng viết cả ngàn chữ mỗi ngày.  Khi bạn dứt bặt tranh cãi trong tâm là bạn sẽ thấy tịch lặng ngay cả khi ngồi giữa chợ.

Thêm nữa, tôi suy đoán rằng lời khuyên đừng tranh cãi hẳn là chớ nên giữ kiểu suy nghĩ "mình đúng, còn họ thì sai" -- kiểu suy nghĩ như thế dễ nảy sinh lòng kiêu hãnh và gây chia rẽ. Xin nói rõ, trong cộng đồng, tôi là một kẻ ba phải, nghe ai nói gì thì mình cũng im lặng; đôi khi về nhà, liền tìm bản tin xác thật để dịch ra cho đồng bào đọc, và tự nhủ, "Hơi đâu cãi nhau, mình chỉ cần dịch bản tin này là đủ để nêu lên sự thật."
 

Trong Kinh MN 139, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp." (1)
 

Nghĩa là, phải có trình độ để biết tán thán cách sống nào của thân, khẩu, ý phù hợp với Chánh pháp, và cần biết chỉ trích nếu cách sống nào không phù hợp. Sau đó thì không cần bận tâm chuyện tán thán với chỉ trích, mà hãy tùy duyên thuyết pháp. Bất kể ai nói rằng mình không đủ kiến thức để tranh biện, hay là có cãi cũng thua. 

Thêm nữa, đối với người thường trực sống với niệm vô thường, chuyện tranh cãi như dường là xa xỉ. Vì không chắc gì mình còn sống để nói dứt một câu nói. Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 6, có một tích truyện về tranh cãi. Lúc đó, trong thời gian an cư tại tu viện Jetavana ở Savatthi, Đức Phật đã thuyết giảng Kệ số 6 của Pháp Cú, liên quan đến các vị tỳ-kheo ở Kosambi.

Các tỳ-kheo tại Kosambi đã chia thành hai nhóm: một nhóm theo vị thầy thông thạo Luật tạng (Vinaya) và nhóm kia theo vị thầy thông thạo Giáo pháp (Dhamma); họ thường xuyên tranh cãi lẫn nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi; vì vậy, Ngài đã rời bỏ họ và trải qua mùa an cư kiết hạ một mình tại rừng Rakkhita, gần khu rừng Palileyyaka. Tại đó, con voi Palileyya đã hầu cận Đức Phật.

Các cư sĩ tại Kosambi, khi biết lý do Đức Phật rời đi, đã từ chối cúng dường cho các vị tỳ-kheo còn lại. Điều này khiến họ nhận ra sai lầm của mình và đi đến hòa giải với nhau. Tuy nhiên, các cư sĩ vẫn không còn đối đãi với họ đầy tôn kính như trước nữa, cho đến khi họ khai nhận lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng lúc đó Đức Phật đang ở xa và đang giữa mùa an cư, nên các tỳ-kheo Kosambi đã phải trải qua mùa an cư trong sự khổ sở và gian nan.

Khi mùa an cư kết thúc, Tôn giả Ananda cùng năm trăm vị tỳ-kheo đã đến gặp Đức Phật và chuyển lời thỉnh cầu từ ông Anathapindika cùng các cư sĩ khác, mong Ngài trở về. Sau đó, Đức Phật đã trở lại tu viện Jetavana ở Savatthi. Các tỳ-kheo đi theo Ngài về đó, đảnh lễ dưới chân Ngài và thú nhận lỗi lầm. Đức Phật quở trách họ vì đã không vâng lời Ngài. Ngài nhắc nhở họ rằng ai rồi cũng sẽ phải chết, do đó họ cần chấm dứt tranh cãi và không được hành xử như thể mình sẽ bất tử.

Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kệ Pháp Cú 6 như sau: Những người không có trí tuệ thường không nhận thức được rằng trong thế gian này rồi ai cũng sẽ phải chết (và vì không nhận thức được điều đó, họ cứ tiếp tục tranh cãi). Người có trí tuệ thì nhận thức được điều này, và nhờ đó, những tranh cãi của họ được chấm dứt.

 
Như thế, hễ ai sống được với vô thường, họ sẽ không bận tâm tranh cãi nữa. Thế nào là sống với vô thường. Nếu bạn nhớ, trong các bản kinh về vô thường, câu đầu tiên Đức Phật thường hỏi là, "mắt có vô thường không?" Do vậy, chúng ta có thể niệm vô thường bắt đầu bằng tất cả những cái đang chuyển biến vô thường quanh mình: những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường (nhóm này gọi là sắc, hay là form). Và tất cả những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường, do vậy vô ngã, do vậy vô tự tánh. Chỉ cần sống với kinh nghiệm này thôi, không cần tranh cãi gì hết.

Tương tự, trong Kinh SN 22.94, Đức Phật nói rằng: "...Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời... Sắc, này các Tỳ-khưu, là pháp thế gian. Pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, vẫn không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy." (Tương tự với Thọ, Tưởng, Hành, Thức) (2)
 

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta nhận thấy rất nhiều vị sư dựa vào kỹ năng tranh biện trong khi hoằng pháp. Phật giáo Tây Tạng đã lấy tranh biện làm công cụ, như một phương tiện trong khi hoằng pháp. Tranh luận trở thành một môn học tại các tu viện Phật giáo Tây Tạng. Bạn dễ dàng tìm thấy những cuộc tranh luận này trên các băng hình YouTube. Tranh luận trong các tu viện Tây Tạng không phải để cãi nhau hơn thua. Mục tiêu là giúp nhau đưa ra các lý luận sắc bén, bạn học đồng môn sẽ giúp nhau bộc lộ những lỗ hổng, sự mơ hồ hoặc hiểu sai về các khái niệm sâu xa như Tánh Không hay Vô Thường.


 

Nơi đây, chúng ta sẽ dịch sơ lược bài "The Purpose and Benefits of Debate" (Mục đích và lợi ích của việc tranh biện) của Đại sư Tsenshap Serkong Rinpoche II:

"Trong Phật giáo, tranh biện không nhằm mục đích đánh bại người khác bằng những lý lẽ khôn khéo. Mục đích của nó là giúp người học củng cố sự hiểu biết của mình, để họ không còn hoài nghi khi thực hành thiền định. Trong lớp học, mỗi học viên sẽ thách thức bạn học bảo vệ quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi và chỉ ra những điểm bất hợp lý trong câu trả lời của đối phương. Kết quả là cả hai bên đều cùng tiến bộ.

Một trong những mục đích chính của việc tranh biện trong quá trình tu học Phật giáo là giúp bạn phát triển nhận thức kiên định. Bạn đưa ra một quan điểm và người bạn tranh biện sẽ thách thức quan điểm đó từ nhiều góc độ khác nhau. Nếu bạn có thể bảo vệ quan điểm của mình trước mọi sự phản bác, đồng thời nhận thấy nó không có điểm bất hợp lý hay mâu thuẫn nào về mặt logic, bạn có thể tập trung vào quan điểm hoặc cách nhìn đó với một nhận thức hoàn toàn kiên định, không gì lay chuyển nổi. Trạng thái tâm trí này còn được gọi là niềm tin vững chắc. Bạn cần có nhận thức xác tín và niềm tin vững chắc này khi thực hành thiền định chuyên chú vào bất kỳ đề tài nào, chẳng hạn như tính vô thường, sự bình đẳng giữa bản thân và người khác, coi người khác quý giá hơn bản thân, tâm Bồ-đề, tính Không, v.v. Nếu tự mình phát triển nhận thức xác tín đó—ví dụ như thông qua thiền quán (thiền phân tích) hoặc chỉ suy ngẫm về Giáo pháp—bạn sẽ không bao giờ có thể tự đặt ra nhiều câu hỏi phản biện cho sự hiểu biết của mình như khi tranh biện cùng nhiều bạn học am hiểu. Người khác có thể dễ dàng nhận ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót trong lập luận của bạn hơn chính bản thân bạn.

Hơn nữa, tranh biện tạo ra môi trường thuận lợi hơn thiền định để người mới bắt đầu rèn luyện khả năng tập trung. Những thách thức từ bạn tranh biện và sự hiện diện của các bạn học đang lắng nghe buộc bạn phải tập trung cao độ. Khi thiền định một mình, chỉ có ý chí mới giúp bạn ngăn tâm trí xao nhãng hoặc tránh bị buồn ngủ. Ngoài ra, tại các sân tranh biện trong tu viện, nhiều cuộc tranh biện thường diễn ra đồng thời với âm thanh rất lớn. Điều này cũng buộc bạn phải tập trung. Nếu những cuộc tranh biện xung quanh làm bạn xao nhãng hoặc gây khó chịu, coi như bạn đã thất bại. Một khi đã rèn luyện được kỹ năng tập trung trên sân tranh biện, bạn có thể áp dụng nó vào việc thiền định, ngay cả khi thiền ở những nơi ồn ào.

Thêm vào đó, tranh biện còn giúp phát triển nhân cách của bạn. Bạn không thể vừa giữ thái độ rụt rè, e ngại mà vẫn tham gia tranh biện được. Bạn cần lên tiếng khi đối thủ đưa ra thách thức. Ngược lại, nếu tỏ ra kiêu ngạo hay nổi nóng, tâm trí bạn sẽ trở nên thiếu sáng suốt và chắc chắn bạn sẽ bị đối phương đánh bại. Bạn cần luôn giữ được sự cân bằng về mặt cảm xúc. Dù thắng hay thua, cuộc tranh biện vẫn mang lại cơ hội tuyệt vời để nhận diện cái "Tôi" cần phải bị bác bỏ. Khi bạn nghĩ hoặc cảm thấy "Mình đã thắng; mình thật thông minh" hay "Mình đã thua; mình thật ngu ngốc", bạn có thể nhận diện rõ ràng sự phóng chiếu của một cái "Tôi" kiên cố, đầy tự mãn mà bạn đang đồng nhất mình với nó. Đây chính là cái "Tôi" hoàn toàn hư ảo và cần phải bị bác bỏ.

Ngay cả khi chứng minh được rằng quan điểm của đối phương là phi lý, bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không có nghĩa là bạn thông minh hơn còn họ thì ngu ngốc. Động cơ của bạn phải luôn là giúp đối phương phát triển sự hiểu biết sáng suốt và niềm tin vững chắc vào những điều có thể được chứng minh bằng lý luận." (3)
 

Như thế, mục đích của tranh biện là để thiết lập chánh kiến trước khi hành thiền, trong lộ trình (Văn-Tư-Tu), một phương pháp diệt trừ chấp ngã (giữa người hỏi và người đáp không có chuyện cãi thắng, cãi thua, chỉ là để học Phật thôi; không có chuyện kiêu hãnh khi cãi đúng Chánh pháp hay mắc cỡ khi nói chệch Chánh pháp). Việc đối diện trực tiếp với sự yếu kém của bản thân trong môi trường tranh biện ồn ào, công khai giúp người tham dự học cách buông bỏ lòng kiêu hãnh, giữ tâm bình thản và nhận diện rõ bản chất ảo tưởng của cái "Tôi". Bạn hãy hình dung thế này: hai nhà sư đang tranh biện nơi sân chùa nên được tự thấy như hai đám mây đang chuyển động của đất nước gió lửa đang rủ nhau gạn lọc Chánh pháp.
 

Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo trong video "The Art of Buddhist Debate" (Nghệ thuật Tranh biện Phật Giáo) trên YouTube kể lại rằng các tu viện Phật giáo Tây Tạng khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng bất cứ điều gì giáo viên nói, chứ không phải chấp nhận nó chỉ vì giáo viên nói vậy. Trong video dài 10:22 phút có phụ đề tiếng Anh, tiếng Việt (nút cc: rồi chọn phụ đề) Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo kể về thực hành tranh biện trong Phật giáo Tây Tạng. 

https://youtu.be/QIamQnti3as?si=hR8ytqKWZj9Rth5-

 
Nhìn lại, tôi nghĩ rằng mỗi người có một cách ứng biến khác nhau cho tự thích hợp với môi trường. Cũng y hệt như con chim thì bay, và con cá thì lội, mỗi người sẽ tùy theo hành nghiệp riêng sẽ tự biết cách bay như chim hay lội như cá cho phù hợp Chánh pháp. Thêm nữa, với người phải tự quán sát chính mình, biết cách tự sống như một hòn đảo hiển nhiên là không thấy có gì để tranh cãi.

Do vậy, một trong những niềm vui thầm lặng mà tôi tìm thấy trong nghề báo không đến từ lúc hoàn thành bài viết, mà lại hiển lộ ngay khi tôi tạm dừng bút, tạm dừng gõ giữa chừng. Trong khoảnh khắc dừng lại ấy, tôi tự hỏi: Liệu chi tiết này có chính xác không? Có điều gì mình đã hiểu sai chăng? Mình có đang quậy phá ai không? Chữ của mình có từ ái không? Và những câu hỏi tương tự.
 

Những khoảnh khắc chiêm nghiệm này chuyển hóa công việc viết báo thành một kiểu tu tập. Các chủ đề gây tranh cãi, những ý kiến ​​trái chiều và các cuộc thảo luận công khai trở thành cơ hội để tôi tự hỏi xem mình chánh niệm ra sao. Khi thấy cộng đồng mình hiểu sai một vấn đề, mình nên viết ra sự thực cách nào để "giải ảo" mà sẽ không ai tự ái hay bị tổn thương?

Và viết chính là hạnh phúc. Thực sự như thế. Hạnh phúc là sống với không một chữ trong tâm, nhưng khi cần phải viết thì vô lượng chữ hiện ra. Hạnh phúc là viết với lòng yêu thương không ngừng, trong khi cân nhắc từng chữ của sự thật và từ ái. Hạnh phúc là khi ngồi viết với trí tuệ vô sanh, y hệt như một ngọn nến đang tỏa ra ánh sáng bằng toàn thân tự cháy trong khi chưa lụi tàn, và không bận tâm tranh cãi với bóng tối cõi này. 

   

GHI CHÚ:

(1) Kinh MN 139: https://suttacentral.net/mn139/vi/minh_chau   

(2) Kinh SN 22.94: https://suttacentral.net/sn22.94/vi/minh_chau    

(3) The Purpose and Benefits of Debate: https://studybuddhism.com/en/tibetan-buddhism/about-buddhism/how-to-study-buddhism/the-purpose-and-benefits-of-debate  

 




Sau hơn 40 năm đổi họ tên, bỏ xứ đi nơi khác để ẩn trốn, nhưng cuối cùng 2 người đàn ông, Châu Tuấn Khải và Trần Văn Phi, đã bị bắt vào ngày 22 và 23 tháng 6 năm 2021 vì tội danh tham gia các tổ chức phục quốc chống chế độ CSVN từ những năm 1978 và 1980, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Tư, 23 tháng 6.
Tại sao trong “toa tàu” vũ trụ đông chật cứng, đám hành khách phân tử, vi phân tử vẫn được tự do chạy tới chạy lui nhanh như chớp? Tìm tòi, suy nghĩ mãi mới thấy lời giải đáp. Nó nằm trong cái hình thể tuyệt hảo của các vi phân tử, phân tử. Hình thể chứa đựng “bí mật” của Tạo Hóa ấy không bị giấu ở chỗ kín đáo, khó tìm. Nó được rải khắp một phòng triển lãm lớn rộng bằng cả bầu trời. Nó là hình dạng của hầu hết các vì sao: Hình cầu.
AACI hôm nay thông báo rằng họ đã nhận được khoản tài trợ 20,000 đô la từ Bank of America để giúp tăng cường các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe quan trọng liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng COVID-19 đang ở mức thấp trong các cộng đồng nhập cư, có thu nhập thấp, bị ảnh hưởng nặng nề nhất của Quận Santa Clara.
Sau 1975 người Miền Bắc tràn vào Miền Nam rất đông và có rất nhiều điều không hiểu Miền Nam vì ngôn ngữ bất đồng. Sưu tầm một số danh từ khác biệt giữa hai miền giúp chúng ta hiểu nhau. Sự thống nhất về ngôn ngữ là điều vô cùng cần thiết cho một dân tộc.
Một con số kỷ lục 1,6 triệu người hiện đang ghi danh qua Covered California, bao gồm 139,000 người mới ghi danh vào chương trình bảo hiểm y tế phẩm chất cao này từ khi bảo phí thấp hơn được cung cấp bởi Kế Hoạch Cứu Trợ Hoa Kỳ. Covered California cũng đang tung ra một điều khoản cho phép hàng ngàn người California đủ điều kiện, những người đã nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp vào bất kỳ thời điểm nào vào năm 2021, nhận được bảo hiểm tốt nhất hiện có với giá thấp nhất là $1 mỗi tháng. Người tiêu dùng có thể sử dụng Covered California’s quick calculator (máy tính nhanh) để dễ dàng tìm hiểu xem họ có lợi từ điều khoản 1 đô la mới mỗi tháng này hay không. Thời hạn mới để ghi danh bảo hiểm là vào cuối tháng này. Người tiêu thụ ghi danh hạn chót ngày 30 tháng Sáu sẽ được bảo hiểm bắt đầu từ 1 tháng bảy.
Căn bản trước tiên, là tin nhân quả, nên mới sợ sinh tử. Sau nữa, Kinh Phật có nhiều pháp đối trị. Để rồi sau đó mới an vui với mười con nhạn trắng về bay giữa trời – và bầu trời hư không đây chính là Tâm giải thoát, là Như Lai thường trụ, thường định, thường lạc, và là nơi không một thức sở y nào vướng nữa.
Bỏ phiếu theo thủ tục mở ra tranh luận về dự luật đã được ủng hộ bởi 50 Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ và bị chống đối bởi 50 Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa. Dự luật sẽ tạo dễ dãi cho người dân bỏ phiếu bằng việc đòi hỏi bỏ phiếu sớm 15 ngày và bỏ phiếu vắng mặt không lý do, cho phép cử tri ghi danh cùng ngày bỏ phiếu và nhận lá phiếu không hạn chế, cho phép ghi danh tự động đối với các cuộc bầu cử liên bang và hạ thấp các đòi hỏi chứng minh giấy tờ.
Khoảng 36 triệu gia đình người Mỹ vào ngày 15 tháng 7 sẽ bắt đầu nhận hàng tháng các ngân phiếu từ Sở Thuế, như một phần của Tín Dụng Thuế Trẻ Em (CTC) được gia hạn, theo bản tin của Đài CBS News tường thuật hôm Thứ Ba, 22 tháng 6 năm 2021. Các gia đình hội đủ điều kiện sẽ nhận $1,800 tiền mặt cho tới tháng 12 – tuy nhiên, tín dụng thuế có phức tạp là có thể khiến một số gia đình từ chối.
Trong lúc tình hình đại dịch còn khó khăn thì tin Việt Nam sẽ nhận mỗi tuần 1 triệu liều thuốc chích ngừa Covid-19 của hãng AstraZeneca kể từ tháng 7 năm nay cũng làm cho người dân trong nước đỡ bớt lo lắng, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm 22 tháng 6 năm 2021.
Đây là loạt bài Hướng Dẫn Medicare bảo trợ bởi Clever Care Health Plan, nhà cung cấp hàng đầu các dịch vụ bảo hiểm Medicare Advantage phù hợp với văn hóa Đông kết hợp Tây Y. Theo một cuộc khảo sát gần đây do AARP công bố, phần lớn người cao niên người Mỹ gốc Á và cư dân các đảo Thái Bình Dương nói rằng họ hoặc gia đình của họ đã từng là mục tiêu lừa đảo. Một phần ba số nạn nhân mất trung bình 15,000 Mỹ Kim.*
Chỉ các loại pháo bông an toàn có đóng dấu của Tiểu bang California (California State Fire Marshal) được phép sử dụng vào ngày 4 tháng Bảy, từ 10:00 giờ sáng đến 10:00 giờ tối. Theo quy định về việc đốt pháo bông của Bộ luật Thành phố Garden Grove, chỉ được phép xài pháo bông an toàn tại những địa điểm tư gia cá nhân.
Chỉ nghe qua đài phát thanh thôi mà cả triệu người, trước tháng 4/75 từ thành thị cho đến thôn quê khắp miền Nam, già trẻ, lớn bé, trai gái, ai ai cũng có dịp say sưa theo dõi cảc trận đá banh quốc tế ở cầu trường Tao Đàn hay Cộng Hòa. Đó là nhờ tài của vua đá nói số một làng báo Saigon. Chẳng những vậy, ký gỉả Huyền Vũ còn làm đẹp và làm giàu văn chương thể thao. Ông đã có công dịch những từ thể thao ngoại quốc và đưa những từ trong lãnh vực quân sự vào môn đá banh để trận đấu qua radio thêm phần hào hứng và hồi hộp.
Báo chí tự phong “cách mạng” của Cộng sản ở Việt Nam đã hiện nguyên hình là cái loa tuyên truyền cho đảng để phủ nhận quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí của dân. Việc này đã, một lần nữa, được chứng minh vào dịp kỷ niệm 96 năm của điều gọi là “ngày báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/-1925 – 21/6/2021). Ngày 21/6 được chọn để đánh dấu việc ông Hồ Chí Minh đã một mình thành lập và biên tập Báo Thanh niên - cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên - tại Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam.
Ngay trong những tháng bắt đầu nhiệm kỳ, chính quyền Tổng Thống Joe Biden đã lên kế hoạch cải tổ mở rộng hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ, trong đó có chính sách hỗ trợ chi phí giữ trẻ cho các gia đình Mỹ có con nhỏ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.