Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 65)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) tê liệt vì không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu (quorum) để ngăn chặn người nước ngoài can thiệp vào bầu cử Mỹ.
Đại học Syracuse: hơn 70% người đang bị giam tại các nhà tù giam người nhập cư không hề có tiền án; trong đó 56% người gốc Á bị bắt không hề có tiền án
• Động Đất 7.7 Độ Tại Indonesia, Ít Nhất 47 Người Chết • Nổ Súng Tại Virginia State University, 5 Người Bị Thương • Iran: Trump “Ảo Tưởng” Khi Muốn Biến Hormuz Thành Lãnh Thổ Mỹ • Dân Định Cư Israel Bao Vây Nhà Người Palestine, Quân Đội Khoanh Tay Đứng Nhìn • Trump Xuống Đường Vận Động, Cộng Hòa Đối Diện Dao Hai Lưỡi • Tòa Cho Phép Chính Quyền Trump Xây 62 Dặm Tường Biên Giới Qua Đất Bộ Lạc Da Đỏ • Hải Quân Mỹ Có Thể Tốn Hàng Tỷ Để Đổi Thiết Kế Hàng Không Mẫu Hạm Theo Ý Trump • FDA Xếp Vụ Thu Hồi Gần 1.6 Triệu Hộp Trứng Vào Mức Nguy Hiểm Cao Nhất • Giáo Sư Da Đen Trẻ Nhất Cambridge Qua Đời Sau Những Cáo Buộc Đạo Văn • Chú Khỉ Mồ Côi Punch Tròn Một Tuổi, Nhận 2,500 Thiệp Mừng Sinh Nhật
Cuộc nghiên cứu của Đại học Utah dùng Thiền chánh niệm để chữa trị người nghiện ma túy hay nghiện thuốc giảm đau opiod đã đưa ra một số kết quả tích cực có thể giúp cho các Bộ y tế trên thế giới trong nỗ lực cai nghiện. Bài sau đây là từ trang nhà của Đại học Y Khoa Utah (University of Utah Health) đăng ngày 7 tháng 8 năm 2026. Bài có tựa đề "Mindfulness offers cost-effective alternative for treating opioid misuse" (Chánh niệm mang lại liệu pháp thay thế hiệu quả về chi phí để điều trị tình trạng lạm dụng opioid). Opioid là thuốc giảm đau và được dân nghiện dùng như ma túy, là một nhóm chất bao gồm các loại thuốc giảm đau kê đơn hợp pháp (như morphine, oxycodone, fentanyl) và các chất bất hợp pháp (như bạch phiến heroin).
Các bạn lao động xuất khẩu từ Việt Nam sang Đài Loan coi chừng, đừng để phạm tội gì. Đài Loan sẽ có 3 cuộc trưng cầu dân ý: sẽ phạt đánh roi bọn tội phạm tình dục, tội phạm lừa đảo; xóa bỏ nhãn hiệu "phi nguyên tử" để sẽ vào kỷ nguyên năng lượng nguyên tử; quy định dùng tiền phạt vi phạm giao thông để an toàn đường bộ.
- Trump đấu tố báo NY Times và Đảng Dân Chủ không chịu nhìn thấy Trump đang chiến thắng Iran - Trump nói sẽ ghim trong bụng rằng NATO không chịu giúp Mỹ trong cuộc chiến Iran - Trump nói thuế quan toàn cầu đang đưa việc làm về Mỹ, Trump vu khống TP New York là hang ổ cộng sản - BBC xin tòa Mỹ triệu tập cậu Donald Trump Jr., cô Ivanka Trump và con rể Jared Kushner của Trump ra khai vì họ có mặt bên Trump ngày bạo loạn 6/1/2021 - Trump trấn an gia đình các lính Hải quân khủng hoảng tới mức nhảy xuống biển tự : sẽ có tàu khác vào thay sớm
• Hàng Không Mẫu Hạm George Washington Hướng Về Trung Đông, Có Thể Thay USS Lincoln • Trump Ra Lệnh Hải Quân Bỏ Hệ Thống Phóng Phi Cơ Tối Tân, Trở Lại Máy Phóng Hơi Nước • Tòa Bác Đơn Chính Quyền Trump Kiện Harvard Về Kỳ Thị Do Thái • Dân Mỹ Bất Ngờ Bớt Mua Sắm, Doanh Số Bán Lẻ Giảm Mạnh Nhất Hơn Một Năm • DHS Theo Dõi Các Nhóm Thiên Tả Trong Đợt Trấn Áp Di Dân Ở Minnesota • Trump Bật Đèn Xanh Cho Công Ty Mỹ Tấn Công Tin Tặc Ngoại Quốc • Bỏ Qua Đại Công Ty, Bộ Tư Pháp Trump Nhắm Vào Tiểu Thương Gian Lận Nhỏ • Trump Xin Tối Cao Pháp Viện Cho Tiếp Tục Xây Phòng Khiêu Vũ $400 Triệu • Phụ Nữ Afghanistan Bị Xóa Khỏi Đời Sống Công Cộng Sau 5 Năm Taliban Cai Trị • Kennedy Center Bỏ Phiếu Gắn Lại Tên Trump, Đóng Cửa Hai Năm Bất Chấp Lệnh Tòa • Giáo Sĩ Truyền Giáo Mỹ Bị Bắt Cóc Ở Niger Được Trả Tự Do • Thẩm Phán Phạt ICE Hơn $16,900 Vì Chuyển Người Bị Giam Qua Hai Tiểu Bang Trong
GKN Aerospace (GKN) đang xem xét một chương trình có khả năng bồi thường dành cho những người bị ảnh hưởng bởi tai nạn liên quan đến vật liệu nguy hiểm (hazmat) xảy ra vào Tháng Năm, 2026, tại cơ sở của công ty ở Garden Grove. Theo GKN, chương trình sẽ cho phép các cá nhân nộp đơn yêu cầu bồi thường cho những tổn thất liên quan đến lệnh sơ tán vào Tháng Năm. Các thông tin chi tiết bổ sung, bao gồm điều kiện đủ để được bồi thường và hướng dẫn nộp đơn, hiện vẫn chưa được công bố.
Trong năm đầu trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Donald Trump thu về khoảng $59.5 triệu từ việc cho phép các nhà phát triển bất động sản ở nước ngoài dùng thương hiệu “Trump” cho cao ốc, sân golf và khu nghỉ mát. Con số này đến từ phân tích hồ sơ tài chính mới nhất của ông, và cao hơn 71% so với năm 2024, gần gấp mười lần so với 2023. Forbes ước tính tài sản cá nhân của ông hiện khoảng $6.4 tỷ, tăng hơn 25% chỉ trong một năm.
Một ngư dân Ý vừa phát hiện xác một chiếc tàu chở rượu có niên đại hơn 2.000 năm dưới đáy biển ngoài khơi Sicily, cùng hàng loạt vò gốm từng được người La Mã sử dụng để vận chuyển rượu và dầu. Người phát hiện là ngư dân Giacomo de Mola. Trong chuyến lặn hôm thứ Bảy, thiết bị quét dưới nước của ông phát hiện một tín hiệu bất thường. Ban đầu, de Mola cho rằng đó có thể chỉ là một tảng đá, nhưng ông quyết định lặn xuống kiểm tra.
Các vụ lừa đảo liên quan đến nhà cho thuê trên mạng đang gia tăng tại California, trong lúc giá nhà cao và nguồn cung khan hiếm khiến nhiều người phải tìm chỗ ở qua mạng xã hội và các trang rao vặt trực tuyến. Thủ đoạn thường thấy là kẻ gian sao chép hình ảnh và nội dung từ một căn nhà có thật, rồi đăng lại như thể chính họ là chủ nhà hoặc người môi giới. Một số còn dùng trí tuệ nhân tạo để làm quảng cáo trông đáng tin hơn, sau đó đòi tiền giữ chỗ, tiền cọc hoặc lệ phí trước khi nạn nhân kịp kiểm chứng.
Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Hai ký một sắc lệnh nhằm thay đổi sâu rộng lịch chủng ngừa dành cho trẻ em tại Hoa Kỳ, trong đó có việc tách thuốc chủng ngừa sởi, quai bị và rubella, thường gọi là MMR, thành ba mũi ring biệt. Sắc lệnh cũng tìm cách vượt qua thẩm quyền chuyên môn của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ, CDC, cơ quan liên bang lâu nay phụ trách đưa ra các khuyến cáo về chủng ngừa.
Hai đại công ty nhà tù tư nhân CoreCivic và GEO Group vừa báo cáo tổng cộng hơn $1.4 tỷ doanh thu trong quý hai năm nay, giữa lúc số di dân bị chính quyền liên bang giam giữ tăng sát mức kỷ lục. CoreCivic thu $684.9 triệu từ Tháng Tư đến hết Tháng Sáu, tăng hơn 27% so với cùng thời kỳ năm ngoái. GEO Group thu $732.1 triệu, tăng gần $96 triệu, tức khoảng 15%. Con số ấy còn chưa kể khoản $1.6 tỷ CoreCivic thu về sau khi bán bốn trung tâm giam giữ cho Bộ Nội An. Patrick Swindle, tổng giám đốc CoreCivic, nói với giới đầu tư rằng thương vụ này tính ra tương đương khoảng $307,000 cho mỗi giường giam.
Một cuộc nghiên cứu quy mô lớn cho thấy nhiều loài bướm trên thế giới đang thay đổi địa bàn sinh sống, phần lớn do nhiệt độ tăng, thời tiết cực đoan, cùng với sự mất mát môi trường thiên nhiên. Công trình, đăng ngày 5 Tháng Tám trên tạp chí Nature Ecology & Evolution, tổng hợp dữ kiện về 1,758 loài bướm tại 105 quốc gia, tương đương khoảng 10% số loài bướm đã được khoa học biết đến. Các nhà nghiên cứu ước tính khoảng một trong mười loài bướm trên toàn cầu đã thay đổi phạm vi phân bố. “Chúng tôi nhận thấy các loài bướm đang dời địa bàn trên mọi lục địa có bướm sinh sống,” Shawan Chowdhury, nhà sinh học chuyên nghiên cứu những biến đổi toàn cầu tại Đại Học Monash, Úc, và là đồng tác giả công trình, cho biết. Theo ông, hiện tượng này không chỉ xảy ra tại Âu Châu và Bắc Mỹ, hai khu vực lâu nay được nghiên cứu nhiều nhất.
Một nữ sinh 18 tuổi tại Ireland vừa đoạt giải thưởng quốc tế với một loại nhựa có nguồn gốc thực vật, không những tự phân hủy mà còn phóng thích enzyme có khả năng phân hủy một số vi nhựa đã có sẵn trong đất và nước. Arya Satheesh, sống tại Letterkenny, County Donegal, đặt tên phát minh của mình là Eco Purge. Sản phẩm đã giúp cô đoạt giải khu vực Âu Châu của Earth Prize 2026, một cuộc thi môi sinh dành cho học sinh, cùng phần thưởng 12,500 Mỹ kim để tiếp tục hoàn chỉnh mẫu thử nghiệm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.