Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 253)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Iran trả lời Trump: Iran thề tấn công trả đũa vào hạ tầng năng lượng của Mỹ và Israel. Bị New York Times chỉ trích, Trump trả lời: Mỹ đã ‘xóa sổ Iran khỏi bản đồ!’ Tên lửa Iran 'có thể vươn tới London, Paris hoặc Berlin'. Iran thu phí lên tới 2 triệu USD cho mỗi tàu chở dầu muốn đi qua. Bất chấp lệnh phong tỏa, Iran vẫn tiếp tục xuất cảng dầu thô ở mức gần bằng thời điểm trước chiến tranh. Tổng thống Brazil: Iran bị Mỹ xâm lược y hệt như Iraq đã bị xâm lược với cớ giả tạo. 1 tên lửa nổ gần một con tàu ngoài khơi UAE. Lò hạt nhân Iran bị tấn công, không dấu hiệu hư hại. Tỷ lệ ủng hộ Trump ở mức thấp nhất mọi thời đại vì cuộc chiến Iran và Giá xăng tăng vọt, nợ thẻ tín dụng tăng kỷ lục, 1/3 dân Mỹ không tiền tiết kiệm. Vé phi cơ tăng giá vì chịu hết nổi. Chiến lược gia Cộng Hòa: Trump đã đưa Cộng hòa xuống tận "vũng bùn". Bộ trưởng Quốc phòng Hegseth công khai trích dẫn Kinh Thánh, ca ngợi Thập tự chinh chống Hồi giáo.
Lời đề nghị đó lộ ra trong bản tin của báo Politico hôm 19/3/2026 tựa đề "Putin offers to stop sharing intel with Iran if US cuts off Ukraine" (Putin đề nghị ngừng chia sẻ thông tin tình báo với Iran nếu Mỹ cắt đứt hỗ trợ Ukraine). Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đề nghị Nga sẽ ngừng mọi hoạt động chia sẻ tình báo với Iran nếu Mỹ cũng thực hiện động thái tương tự đối với Ukraine – theo một báo cáo được công bố vào thứ Sáu.
Vào ngày 18 tháng 3, Dân Biểu Hoa Kỳ Derek Tran (Đại diện cho Khu vực bầu cử số 45 của California - phần lớn là Quận Cam), cùng với các Dân Biểu Don Bacon, Marilyn Strickland và Pat Harrigan, đã chính thức đệ trình "Đạo luật Chống lại Ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc" (Combating Chinese Communist Party Influence Act).
Nghìn Năm Trước 50 Năm Tôi không muốn không thể không cách nào xa rời hạt bụi của vũ trụ rơi bên bờ biển xanh.
Phạm trù thi ca văn học vốn dĩ không dễ cụ thể miêu tả một cách luận lý (reasonably) nhưng vẫn là nơi chốn mà con người biểu hiện xúc cảm đặc thù mang tính nghệ thuật. Một cách phổ quát, sáng tác nghệ thuật bắt nguồn từ cảm hứng. Nguồn xúc cảm này tự nhiên vô cầu cho dù sau đó công trình nghệ thuật ấy cho ra kết quả mang tính thẩm định hữu dụng. Bản chất tác phẩm văn thơ tồn tại trong cõi người ta, do đó nó phản ánh trọn vẹn mùi vị cuộc đời. Cũng vì thế mà tôi nôm na xem văn chương chữ nghĩa là cõi bất hạnh do tính biểu hiện phản diện bền vững của nó. Văn học nghệ thuật cống hiến cho con người vô số tác phẩm xuất phát từ bản chất bi đát, phản diện của cuộc đời để rồi được tôn thờ sùng bái hoặc say mê ca ngợi. Nhưng đó chỉ là một mặt trong vô số khuôn mặt của tác phẩm nghệ thuật mà định mệnh của nó, hay nét bi kịch gắn liền với thân phận tác giả một cách tiêu biểu mà không mấy ai xem nó như nghiệp dĩ có thể tránh khỏi.
• Newsom Dẫn Trước Harris Trong Cuộc Thăm Dò Ứng Cử Viên Tổng Thống • Iran Mở Đường Qua Eo Biển Hormuz Nhưng Đóng Với Kẻ Thù • Trump Đùa Cợt So Sánh Pearl Harbor Với Các Cuộc Không Kích Iran • Đơn Xin Trợ Cấp Giảm, Dù Thị Trường Lao Động Vẫn Ảm Đạm • Áp Lực Lên Nhân Viên TSA Ngày Càng Lớn • Pam Bondi Từ Chối Điều Trần Trước Hạ Viện Vụ Epstein • Ngũ Giác Đài Muốn Khai Triển Vệ Binh Quốc Gia Ở DC Đến 2029 • Người Mỹ Ngày Càng Lo Ngại Về Giá Xăng • Israel Dội Thêm Nhiều Cuộc Không Kích Vào Tehran • Tài Tử Meryl Streep Quyên Góp Số Tiền ‘Bảy Con Số’ Cho Bảo Tàng Lịch Sử Phụ Nữ Quốc Gia
Trước khi bị Tổng thống Donald Trump cho rời chức, Bộ trưởng An ninh Nội địa Kristi Noem đã kịp để lại một dự án gây nhiều tranh cãi: mua 11 nhà kho lớn trên khắp nước Mỹ để sửa sang thành trại giam di dân. Các nhà kho này, có nơi đủ sức chứa tới 10.000 người, là phần đầu của một kế hoạch rộng lớn hơn, trị giá khoảng 38 tỉ đô‑la, nhằm gom hệ thống giam giữ di dân về những trung tâm thật lớn do chính phủ trực tiếp làm chủ. Tiền cho kế hoạch đến từ đạo luật One Big Beautiful Bill mà Quốc hội đã thông qua năm ngoái, dành thêm hơn 170 tỉ đô‑la cho Bộ An ninh Nội địa và cơ quan Di trú và Hải quan (ICE). Từ trước tới nay, ICE vẫn chủ yếu thuê chỗ giam từ nhà tù quận, nhà giam địa phương hoặc cơ sở do các hãng tư nhân điều hành. Với kế hoạch mới, ICE muốn tự mua lấy nhà kho, sửa lại thành trại giam kiểu “công nghiệp”, giống như các trung tâm phân phối hàng hóa, để phục vụ mục tiêu trục xuất tới một triệu người mỗi năm theo chủ trương của ông Trump.
Vào ngày 01 tháng 01 năm 2026, Sở Di trú đã ban hành một chính sách hạn chế mới (lệnh cấm) áp dụng đối với người nộp đơn xin chiếu khán di dân và các quyền lợi di trú đến từ 75 quốc gia. Trong hai tháng qua, Sở Di Trú chưa loại bỏ bất kỳ quốc gia nào khỏi danh sách này, do đó lệnh tạm dừng vẫn tiếp tục áp dụng đối với tất cả các quốc gia nêu trên.
Trong những thời điểm bất an, vào những lúc tin tức thời sự tạo cảm giác choáng ngợp, sự hài hước và nghệ thuật trào phúng giúp con người giải tỏa nỗi sợ hãi. Nó cũng là công cụ thách thức quyền lực của kẻ mạnh và tạo ra sự đoàn kết của những người dân yếm thế. Sự hài hước mang lại sức mạnh to lớn, giúp con người vẫn cười trước những tình thế tồi tệ. Chính sức mạnh ấy khiến các nghệ sĩ hài thường xuyên trở thành mục tiêu của những chính trị gia độc đoán; khiến các chế độ độc tài tìm cách kiểm duyệt nghệ thuật trào phúng.
Cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu do chiến tranh Iran bùng nổ từ ngày 28.2 đang trực tiếp đẩy giá xăng tại Mỹ tăng trung bình khoảng 60 xu/gallon. Theo giới chuyên môn, giá dầu thô là yếu tố biến động lớn nhất quyết định giá bán lẻ nhiên liệu, song nó chỉ chiếm khoảng một nửa tổng giá thành mỗi gallon xăng. Hoa Kỳ hiện là nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, song giá xăng nội địa vẫn biến động theo chuẩn giá Brent quốc tế, do các nhà máy lọc dầu vùng Vịnh thường mua theo mức giá này thay vì giá dầu WTI trong nước. Tính đến thứ Sáu vừa rồi, dầu Brent giao dịch quanh 100 USD/thùng, tăng 38% so với trước khi xung đột nổ ra (dữ liệu FactSet).
Các nhà khoa học vừa cảnh báo: quần thể chim ở Bắc Mỹ không chỉ giảm sút, mà tại nhiều nơi tốc độ suy giảm còn đang gia tốc, trùng với những vùng nông nghiệp thâm canh và khí hậu ấm lên nhanh. Công trình mới đăng trên tạp chí Science cho thấy mối tương quan rõ giữa đà suy giảm chim với khu vực dùng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và có diện tích canh tác lớn, song tác giả nhấn mạnh đây là tương quan thống kê chứ chưa chứng minh được quan hệ nhân quả.
Một bản khảo cứu mới công bố cho thấy người dân Hoa Kỳ hiện đang mất hơn 119 tỉ đô-la mỗi năm vì các vụ lừa đảo đủ loại – từ đầu tư tiền điện tử đến giả mạo tình cảm, từ chiêu dụ đầu tư sang nhắn tin “số nhầm” – nhiều gấp bảy lần con số được chính quyền chính thức ghi nhận. Báo cáo do Hội Liên hiệp Bảo vệ Người Tiêu Dùng Mỹ (Consumer Federation of America – CFA) thực hiện, dựa vào nhiều nguồn dữ kiện, trong đó có nghiên cứu năm 2017 của Cục Thống kê Tư pháp Hoa Kỳ. Theo tài liệu ấy, chỉ có khoảng 14 phần trăm các vụ lừa đảo được người bị hại báo cáo đến cơ quan hữu trách. Phần còn lại – 86 phần trăm – trôi vào im lặng. Khi nhân các con số hiện có của FBI lên theo tỉ lệ đó, hội CFA kết luận: tổng thiệt hại thật sự có thể lên tới ít nhất 119 tỉ đô-la hằng năm.
Một quả bom còn sót lại từ thời Thế chiến II vừa được vô hiệu hoá an toàn tại thành phố Dresden (Đức), sau khi buộc chính quyền phải di tản 18.000 cư dân ở khu trung tâm. Quả bom nặng khoảng 550 pound (chừng 250 ký), được phát hiện chiều 10-3 vừa qua trong lúc công nhân đang thi công tái thiết cầu Carola bắc ngang sông Elbe; chiếc cầu này bị sập một phần hồi năm 2024. Ngay sau khi phát hiện, cảnh sát dựng vòng phong toả bán kính khoảng 150 mét quanh hiện trường, sau đó mở rộng lên tới gần 1 cây số rưỡi và lệnh cho dân trong vùng phải rời khỏi nhà. Theo lực lượng cứu hoả, đây là cuộc di tản lớn nhất loại này trong lịch sử Dresden. Hơn 400 cảnh sát và nhân viên cấp cứu được huy động; trực thăng và máy bay không người lái bay rà soát để bảo đảm trường học, nhà cửa, cửa hiệu, văn phòng… chung quanh đều trống người.
Hai tàu dầu Nga sẽ cập bến Cuba ngày 23/3/2026, thách thức lệnh Mỹ phong tỏa. Cuba nói sắp đủ ăn nhờ VN dạy Cuba trồng lúa sản lượng cao. TQ xây hàng chục trại năng lượng mặt trời ở Cuba. Nhiều hội đoàn quốc tế rủ nhau gửi viện trợ nhân đạo cho Cuba trong khi Trump siết cấm vận. Mexico đã gửi Cuba hơn 2.000 tấn hàng viện trợ. Dân Cuba lưu vong chia hai: phe đòi lật đổ chính quyền Cuba, phe đòi cứu đói trước.
Gia đình chúng tôi thành kính cảm tạ và tri ân: Quý Mục Sư và Hội Thánh Tin Lành: Quý Hội Đoàn và Thân Hữu Bắc California: Quý Hội Đoàn và Thân Hữu Nam California: Quý Thân hữu từ các nơi khác, và cùng tất cả Thân bằng Quyến thuộcđã phân ưu, cầu nguyện, thăm viếng, tiễn đưa Chồng, Cha, Ông của chúng tôi là Ông LÊ THÀNH LONG đến nơi an nghĩ cuối cùng. Trong lúc tang gia bối rối, nếu có điều chi thiếu sót, kính xin quý vị niệm tình tha thứ. Tổng cộng tiền phúng điếu là $10,200 đã gửi cho Hội H.O. Cứu Tợ TPB & QP VNCH Bà Quả Phụ Nguyễn Thanh Thủy cùng các con và cháu
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.