Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 238)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



- Trump: trong 4 giờ đồng hồ trước nửa đêm Thứ Ba, Mỹ sẽ xóa sổ cầu và nhà máy điện, san phẳng môi thứ ở Iran để cả 100 năm sau Iran cũng chưa hồi phục nổi. - Trump: người rò rỉ chiến dịch giải cứu của Mỹ tại Iran cần phải bị bỏ tù. Trump: Chiến dịch cứu phi công đã dùng 155 máy bay, bao gồm 4 máy bay ném bom, 64 máy bay chiến đấu, 48 máy bay tiếp nhiên liệu và 13 máy bay cứu hộ (có báo nghi đây là trận đột kích để tìm uranium). - Dân Biểu Pat Fallon (Cộng Hòa, Ủy ban nhân sự quân đội trong Hạ Viện) nói trên Fox News: Bộ binh Mỹ sẽ cần phải vào Iran, để đưa người ôn hòa lên nắm quyền Iran.
Đức Phật không đặt vấn đề Đạo Phật dành cho ai. Bởi vì, Đức Phật nói rằng cho dù Ngài có ra đời hay không, Pháp vẫn thường trực có trong ba cõi sáu đường, khi hiểu rằng Pháp là quy luật vận hành của vũ trụ, là luật Duyên Khởi, và tác động của nghiệp. Như thế, chúng sinh nào xa lìa tham sân si thì sẽ giải thoát. Do vậy, trong rất nhiều Kinh Bản Sanh, kể về những thời kỳ Đức Phật Thích Ca chưa ra đời, khi Ngài còn là Bồ Tát, người ta gặp rất nhiều vị Phật Độc Giác (còn gọi là Bích Chi Phật), nghĩa là những vị tự giải thoát khi sống thuận theo Pháp để xa lìa tham sân si. Trong khi đó, khi hiểu Pháp là lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì đây là con đường giải thoát được nói rõ trong Bát Chánh Đạo.
tiết xuân phân ấm áp, Chủ nhật ngày 29/03/2026, tại Chùa Viên Minh (Garden Grove, California), không gian thiêng liêng như ngưng đọng khi hơn 100 chư Tôn đức Tăng Ni cùng đông đảo Phật tử đồng tâm hướng về Đại lễ Tưởng niệm lần thứ 5 Đức Thánh Tổ Ni Kiều Đàm Di.
2 Dân Biểu Dân Chủ tới thăm Cuba: Trump phải dịu giọng để giúp Cuba chuyển hóa, vì càng hung hăng siết sẽ chỉ giết dân, làm tăng người vượt biên - Giám đốc điều hành JPMorgan Chase: Kinh tế Mỹ sẽ suy thoái, lạm phát vì cuộc chiến Iran - Tổng Giám mục Công giáo Timothy Broglio (Tư lệnh Tuyên úy Quân lực Mỹ): cuộc chiến Mỹ-Israel chống Iran là phi chính nghĩa, khuyên lính Công giáo hãy gây ra ít tổn hại nhất có thể, và hãy gìn giữ những sinh mạng vô tội - Iran đưa ra (qua Pakistan) phản hồi 10 điểm: sẽ mở Eo biển Hormuz nếu Mỹ chấp nhận hòa bình vĩnh viễn thay vì ngưng bắn, phải giúp Iran tái thiết - Iran: đã bắn tên lửa, đẩy lùi tàu đổ bộ chở 5.000 lính TQLC của Mỹ, và bắn cháy 1 tàu hàng Israel. - Mỹ và Iran cân nhắc lệnh ngừng bắn 45 ngày nhằm ngăn chiến tranh lan rộng. Trung gian là Pakistan, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. - Iran: kế hoạch 15 điểm của Mỹ là ‘vô cùng tham vọng và phi lý’ // Iran: sẽ không mở lại Eo biển Hormuz để đổi lấy một “lệnh ngừng bắn tạm thời” // Nhiều vụ nổ tại t
Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương” (*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ
- Sứ điệp Phục sinh từ Đức giáo hoàng: mọi người hãy buông vũ khí xuống, chọn lựa hòa bình - Trump gõ chữ, chửi thề như mưa trên mạng, đòi Iran mở lại Eo biển Hormuz, nếu không thì Mỹ vào ngày Thứ Ba sẽ xóa sổ tất cả các nhà máy điện và bắn gãy tất cả cầu của Iran. - Trump thú nhận: Đầu năm 2026, Mỹ đã gửi vũ khí qua người Kurd tới ngững người biểu tình ở Iran nhưng thất bại - Ân xá Quốc tế lên án những lời đe dọa ‘ghê tởm’ của Trump - Iran: Bồi thường chiến tranh, mới chịu mở lại Eo biển Hormuz - ứu thành công: Núp trong rặng núi, phi công Mỹ rớt máy bay chỉ có 1 súng lục tự vệ. Hàng trăm biệt kích Mỹ nhảy toán vào vùng bán kính 3 kilomet tới cứu, phi cơ Mỹ bắn cản đoàn quân xa Iran tới vây
150 tỷ phú thuộc khối ASEAN có tên trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes đã chứng kiến ​​tổng khối tài sản của họ sụt giảm 10% – tương đương 61,9 tỷ USD – xuống còn 549,1 tỷ USD trong tháng 3, giảm từ mức 611 tỷ USD của tháng trước đó.
Hy vọng rằng bản tin này sẽ trở thành đóa hoa tặng độc giả trong mùa Lễ phục sinh 2026: Carl Huynh, một sinh viên gốc Việt tại đại học Brigham Young University (BYU), Utah, rủ các bạn khởi động chương trình tặng hoa và bánh mỗi Thứ Năm trong tuần cho những người tình cờ gặp trên phố.
Câu hỏi bây giờ là cậu Barron Trump, 20 tuổi, con trai của Tổng Thống Trump và đệ nhất phu nhân Melania, có nên bị bắt lính khi nước Mỹ tổng động viên hay không? Báo The Hearty Soul hôm 3/4/2026 có bài viết của phóng viên Zain Ebrahim tựa đề "People furious over this 'medical reason' that would prevent Barron Trump from a military draft" (Dư luận phẫn nộ trước 'lý do y tế' khiến Barron Trump được miễn nghĩa vụ quân sự)
• Tuần Lễ Gió Lốc Của Trump: Chiến Sự Iran, Giá Xăng Và Hai Phi Cơ Bị Bắn Rơi • Mỹ Ráo Riết Tìm Phi Công Mất Tích Sau Khi Iran Hô Thưởng Bắt Sống • Thẩm Phán Bác Đề Nghị Của DOJ Về Trát Đòi Nhắm Vào Powell • Cây anh đào già tại Tokyo đổ sụp giữa mùa hoa gây lo ngại an toàn • Hegseth Lo Ngại Bị Thay Thế Bởi Bộ Trưởng Lục Quân • Phó Tổng Thống Vance Gây Ngỡ Ngàng Khi Đưa Hình Nhà Thờ Chưa Từng Ghé Qua Lên Bìa Hồi Ký Tôn Giáo • Biến Thể Covid Ba.3.2 Lan Tới 29 Tiểu Bang • Khảo Sát Mới Cho Thấy Hình Ảnh Của Ông Trump Trên Thế Giới Suy Giảm Mạnh • 23 Tiểu Bang Kiện Ông Trump Về Sắc Lệnh Hạn Chế Bỏ Phiếu Qua Thư • Người Đàn Ông Bị Bắt Ở Viện Dưỡng Lão Vì Vụ Giết Vợ Xảy Ra Từ Hơn 30 Năm Trước
Tất cả trẻ em tại Hoa Kỳ đều bị cưỡng bách đi học, và các em sẽ học miễn phí cho tới lớp 12. Ngay cả trẻ em trong gia đình di dân lậu. Lý do, không đi học sẽ trở thành cao bồi, du đãng, tương lai sẽ là gánh nặng hình sự. Nhiều tiểu bang đỏ buộc trẻ em ghi danh học phải ghi rõ có phải là nhập cư lậu hay không.Hơn 600.000 trẻ em cơ nguy thất học.
Một chiến đấu cơ F-15E của Hoa Kỳ đã bị bắn rơi trên lãnh thổ Iran hôm thứ Sáu, và quân đội Mỹ sau đó đã cứu được một người trong phi hành đoàn, theo lời các giới chức Hoa Kỳ. Chiếc F-15E vốn có hai người điều khiển, vì vậy hiện vẫn còn một cuộc tìm kiếm, cứu nạn đang được tiến hành để truy tìm người còn lại. Trước đó, lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đã lên tiếng nhận bắn hạ một chiến đấu cơ Mỹ ở miền trung nước này, trong khi hình ảnh và video lan truyền trên mạng xã hội cho thấy có thể đã có phi cơ vận tải C-130 và trực thăng Black Hawk của Mỹ bay thấp trên vùng trời Iran để tìm kiếm và thu hồi quân nhân còn lại.
• Giáo Hoàng Leo XIV Vác Thánh Giá Hôm Nay, Bác Lối Mượn Danh Chúa Mà Gây Chiến • Hoa Kỳ Oanh Kích Cầu Gần Tehran, Mở Rộng Mục Tiêu Sang Hạ Tầng Iran • Hegseth Buộc Tướng Randy George Nghỉ Hưu Sớm • Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Yêu Cầu TSA Bỏ Quy Định “Mang Giày”, Lo Ngại Rủi Ro An Ninh • Tổng Giám Mục Quân Đội: Khó Coi Cuộc Chiến Iran Là Điều “Được Chúa Bảo Trợ” • Kinh Tế Hoa Kỳ Thêm 178,000 Việc Làm Trong Tháng 3, Thất Nghiệp Hạ Còn 4.3% • Cuba Ân Xá Hơn 2.000 Tù Nhân Giữa Lúc Bị Hoa Kỳ Gia Tăng Sức Ép • Trump Sa Thải Pam Bondi, Đưa Todd Blanche Lên Quyền Bộ Trưởng Tư Pháp • Macron Đốp Lại Trump, Âu Châu Bực Bội Vì Chiến Tranh Iran • Tòa Bạch Ốc Yêu Cầu 1.5 Ngàn Tỷ Mỹ Kim Cho Quốc Phòng • Trump Đánh Thuế 100% Một Số Thuốc Có Bản Quyền, Nhân Dịp Kỷ Niệm “Liberation Day” • Iran Nói Bắn Rơi Một Chiến Đấu Cơ Hoa Kỳ, Hai Phi Hành Đoàn Đang Được Tìm Kiếm? • California Siết Luật AI, Trở Thành Phép Thử Cho Cả Nước • Thẩm Phán Liên Bang Buộc Khôi Phục Quy Chế Pháp Lý Cho Người Tị Nạn
Ông Carlos đến văn phòng Cơ Quan Thực Thi Di Trú Và Hải Quan (ICE) tại New Mexico vào Tháng Mười Hai. Ông tin rằng mình sắp được đoàn tụ với các con. Vào thời điểm đó, con trai 14 tuổi và con gái 16 tuổi của ông đã ở trong một trại giam người liên bang tại Texas gần một năm sau khi họ vượt biên để tìm ông. “Con cảm thấy như mình đang ngạt thở bên trong trại tạm giữ này, bị mắc kẹt không lối thoát,” con trai của Carlos nói thông qua một luật sư, khi được hỏi về cảm xúc sau nhiều tháng tại cơ sở ở khu vực Houston. “Mỗi ngày đều là cảm giác đó. Mỗi ngày đều cảm thấy bế tắc. Điều đó khiến con cảm thấy vô vọng và khiếp sợ.”
Ngày 19 tháng 3 năm 2026. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết họ sẽ bổ sung thêm 12 quốc gia vào danh sách các quốc gia mà công dân của họ phải đặt cọc khoản tiền bảo lãnh lên đến 15,000 Mỹ kim để xin chiếu khán diện không di dân của Hoa Kỳ. Bắt đầu từ ngày 2 tháng 4, người mang Sổ thông hành của Campuchia, Ethiopia, Georgia, Grenada, Lesotho, Mauritius, Mông Cổ, Mozambique, Nicaragua, Papua New Guinea, Seychelles và Tunisia sẽ phải đóng khoản tiền đặt cọc này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.