Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 36)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao – người bạn học cùng thời Đại Học Văn Khoa hơn nửa thế kỷ trước – xuất hiện trước mắt tôi không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một mảng ký ức đầy tâm sự của nhiều người cùng thế hệ. Tác giả gọi đây là một "tiểu thuyết hồi ký". Gọi là tiểu thuyết, có lẽ bởi sau nửa thế kỷ dâu bể, ký ức đôi chỗ đã mờ nhạt khó nhớ chính xác, nhưng bản chất của những dòng chữ ghi lại thực tế là một pho hồi ký chân thực rất buồn. Làm sao có thể là hư cấu được, khi lật mở từng trang sách, tôi gặp lại những gương mặt quen thuộc của Khoa Triết năm xưa: Tuệ, Hiền, Kỳ, Tân... Họ là những người bạn học nhiều tài năng và hoài bão, sau bước ngoặt của năm 1975, đã cùng Lê Lạc Giao bước vào những trại tù cải tạo dưới danh phận các sĩ quan của một Miền Nam tự do vừa sụp đổ.
Indonesia: tàu khách chở 243 người, bị chìm ở Biển Java, 107 người được vớt, 6 người chết, 130 người còn mất tích - Giá dầu giảm nhẹ hôm nay, nhưng vẫn cao hơn 8% so với tuần trước. Nhiều trạm xăng California phải ghi giá dầu diesel ở mức 9,999 USD/gallon (giá tối đa trên màn hình). Nguồn cung dầu mới từ Venezuela sẽ vào Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược Hoa Kỳ, chưa cho tinh lọc ra thị trường. - Trump kêu gọi Ukraine ngưng tấn công các nhà kho, nhà máy lọc dầu của Nga để giảm giá dầu thế giới.// Mỹ: Nga đòi Ukraine nhượng đất đổi hòa bình, Mỹ hứa hỗ trợ kinh tế hậu chiến, Ukraine nói không cắt đất. - Tập: TQ đi đầu thúc đẩy hợp tác về AI giữa các nước BRICS.// BRICS kêu gọi hòa bình Trung Đông, yêu cầu bảo vệ dân Palestine. - Tập hăm dọa Trump: sẽ không thăm Trump ở Nhà Trắng ngày 24/9 như dự định, nếu Mỹ bán vũ khí mới cho Đài Loan.// Mỹ tố cáo, TQ chối: hình vệ tinh TQ giúp Iran bắn phi đạn vào căn cứ Mỹ, chết 3 lính Mỹ.
Thú thiệt, xin thú thiệt. Rằng tôi chỉ là một tên trộm. Nếu không thành khẩn nói ra, lương tâm của tôi sẽ bị cắn rứt, sẽ tự cảm nhận như dường là ăn gian. Đã rất nhiều thập niên, tôi chỉ là một tên trộm, nhưng có khi đã giả vờ (và đã từng khéo léo làm như tự tin) rằng tôi là một người hộ pháp tận lực. Khi có một bạn thắc mắc rằng vì sao tôi có thể viết nhiều và nhanh về Chánh pháp như thế, xin nói thiệt rằng tôi chỉ trộm lời Đức Phật, đã chép lại kinh điển, và đôi khi xào nấu cho có vẻ hiểu biết. Do vậy, những gì có giá trị trong các bài tôi viết ra chỉ là ghi lại từ Kinh Phật; những gì không có giá trị chỉ là những gì tôi đưa vào làm gia vị. Và tôi đã hạnh phúc làm một tên trộm như thế. Và là, học nghề trộm hương của Chánh pháp.
PHÂN ƯU: Nhận được tin buồn thân mẫu của Cường Dương là Bà: HUỲNH THỊ NGÓ; Pháp danh: Thành Tâm; Mất ngày 09/04/2026 tại Bạc Liêu VN. Hưởng Thọ: 80 tuổi
- Houthi kiểm soát bờ biển Hồng Hải, giúp Iran gia tăng sức ép. - Saudi Arabia đóng đường ống dầu, nguồn cung dầu thế giới thêm bất ổn. - Trump để ngỏ khả năng Trung Quốc được sản xuất xe hơi tại Mỹ. - AI của OpenAI liên quan thêm một vụ tấn công mạng. - Lil Durk được trắng án trong vụ thuê người giết đối thủ. - Một nghi can bị bắt trong vụ người phụ nữ da đen chết trên cây tại Mississippi. - Áo đầm “trả đũa” của Công nương Diana được đem bán đấu giá. - Hàng ngàn tài khoản giả từ châu Phi nhắm vào Thụy Điển trước bầu cử.
Bản tin ngày 11 tháng 9/2026 của báo Mainichi Japan loan từ tỉnh Saitama: Nhiều nhà hàng Việt Nam tấp nập khách gần các ga tàu đã trở nên quen thuộc tại tỉnh Saitama, phía bắc Tokyo. Tuy nhiên, đã xuất hiện nghi vấn cho rằng một trong số các cơ sở này là tụ điểm buôn bán chất kích thích bất hợp pháp. Thông tin này đã khiến các khách hàng bình thường cảm thấy bàng hoàng.
• Nước Mỹ Tưởng Niệm 25 Năm 9/11: Trump Ở Ngũ Giác Đài, Vance Cùng Bốn Cựu Tổng Thống Tại Ground Zero • Lạm Phát Mỹ Vẫn Ở 3.4%, Giá Xăng Đẩy Vật Giá Lên • Hung Cao Nói “Iran Đánh Tan Hoang” Căn Cứ Hải Quân Mỹ Ở Bahrain • Kimmel Không Phát Phỏng Vấn Ứng Cử Viên Dân Chủ, Nói Vì FCC Đe Dọa ABC • OpenAI Kêu Gọi Luật An Toàn AI Bắt Buộc • Iran Sản Xuất Hỏa Tiễn Đạn Đạo Trở Lại • Tòa Liên Bang: Hiến Pháp Mỹ Không Bảo Đảm Quyền Có Nước Sạch • Sáu Người Nigeria Bị Cáo Buộc Lừa Tình Hơn 100 Phụ Nữ Mỹ, Chiếm Trên $6 Triệu • California Cấm Mạng Xã Hội Dùng Chiêu Gây Nghiện Với Trẻ Dưới 16 Tuổi • Công Tố Viên Điều Tra Những Người Thuộc “Sổ Đen” Của Trump Từ Chức • Quốc Hội Mỹ Báo Động Sau Cảnh Báo AI Có Thể Diệt Loài Người • Vitamin D, Dầu Cá, Glucosamine: Lợi Hay Hại Cho Não Người Lớn Tuổi?
Nhà văn Cung Tích Biền, tên thật là Trần Ngọc Thao, pháp danh Minh Thể, đã từ trần hôm 9/9/2026, theo tin từ gia đình. Cung Tích Biền là một nhà văn, nhà báo nổi bật của văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954–1975. Ông sinh ngày 8 tháng 2 năm 1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông từng theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Cung Tích Biền nổi tiếng với văn phong đầy ẩn dụ, hình ảnh dữ dội, mang tính hiện sinh, và mang ước mơ hòa bình khi ghi nhận về thân phận con người và sự tàn khốc trong thời kỳ nội chiến.
Chính quyền Tổng thống Trump đã tạm dừng tất cả các hồ sơ xin chiếu khán di dân của Hoa Kỳ. Bộ Ngoại giao đang cố gắng siết chặt các quy định và hạn chế cấp chiếu khán cho những đương đơn bị đánh giá là có nguy cơ trở thành gánh nặng cho xã hội (tức là những người sẽ phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chính phủ Hoa kỳ).
Maria Rocio Rocha đến văn phòng di trú ở San Antonio, Texas, ngày 25 tháng Tám để dự một cuộc phỏng vấn xin thẻ xanh. Bà không trở về nhà. Nhân viên Cơ Quan Di Trú và Hải Quan Hoa Kỳ (U.S. Immigration and Customs Enforcement, gọi tắt ICE) bắt bà ngay tại văn phòng của Cơ Quan Di Trú và Quốc Tịch Hoa Kỳ, rồi đưa bà tới Trung Tâm Di Trú Dilley ở miền nam Texas. Tám ngày sau, đêm 2 tháng Chín, bà bị trục xuất sang Mexico. Con trai bà, David Garcia, vừa bắt đầu năm thứ nhất tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland. Garcia được Dân Biểu Joaquin Castro của Texas đề cử vào học viện và bắt đầu chương trình huấn luyện trong mùa hè năm nay.
Muốn xài điện mặt trời nhưng không có mái nhà rộng, không muốn gọi thợ kéo dây, hoặc đơn giản là đang thuê apartment? California đang tính mở thêm một đường: mua tấm pin nhỏ, đặt ngoài ban công hay ngoài sân, rồi cắm vào ổ điện. Cơ Quan Lập Pháp California vừa thông qua dự luật SB 868, cho phép những hệ thống điện mặt trời nhỏ — thường gọi là “điện mặt trời ban công” — hoạt động qua ổ điện thông thường trong nhà.
Mới cách đây vài năm, người máy hình người còn nổi tiếng vì… đi vài bước rồi té. Nay chúng đã biết chạy, leo trèo, vượt chướng ngại vật, và quân đội Trung Quốc bắt đầu nghĩ đến chuyện cho chúng đi lính. Tháng Tám vừa qua, Trung Quốc tổ chức Đại Hội Người Máy Hình Người Thế Giới, nơi các robot tranh tài trong nhiều môn khác nhau. Cũng trong tháng đó, hãng Unitree tuyên bố một mẫu robot của họ có thể chạy nhanh hơn cả Usain Bolt, dù thành tích này chưa được kiểm chứng độc lập.
Hệ thống cấp cứu 911 của Hoa Kỳ đang bị xem là quá lỗi thời so với kỹ thuật điện thoại hiện nay, đặc biệt trong việc xác định chính xác vị trí người gọi từ điện thoại di động. 911 được đưa vào sử dụng năm 1968, thời phần lớn cuộc gọi đến từ điện thoại bàn gắn với một địa chỉ cố định. Khi đó, tổng đài có thể nhanh chóng đối chiếu số điện thoại với địa chỉ trong hồ sơ rồi điều cảnh sát, cứu hỏa hoặc xe cứu thương tới nơi. Nhưng tới năm 2024, hơn ba phần tư số cuộc gọi 911 đã đến từ điện thoại di động, điện thoại qua Internet hoặc các dịch vụ không dây khác. Chỉ khoảng 7% còn đến từ điện thoại bàn; tại nhiều tiểu bang, tỷ lệ này đã xuống dưới 5%.
Các hãng xe Trung Quốc, sau nhiều năm tràn ngập thị trường thế giới bằng những chiếc xe giá rẻ nhưng kỹ thuật ngày càng cao, nay đang tiến thêm một bước: mang cả nhà máy ra ngoại quốc. Hơn một thế kỷ trước, Ford từng đi con đường tương tự. Năm 1911, hãng xe Mỹ mở cơ sở sản xuất lớn đầu tiên ở Manchester, Anh Quốc, từ đó biến một công ty thống trị thị trường trong nước thành một hãng xe toàn cầu. Ngày nay, khi Ford và nhiều hãng xe Tây phương đang thu hẹp sản xuất, các công ty Trung Quốc lại bắt đầu đi theo con đường ấy với tốc độ rất nhanh.
Tiếng reo nổi lên trong nhà hát Altes Theater ở Magdeburg tối Chủ Nhật, 6 tháng Chín, khi những con số đầu tiên hiện trên màn ảnh. Đảng cực hữu Alternative für Deutschland (Alternative for Germany, gọi tắt AfD) giành 43.8% số phiếu tại bang Saxony-Anhalt, hơn gấp đôi kết quả năm 2021 và là thắng lợi lớn nhất của đảng này từ trước tới nay trong một cuộc bầu cử cấp bang ở Đức. Nhưng thắng lớn chưa có nghĩa là cầm quyền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.