Hôm nay,  

Lời khuyên đừng tranh cãi

03/10/202620:03:00(Xem: 649)
blank

Lời khuyên đừng tranh cãi

Nguyên Giác
 

Tôi từng được Thầy bổn sư dạy rằng, "Con đừng nên tranh cãi." Thế rồi nhiều năm sau, tôi bước vào nghề báo. Và thế rồi, tôi tự nhận thấy, từng dòng chữ mình viết xuống, từ trong thời chưa có máy vi tính, và từng chữ gõ xuống bàn phím từ khi có vi tính, là đi giữa những trận đồ tranh cãi. Thí dụ, chữ "máy vi tính" tôi vừa gõ hiển nhiên là một lựa chọn, và những lý luận, rằng tại sao không gõ chữ "máy điện toán" và rằng chữ này hay chữ kia là mang theo cả một khung trời giáo dục. Hay lựa chọn giữa chữ "tàu sân bay" và "hàng không mẫu hạm" và rất nhiều nữa.

Tại sao không nên tranh cãi? Về sau, tôi đọc phần Chánh ngữ, chỉ thấy nói rằng hãy từ bỏ nói dối, từ bỏ nói kiểu kích động hai đầu, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tức là phải nói sự thật, nói dịu dàng, nói xây dựng, không nói chuyện vô ích. Thế rồi tôi tập quen tới mức lòng mình tịch lặng, nhiều ngày không thấy chữ nào hiện lên trong tâm (bất kể mình sắp phải gõ vài ngàn chữ cho tờ báo buổi chiều), và rồi không còn bận tâm chữ này hay chữ kia nữa ngay cả khi theo dõi các cuộc tranh luận ở cõi thế gian (nhiều vô số kể, hễ mở TV là thấy rồi) hay các biện luận về pháp xuất thế gian (tôi vẫn theo dõi các nhà sư Mỹ, Úc, Anh... thảo luận trên mạng).

Tôi nghiệm ra rằng lời khuyên "chớ nên tranh cãi" có một sức mạnh huyền bí. Bởi vì, tranh cãi là trận chiến của chữ, của ý nghĩa, của lựa chọn, của một mặt trận trong tâm từng người, trước khi trở thành một cuộc chiến trên trang báo giấy hay trên màn hình TV. Nghĩa là, một cách tự nhiên, chữ sẽ biến mất trong tâm của bạn, cho dù bạn vẫn duy trì khả năng viết cả ngàn chữ mỗi ngày.  Khi bạn dứt bặt tranh cãi trong tâm là bạn sẽ thấy tịch lặng ngay cả khi ngồi giữa chợ.

Thêm nữa, tôi suy đoán rằng lời khuyên đừng tranh cãi hẳn là chớ nên giữ kiểu suy nghĩ "mình đúng, còn họ thì sai" -- kiểu suy nghĩ như thế dễ nảy sinh lòng kiêu hãnh và gây chia rẽ. Xin nói rõ, trong cộng đồng, tôi là một kẻ ba phải, nghe ai nói gì thì mình cũng im lặng; đôi khi về nhà, liền tìm bản tin xác thật để dịch ra cho đồng bào đọc, và tự nhủ, "Hơi đâu cãi nhau, mình chỉ cần dịch bản tin này là đủ để nêu lên sự thật."
 

Trong Kinh MN 139, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp." (1)
 

Nghĩa là, phải có trình độ để biết tán thán cách sống nào của thân, khẩu, ý phù hợp với Chánh pháp, và cần biết chỉ trích nếu cách sống nào không phù hợp. Sau đó thì không cần bận tâm chuyện tán thán với chỉ trích, mà hãy tùy duyên thuyết pháp. Bất kể ai nói rằng mình không đủ kiến thức để tranh biện, hay là có cãi cũng thua. 

Thêm nữa, đối với người thường trực sống với niệm vô thường, chuyện tranh cãi như dường là xa xỉ. Vì không chắc gì mình còn sống để nói dứt một câu nói. Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 6, có một tích truyện về tranh cãi. Lúc đó, trong thời gian an cư tại tu viện Jetavana ở Savatthi, Đức Phật đã thuyết giảng Kệ số 6 của Pháp Cú, liên quan đến các vị tỳ-kheo ở Kosambi.

Các tỳ-kheo tại Kosambi đã chia thành hai nhóm: một nhóm theo vị thầy thông thạo Luật tạng (Vinaya) và nhóm kia theo vị thầy thông thạo Giáo pháp (Dhamma); họ thường xuyên tranh cãi lẫn nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi; vì vậy, Ngài đã rời bỏ họ và trải qua mùa an cư kiết hạ một mình tại rừng Rakkhita, gần khu rừng Palileyyaka. Tại đó, con voi Palileyya đã hầu cận Đức Phật.

Các cư sĩ tại Kosambi, khi biết lý do Đức Phật rời đi, đã từ chối cúng dường cho các vị tỳ-kheo còn lại. Điều này khiến họ nhận ra sai lầm của mình và đi đến hòa giải với nhau. Tuy nhiên, các cư sĩ vẫn không còn đối đãi với họ đầy tôn kính như trước nữa, cho đến khi họ khai nhận lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng lúc đó Đức Phật đang ở xa và đang giữa mùa an cư, nên các tỳ-kheo Kosambi đã phải trải qua mùa an cư trong sự khổ sở và gian nan.

Khi mùa an cư kết thúc, Tôn giả Ananda cùng năm trăm vị tỳ-kheo đã đến gặp Đức Phật và chuyển lời thỉnh cầu từ ông Anathapindika cùng các cư sĩ khác, mong Ngài trở về. Sau đó, Đức Phật đã trở lại tu viện Jetavana ở Savatthi. Các tỳ-kheo đi theo Ngài về đó, đảnh lễ dưới chân Ngài và thú nhận lỗi lầm. Đức Phật quở trách họ vì đã không vâng lời Ngài. Ngài nhắc nhở họ rằng ai rồi cũng sẽ phải chết, do đó họ cần chấm dứt tranh cãi và không được hành xử như thể mình sẽ bất tử.

Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kệ Pháp Cú 6 như sau: Những người không có trí tuệ thường không nhận thức được rằng trong thế gian này rồi ai cũng sẽ phải chết (và vì không nhận thức được điều đó, họ cứ tiếp tục tranh cãi). Người có trí tuệ thì nhận thức được điều này, và nhờ đó, những tranh cãi của họ được chấm dứt.

 
Như thế, hễ ai sống được với vô thường, họ sẽ không bận tâm tranh cãi nữa. Thế nào là sống với vô thường. Nếu bạn nhớ, trong các bản kinh về vô thường, câu đầu tiên Đức Phật thường hỏi là, "mắt có vô thường không?" Do vậy, chúng ta có thể niệm vô thường bắt đầu bằng tất cả những cái đang chuyển biến vô thường quanh mình: những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường (nhóm này gọi là sắc, hay là form). Và tất cả những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường, do vậy vô ngã, do vậy vô tự tánh. Chỉ cần sống với kinh nghiệm này thôi, không cần tranh cãi gì hết.

Tương tự, trong Kinh SN 22.94, Đức Phật nói rằng: "...Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời... Sắc, này các Tỳ-khưu, là pháp thế gian. Pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, vẫn không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy." (Tương tự với Thọ, Tưởng, Hành, Thức) (2)
 

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta nhận thấy rất nhiều vị sư dựa vào kỹ năng tranh biện trong khi hoằng pháp. Phật giáo Tây Tạng đã lấy tranh biện làm công cụ, như một phương tiện trong khi hoằng pháp. Tranh luận trở thành một môn học tại các tu viện Phật giáo Tây Tạng. Bạn dễ dàng tìm thấy những cuộc tranh luận này trên các băng hình YouTube. Tranh luận trong các tu viện Tây Tạng không phải để cãi nhau hơn thua. Mục tiêu là giúp nhau đưa ra các lý luận sắc bén, bạn học đồng môn sẽ giúp nhau bộc lộ những lỗ hổng, sự mơ hồ hoặc hiểu sai về các khái niệm sâu xa như Tánh Không hay Vô Thường.


 

Nơi đây, chúng ta sẽ dịch sơ lược bài "The Purpose and Benefits of Debate" (Mục đích và lợi ích của việc tranh biện) của Đại sư Tsenshap Serkong Rinpoche II:

"Trong Phật giáo, tranh biện không nhằm mục đích đánh bại người khác bằng những lý lẽ khôn khéo. Mục đích của nó là giúp người học củng cố sự hiểu biết của mình, để họ không còn hoài nghi khi thực hành thiền định. Trong lớp học, mỗi học viên sẽ thách thức bạn học bảo vệ quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi và chỉ ra những điểm bất hợp lý trong câu trả lời của đối phương. Kết quả là cả hai bên đều cùng tiến bộ.

Một trong những mục đích chính của việc tranh biện trong quá trình tu học Phật giáo là giúp bạn phát triển nhận thức kiên định. Bạn đưa ra một quan điểm và người bạn tranh biện sẽ thách thức quan điểm đó từ nhiều góc độ khác nhau. Nếu bạn có thể bảo vệ quan điểm của mình trước mọi sự phản bác, đồng thời nhận thấy nó không có điểm bất hợp lý hay mâu thuẫn nào về mặt logic, bạn có thể tập trung vào quan điểm hoặc cách nhìn đó với một nhận thức hoàn toàn kiên định, không gì lay chuyển nổi. Trạng thái tâm trí này còn được gọi là niềm tin vững chắc. Bạn cần có nhận thức xác tín và niềm tin vững chắc này khi thực hành thiền định chuyên chú vào bất kỳ đề tài nào, chẳng hạn như tính vô thường, sự bình đẳng giữa bản thân và người khác, coi người khác quý giá hơn bản thân, tâm Bồ-đề, tính Không, v.v. Nếu tự mình phát triển nhận thức xác tín đó—ví dụ như thông qua thiền quán (thiền phân tích) hoặc chỉ suy ngẫm về Giáo pháp—bạn sẽ không bao giờ có thể tự đặt ra nhiều câu hỏi phản biện cho sự hiểu biết của mình như khi tranh biện cùng nhiều bạn học am hiểu. Người khác có thể dễ dàng nhận ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót trong lập luận của bạn hơn chính bản thân bạn.

Hơn nữa, tranh biện tạo ra môi trường thuận lợi hơn thiền định để người mới bắt đầu rèn luyện khả năng tập trung. Những thách thức từ bạn tranh biện và sự hiện diện của các bạn học đang lắng nghe buộc bạn phải tập trung cao độ. Khi thiền định một mình, chỉ có ý chí mới giúp bạn ngăn tâm trí xao nhãng hoặc tránh bị buồn ngủ. Ngoài ra, tại các sân tranh biện trong tu viện, nhiều cuộc tranh biện thường diễn ra đồng thời với âm thanh rất lớn. Điều này cũng buộc bạn phải tập trung. Nếu những cuộc tranh biện xung quanh làm bạn xao nhãng hoặc gây khó chịu, coi như bạn đã thất bại. Một khi đã rèn luyện được kỹ năng tập trung trên sân tranh biện, bạn có thể áp dụng nó vào việc thiền định, ngay cả khi thiền ở những nơi ồn ào.

Thêm vào đó, tranh biện còn giúp phát triển nhân cách của bạn. Bạn không thể vừa giữ thái độ rụt rè, e ngại mà vẫn tham gia tranh biện được. Bạn cần lên tiếng khi đối thủ đưa ra thách thức. Ngược lại, nếu tỏ ra kiêu ngạo hay nổi nóng, tâm trí bạn sẽ trở nên thiếu sáng suốt và chắc chắn bạn sẽ bị đối phương đánh bại. Bạn cần luôn giữ được sự cân bằng về mặt cảm xúc. Dù thắng hay thua, cuộc tranh biện vẫn mang lại cơ hội tuyệt vời để nhận diện cái "Tôi" cần phải bị bác bỏ. Khi bạn nghĩ hoặc cảm thấy "Mình đã thắng; mình thật thông minh" hay "Mình đã thua; mình thật ngu ngốc", bạn có thể nhận diện rõ ràng sự phóng chiếu của một cái "Tôi" kiên cố, đầy tự mãn mà bạn đang đồng nhất mình với nó. Đây chính là cái "Tôi" hoàn toàn hư ảo và cần phải bị bác bỏ.

Ngay cả khi chứng minh được rằng quan điểm của đối phương là phi lý, bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không có nghĩa là bạn thông minh hơn còn họ thì ngu ngốc. Động cơ của bạn phải luôn là giúp đối phương phát triển sự hiểu biết sáng suốt và niềm tin vững chắc vào những điều có thể được chứng minh bằng lý luận." (3)
 

Như thế, mục đích của tranh biện là để thiết lập chánh kiến trước khi hành thiền, trong lộ trình (Văn-Tư-Tu), một phương pháp diệt trừ chấp ngã (giữa người hỏi và người đáp không có chuyện cãi thắng, cãi thua, chỉ là để học Phật thôi; không có chuyện kiêu hãnh khi cãi đúng Chánh pháp hay mắc cỡ khi nói chệch Chánh pháp). Việc đối diện trực tiếp với sự yếu kém của bản thân trong môi trường tranh biện ồn ào, công khai giúp người tham dự học cách buông bỏ lòng kiêu hãnh, giữ tâm bình thản và nhận diện rõ bản chất ảo tưởng của cái "Tôi". Bạn hãy hình dung thế này: hai nhà sư đang tranh biện nơi sân chùa nên được tự thấy như hai đám mây đang chuyển động của đất nước gió lửa đang rủ nhau gạn lọc Chánh pháp.
 

Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo trong video "The Art of Buddhist Debate" (Nghệ thuật Tranh biện Phật Giáo) trên YouTube kể lại rằng các tu viện Phật giáo Tây Tạng khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng bất cứ điều gì giáo viên nói, chứ không phải chấp nhận nó chỉ vì giáo viên nói vậy. Trong video dài 10:22 phút có phụ đề tiếng Anh, tiếng Việt (nút cc: rồi chọn phụ đề) Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo kể về thực hành tranh biện trong Phật giáo Tây Tạng. 

https://youtu.be/QIamQnti3as?si=hR8ytqKWZj9Rth5-

 
Nhìn lại, tôi nghĩ rằng mỗi người có một cách ứng biến khác nhau cho tự thích hợp với môi trường. Cũng y hệt như con chim thì bay, và con cá thì lội, mỗi người sẽ tùy theo hành nghiệp riêng sẽ tự biết cách bay như chim hay lội như cá cho phù hợp Chánh pháp. Thêm nữa, với người phải tự quán sát chính mình, biết cách tự sống như một hòn đảo hiển nhiên là không thấy có gì để tranh cãi.

Do vậy, một trong những niềm vui thầm lặng mà tôi tìm thấy trong nghề báo không đến từ lúc hoàn thành bài viết, mà lại hiển lộ ngay khi tôi tạm dừng bút, tạm dừng gõ giữa chừng. Trong khoảnh khắc dừng lại ấy, tôi tự hỏi: Liệu chi tiết này có chính xác không? Có điều gì mình đã hiểu sai chăng? Mình có đang quậy phá ai không? Chữ của mình có từ ái không? Và những câu hỏi tương tự.
 

Những khoảnh khắc chiêm nghiệm này chuyển hóa công việc viết báo thành một kiểu tu tập. Các chủ đề gây tranh cãi, những ý kiến ​​trái chiều và các cuộc thảo luận công khai trở thành cơ hội để tôi tự hỏi xem mình chánh niệm ra sao. Khi thấy cộng đồng mình hiểu sai một vấn đề, mình nên viết ra sự thực cách nào để "giải ảo" mà sẽ không ai tự ái hay bị tổn thương?

Và viết chính là hạnh phúc. Thực sự như thế. Hạnh phúc là sống với không một chữ trong tâm, nhưng khi cần phải viết thì vô lượng chữ hiện ra. Hạnh phúc là viết với lòng yêu thương không ngừng, trong khi cân nhắc từng chữ của sự thật và từ ái. Hạnh phúc là khi ngồi viết với trí tuệ vô sanh, y hệt như một ngọn nến đang tỏa ra ánh sáng bằng toàn thân tự cháy trong khi chưa lụi tàn, và không bận tâm tranh cãi với bóng tối cõi này. 

   

GHI CHÚ:

(1) Kinh MN 139: https://suttacentral.net/mn139/vi/minh_chau   

(2) Kinh SN 22.94: https://suttacentral.net/sn22.94/vi/minh_chau    

(3) The Purpose and Benefits of Debate: https://studybuddhism.com/en/tibetan-buddhism/about-buddhism/how-to-study-buddhism/the-purpose-and-benefits-of-debate  

 




WASHINGTON (VB - 6/10/2020) -- Ba nhà khoa học đã thắng giải Nobel Vật Lý năm nay nhờ các công trính khám phá về hố đen trong vũ trụ và sẽ chia giải thưởng 1.1 triệu đôla, theo công bố hôm Thứ Ba 6/10/2020 của Viện Royal Swedish Academy of Sciences. GS Anh Roger Penrose nhận nửa giải, GS Đức Reinhard Genzel và GS Mỹ Andrea Ghez chia nửa còn lại. Nhà vật lý thiên tài Albert Einstein không tin có hố đen trong vũ trụ, nhưng 3 nhà khoa học này chứng minh được rằng Einstein sai lầm: có hố đen trong vũ trụ.
Trung uý Bá đã biểu lộ lòng can đảm phi thường, bất chấp nguy hiểm cho sinh mạng mình và chỉ quan tâm tới những người bệnh, với kết quả là ông đã cứu được nhiều mạng sống. Những hành động dũng cảm của Trung uý Bá phản ánh phẩm chất lớn lao của bản thân ông và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Tối Cao Pháp Viện hôm Thứ Hai, 5 tháng 10 năm 2020, đã cho phép yêu cầu từ Đảng Cộng Hòa South Carolina để khôi phục yêu cầu chữ ký-nhân chứng của tiểu bang đối với các lá phiếu vắng mặt đang chờ kháng cáo, theo bản tin của CNN cho biết.
Hai tuần sau khi gỡ bỏ ngôn ngữ thừa nhận Covid-19 lây lan qua các hạt nhỏ tồn tại trong không khí, Cơ Quan CDC của Hoa Kỳ đã chính thức thêm một phần mới vào trang mạng của họ hôm Thứ Hai, 5 tháng 10 năm 2020, tuyên bố rằng “Covid-19 có thể đôi lúc được truyền nhiễm qua các hạt tồn tại trong không khí,” theo bản tin của Yahoo News cho biết hôm Thứ Hai.
Hai phần ba người Mỹ nói rằng Tổng Thống Donald Trump đã giải quyết nguy hiểm của việc truyền nhiễm vi khuẩn corona đối với những người khác chung quanh ông vô trách nhiệm, theo một thăm dò mới của CNN Poll được thực hiện bởi SSRS trong nhiều ngày theo sau tuyên bố rằng Tổng Thống đã bị lây vi khuẩn mà đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người trong hơn nửa năm qua.
Tham vụ báo chí Tòa Bạch Ốc Kayleigh McEnany nói rằng bà đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona vào sáng Thứ Hai, 5 tháng 10 năm 2020, và sẽ bắt đầu “tiến trình cách ly,” trở thành người mới nhất trong quỹ đạo của Tổng Thống Trump bị truyền nhiễm vi khuẩn, theo bản tin của Fox News cho biết hôm Thứ Hai.
Tổng Thống Donald Trump đã ra khỏi Bệnh Viện Walter Reed National Military Medical Center một cách liều lĩnh để trở về Bạch Ốc hôm Thứ Hai, 5 tháng 10 năm 2020, nói với những người theo ông rằng vi khuẩn mà đã làm ông mất oxy một cách nguy hiểm và đã phải vào nằm bệnh viện 72 giờ là không có gì đáng sợ trước khi chụp hình không đeo khẩu trang ở ban công Bạch Ốc, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai.
Đài truyền hình Thành phố Garden Grove TV3 (GGTV3) đã vinh dự nhận được đề cử cho giải Emmy và sáu giải thưởng quốc gia và khu vực trong năm nay, bao gồm hai giải nhất cho các video về Thành phố.
Áp lực lên bộ máy của người cai trị Lukashenko ở Belarus ngày càng lớn. Sau các lệnh trừng phạt của EU và Hoa Kỳ, hơn 100.000 người biểu tình phản đối "chế độ". Minsk hiện cũng đang cố gắng bóp nghẹt báo cáo quốc tế.
Vào thứ Ba, ngày 20 tháng 10 năm 2020, Chánh Lục Sự Hugh Nguyễn sẽ tổ chức “Get Hitched Under the Stars” (Kết Hôn Dưới Bầu Trời Đầy Sao) tại Honda Center ở Anaheim.
WASHINGTON (VB - 5/10/2020) -- Tuần lễ thông báo giải Nobel bắt đầu hôm Thứ Hai 5/10/2020: Giải Nobel Y Khoa trao cho ba nhà khoa học Harvey J. Alter, Michael Houghton, và Charles M. Rice -- trong đó Houghton là người Anh và 2 vị kia người Mỹ -- vì các khám phá dẫn tới nhận diện vi khuẩn viêm gan C. Cả 3 sẽ chia tiền thưởng 1.1 triệu đôla. Nhờ khám phá này, nhiều triệu mạng người đã được cứu.
Ai cũng vậy, làm việc đến một tuổi nào đó thì cần phải nghỉ hưu. luật không bắt buộc mình phải nghỉ nhưng thông thường thì thiên hạ nghỉ khi họ được 65 tuổi để nghỉ ngơi và để lãnh tiền già (pension du Canada hay old age pension).
Một ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ chưa bao giờ qua đời hay rút lui khỏi cuộc đua vào Bạch Ốc trước cuộc bầu cử, theo AFP cho biết hôm 3 tháng 10 năm 2020. Nhưng việc Tổng Thống Donald Trump vào bệnh viện vì vi khuẩn corona chỉ một tháng trước ngày bầu cử 3 tháng 11 đã tạo ra nghi vấn về điều gì sẽ xảy ra nếu một sự kiện như thế xảy ra.
Thành phố lớn thứ hai của Azerbaijan, Ganja, đã bị pháo kích bởi các lực lượng Armenia, khi cuộc đụng độ dữ dội tiếp tục qua vùng đất tranh chấp Nagorno-Karabakh, theo bản tin của BBC tiếng Anh hôm Chủ Nhật, 4 tháng 10 năm 2020 cho biết.
Vào giữa lúc đang điều trị vi khuẩn corona, Tổng Thống Donald Trump đã rời bệnh viện với an ninh của ông hôm Chủ Nhật, 4 tháng 10 năm 2020 để ông có thể ngồi trong xe SUV đi ngang qua những người ủng hộ đang chào đón ông bên ngoài Bệnh Viện Walter Reed National Military Medical Center, theo bản tin của CNN cho biết hôm Chủ Nhật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.