Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 84)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Khách hàng đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp khuyết tật, hoặc Nghỉ Phép Có Lương Vì Lý Do Gia Đình (Paid Family Leave) nay có thể xác minh danh tính trực tiếp thông qua Socure ngay trên myEDD https://myedd.edd.ca.gov/ .
• Ủy Ban Thượng Viện Biểu Quyết Fauci Khinh Thường Quốc Hội • Ba Tiểu Bang Đưa Trát Đòi Fauci, Điều Tra Lợi Ích Tài Chánh Liên Quan COVID-19 • FDA Chấp Thuận Vắc-Xin Cúm mRNA Đầu Tiên Của Moderna • Trump Xin Tòa Khẩn Cấp Chặn BBC Xem Hồ Sơ Tài Chánh • Trump Nổi Giận Với Hegseth Vì Kho Hỏa Tiễn Mỹ Gần Cạn • New Mexico Kiện Bộ Tư Pháp, Tố Ngăn Cản Điều Tra Hồ Sơ Epstein • Chiến Dịch Trục Xuất Của Trump Có Thể Khiến Mỗi Người Đóng Thuế Gánh 2,358 Mỹ Kim • Tòa Bác Yêu Cầu Trì Hoãn, 170,000 Người Vay Tiền Học Được Xóa 11 Tỷ Mỹ Kim • Trump Nói Riêng Với Mạnh Thường Quân: “Cần Đưa Vance Đắc Cử” Năm 2028 • Jeanine Pirro Thừa Nhận Hồ Phản Chiếu Hư Hại Vì Thi Công Kém • Dịch Salmonella Từ Ớt Jalapeño Lan Ra 27 Tiểu Bang • Ba Yếu Tố Sức Khỏe Tuổi Trung Niên Có Thể Giúp Trì Hoãn Sa Sút Trí Tuệ Gần 13 Năm • Hoa Hậu North Carolina Bị Tước Vương Miện Vì Bài Viết Kỳ Thị
Trong thế giới kinh và luận hơn hai ngàn năm qua, từ những tập thơ ban đầu của các thánh tăng và thánh ni thời Đức Phật -- Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragatha) và Trưởng Lão Ni Kệ (Therigatha) -- tới bây giờ đã có nhiều vị tăng hay ni uyên bác, học rộng, có khả năng viết nhiều sách, sáng tác thơ ca ngợi Tam Bảo. Hiển nhiên đó là kết quả của duyên học rộng, hành sâu, và tâm nguyện hoằng pháp. Khi giới–định–tuệ được nuôi dưỡng, tâm trở nên nhu nhuyến, sáng tỏ, và tự nhiên có cách hoằng pháp thích nghi, trong đó thơ văn là pháp khí tự nhiên. Thí dụ, như ngài Thế Thân, Long_Thọ, Minh Châu, Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát... Như thế cũng là học theo Pháp Cú và Jataka, nơi Đức Phật cũng từng là thi sĩ, kể chuyện tiền thân bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Tôi đã sống hạnh phúc trong khung trời văn học Phật giáo như thế, và đôi khi mình tự thấy mình đang bước đi giữa các pháp hội như thế.
- Tòa chuyển hồ sơ luật sư Alejandro Brito (luật sư của Trump) sang Đoàn Luật sư Florida để xem xét kỷ luật [Brito], vì Brito đại diện Trump kiện Sở thuế IRS là trò thông đồng để giúp Trump lấy gần 2 tỷ USD - Tòa buộc Trump nộp án phí cho 35 cựu thẩm phán viết bản văn "bạn của tòa" phản đối , hạn chót là ngày 14 tháng 8 để hai phía trả lời
Huyền thoại bóng đá Luis Figo đòi Infantino từ chức Chủ tịch FIFA vì lừa dối và tìm cách trục lợi với kế hoạch tự ấn định lương 30 triệu USD/năm. - Có tin Trump có thể đưa lối thoát danh dự cho Infantino: đề cử vào TTK/LHQ. Mỹ: Trump không can thiệp gì.
Cuộc đua sơ bộ tranh vị trí ứng cử viên Dân Chủ cho ghế Dân Biểu Hạ Viện Hoa Kỳ tại Khu vực bầu cử số 6 nóng dần trong những tuần cuối: Tram Nguyen (đương nhiệm Dân Biểu tiểu bang Massachusett) và LS John Beccia tuyên bố sẵn sàng tranh luận trước cuộc bầu cử sơ bộ ngày 1 tháng 9, trong khi Dan Koh (cựu trợ lý đặc biệt trong chính phủ Biden) khẳng định vị thế dẫn đầu theo kết quả thăm dò mới.
• Phe Cấp Tiến Thắng Bầu Cử Sơ Bộ Michigan, Giáng Đòn Mạnh Vào Cánh Dân Chủ Truyền Thống • Dân Biểu Dân Chủ Gluesenkamp Perez Và Đối Thủ Cộng Hòa Được Ông Trump Hậu Thuẫn Cùng Vào Vòng Sơ Bộ Washington • Dân Biểu Cộng Hòa Rút Khỏi Tái Tranh Cử Vì Cáo Buộc Quấy Rối Tình Dục • Trời Kyiv Rực Lửa Sau Cuộc Không Kích Lớn Của Nga, Ít Nhất 17 Người Chết • Công Tố Viên Ở DC Hủy Thêm Nhiều Vụ Liên Quan Hồ Phản Chiếu • Trump Nói Có Thể Thỏa Thuận Mở Cửa Eo Biển Hormuz Vào Sáng Thứ Tư • Virus Cyclosporiasis Đã Lan Rộng Thêm Sáu Tiểu Bang • Tòa Chấp Nhận Yêu Cầu Của DOJ Hủy Các Án Của Nhóm Oath Keepers Trong Vụ Jan6 • Cổng Vòm ‘Khải Hoàn Trump’ Gây Tổn Hại Các Di Tích Lịch Sử Của DC • Hoa Kỳ Hoàn Trả $100 Tỷ Thuế Quan ‘Liberation Day’ Của Trump • Liên Bang Điều Tra Người Mang Vũ Khí Bị Bắt Tại Sân Golf Của Trump Trước Chuyến Thăm Của Tổng Thống • Trung Quốc Nhắm Vào Công Ty Mỹ, Siết Xuất Khẩu Drone Trước Chuyến Thăm Của Ông Tập Cận Bình
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
Hiếu là việc của một đời người. Tu là việc của đời này và nhiều đời sau. Việc của cả đời không phải chờ đến ngày lễ như Ngày của Mẹ, Ngày của Cha, Vu Lan, Tiểu tường, Đại tường, Thù Ân... mới nhắc đến, mà phải tâm tâm niệm niệm, biết mình phải nghĩ gì, nói gì và làm gì trong từng ngày, từng giờ cho phù hợp Hiếu đạo và Phật đạo.
Bài viết sau đây rất dài, nhan đề "The Costs of the U.S. Blockade of Cuba" (Những cái giá phải trả cho lệnh phong tỏa Cuba của Hoa Kỳ) đăng hôm Thứ Hai 3/8/2026 trên mạng Znetwork của Margot Pepper, một nhà văn có tác phẩm từng được đề cử giải thưởng "2006 American Book Award", nhà nghiên cứu và là nhà giáo song ngữ tại San Francisco.
Không phải Việt Nam hay Trung Quốc. Đây là chuyện về Cuba. Báo Politico hôm 4/8/2026 có bài viết tựa đề "US sends more intel assets to Cuba' của hai phóng viên Dasha Burns và Nahal Toosi, ghi nhận: Theo hai nguồn tin am hiểu về các kế hoạch của chính quyền Trump đối với quốc đảo này, Mỹ đã tăng cường các nguồn lực tình báo tại Cuba trong những tháng gần đây
• Thêm Một Di Dân Tử Vong Trong Trại Giam Giữ Delaney Hall Ở New Jersey • ICE Gắn Thiệt Bị Giám Sát Vào Chân Người Haiti Ở Springfiel Sau Khi Trình Diện • Tàu Bốc Cháy Ở Eo Biển Manche, Nhiều Di Dân Được Cứu • Tòa Chặn Lệnh Không Cho ICE Che Mặt Của New York • Bắt Nghi Phạm Gây Ra Một Trong 3 Vụ Hỏa Hoạn Ở Washington • TNS Warren Yêu Cầu Điều Tra Memecoin Của Trump Có Phải Là Vụ Lừa Đảo Bất Hợp Pháp Không • 25 Tiểu Bang Kiện Chính Quyền Trump Về Thuế Quan Mới • Michigan Có 2 Ca Tử Vong Vì Nhiễm Cyclosporiasis • Iran Yêu Cầu Quyền Kiểm Soát Bên Trong Và Ngoài Hormuz • Nauru, Quốc Gia Nhỏ Thứ Ba Thế Giới, Đổi Tên Thành Naoero • Dịch Ebola Bùng Phát, Cướp Sinh Mạng 1.700 Người Ở Miền Đông Congo
Dân tộc mình có truyền thống cúng ông bà, nên thường nghĩ rằng các cặp vợ chồng không có con sẽ có lỗi tuyệt tự, làm đứt mạch cúng giỗ tổ tiên. Suy nghĩ như thế hiển nhiên là không đúng pháp. Dù vậy, các cặp vợ chồng chưa có con, hay khi nghe bác sĩ nói rằng họ không thể có con, vẫn thấy bứt rứt, nhất là khi về thăm làng quê họ vẫn bị các cụ bảo sao chưa kiếm một thằng nhóc để sau này nó sẽ bưng bát hương, chống gậy. Do vậy, đó là một câu hỏi thường gặp.
Tháng 6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất, mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo trong 10 ngày!
Đây là chiều ngược lại với cộng sản: Nếu bạn đã từng quan sát chính sách cộng sản ở VN hay Cuba, bạn sẽ thấy đất bị giải tỏa với giá đền bù rất rẻ, nhà mới sẽ được các công ty thân hữu của quan chức xây lên và rồi các căn nhà mới sẽ bán giá trên trời cho những người rất giàu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.