Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 293)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



• Công Tố Viên Gốc Việt Bị Ngưng Nhiệm Vụ Sau Phát Biểu Chấn Động Tòa Di Trú • Vì Sao Chú Ngựa Bính Ngọ Bị Lỗi Trở Nên Nổi Tiếng? • Chính Quyền Trump Rút 700 Đặc Vụ Liên Bang Khỏi Minnesota • Washington Post Sa Thải Hàng Trăm Ký Giả • Trump Tiếp Tục Đòi ‘Quốc Hữu Hóa’ Bầu Cử • Fulton County Đòi FBI Trả Lại Hồ Sơ Bầu Cử 2020 • Chính Phủ Anh Hành Động Khi Cựu Đại Sứ Tại Mỹ Có Tên Trong Hồ Sơ Epstein • Melinda Gates: ‘Một Nỗi Buồn Không Thể Tin Được’ • Tượng "Thiên Thần (Thủ Tướng Ý) Meloni" Bị Xóa Khỏi Nhà Thờ Ở Rome • Trung Quốc Đe Dọa Sau Phán Quyết Về Kênh Đào Panama
Những người soạn Tự Điển Bách Khoa Mở (Wikipedia) không chú ý nhiều về Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất, trong khi Tự Điển này là nơi được người học Phật tham khảo nhiều nhất, mỗi khi có thắc mắc, bất kể rằng tính xác thực của Wikipedia có khi không chính xác, bởi vì bất kỳ ai giỏi về kỹ thuật vi tính đều có quyền góp ý trên đó. Bài này sẽ tìm thêm một số thông tin liên hệ về kỳ Kết tập này, và người viết (tự thấy học lực chẳng bao nhiêu) nơi đây sẽ không dám đưa vào bình luận theo bất kỳ ý riêng nào. Tất cả các liên kết mạng sẽ ghi cuối bài để người học Phật khảo sát thêm.
Richmond, Virginia, 3-2 – Trưa thứ Hai, các trục đường quanh Quốc hội tiểu bang Virginia bỗng đông nghịt người, không phải vì một cuộc vận động chính trị, mà để tận mắt chứng kiến đoàn 19 nhà sư áo cà-sa màu cam lặng lẽ đi bộ qua trung tâm thành phố, đánh dấu ngày thứ 100 của hành trình “Walk for Peace” từ Texas hướng về Hoa Thịnh Đốn. Theo ước tính của văn phòng thị trưởng, khoảng mười ngàn người đứng kín hai bên đường, từ khu vực Quốc hội tiểu bang đến Tòa thị chính Richmond, bất chấp gió lạnh và những mảng băng còn đọng trên lề phố. Cảnh sát tạm phong tỏa một số giao lộ lớn, tháp tùng đoàn sư đi lên dốc Ninth Street. Thỉnh thoảng, vài cảnh sát viên bước ra trao tận tay các vị sư những bó hoa nhỏ, giữa tiếng người trên vỉa hè vang lên những lời chào giản dị: “we love you”, “thank you”. Cuộc đi bộ vì hòa bình dài chừng 2.300 dặm, dự trù kéo dài 120 ngày, khởi hành từ vùng Fort Worth, Texas. Đến nay, đoàn đã băng qua tám tiểu bang và chỉ còn chưa đầy 200 dặm trước khi tới thủ đô.
Báo Independent hôm 3/2/2026 loan bản tin "‘Don Colossus’ — a 22-foot tall Golden statue of Trump — is set to rise where US will host world leaders for G20" (‘Don Colossus’ — bức tượng vàng cao 22 feet của Trump — dự kiến ​​sẽ được dựng lên tại nơi Mỹ sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh G20).
Một bát, ba y ngàn dặm xa (*) / Lạnh cắt tiết đông rảo muôn nhà / Chạm đất chân đau niềm nhân thế / Chạnh lòng du tử mở đường qua
Các nhà sư đi bộ vì hòa bình gởi đến mọi người trên đất Mỹ thông điệp từ bi, cảm thông, bao dung, hòa bình. Những bước chân hòa bình hiện thực hóa thông điệp của đức Phật từ 26 thế kỷ trước. Những bước chân hòa bình chính là thân giáo, noi theo con đường đức Phật đã khai phá và đã đi trong quá khứ.
Tuyên bố của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam và Người Bảo vệ Nhân quyền ngày 3 tháng 2 năm 2026 về việc Hà Nội đàn áp người bảo vệ nhân quyền và nhà báo ở hải ngoại Ngày 30 tháng 1 năm 2026, Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng với tội danh “khủng bố” theo Điều 299 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Chính quyền cáo buộc ông “chỉ đạo, xúi giục và hỗ trợ” Y Quynh Bdap hướng dẫn một số cá nhân trong nước thực hiện các hành vi khủng bố và giết người liên quan đến các vụ tấn công ngày 11 tháng 6 năm 2023 tạitỉnh Đắk Lắk.
Làm thế nào để cứu được nền dân chủ ở Hoa Kỳ, trong khi Trump tàn bạo chà đạp Hiến Pháp? Làm thế nào quyền dân và quyền người của công dân Hoa Kỳ được tôn trọng trong khi Trump chà đạp mọi quy ước văn minh Hoa Kỳ từng nêu lên để làm lý tưởng? Nhà nghiên cứu William S. Becker viết bài tựa đề "Forget Project 2025 — Trump is following King George’s playbook" (Hãy quên Dự án 2025 đi — Trump đang đi theo chiến lược của Vua George
• Hình Của Thị Trưởng New York Và Epstein Là Do AI Tạo Ra • Tài Liệu Nội Bộ Tiết Lộ Việt Nam Đang Chuẩn Bị Cho Cuộc Chiến Xâm Lược Của Mỹ • Hôm Nay Là Phép Thử Cho Lòng Trung Thành Của Cộng Hòa Dành Cho Trump • Kế Hoạch $45 Tỷ Mở Rộng Trại Giam Di Dân Của Trump Gặp Trở Ngại Từ Cộng Đồng Địa Phương • Làm Sao Kiện Khi Bị Đặc Vụ ICE Lạm Dụng Quyền Lực? • DOJ Gỡ Hàng Ngàn Hồ Sơ Epstein Khỏi Trang Web Vì Lộ Danh Tính Nạn Nhân • Vợ Chồng Clinton Đồng ý Điều Trần Vụ Epstein • Chánh Án Bỏ Lệnh Ngăn DHS Tiêu Hủy Bằng Chứng Vụ Bắn Ở Minneapolis • Trump Ngang Nhiên Đòi Harvard Trả $1 Tỷ Đô La Tiền Kiện Tụng • Cựu Xướng Ngôn Viên CNN Don Lemon Từng Đề Nghị Gặp Bộ Tư Pháp • Fulton County, Georgia Kiện FBI Và DHS Đã Thu Giữ Hàng Trăm Thùng Phiếu Bầu • Cảnh Sát Đột Kích Nhà Ở Pháp Của Elon Musk
Bản tin sau đây là của AP ngày 2/2/2026, cho biết chính phủ Hà Nội đã lên một kế hoạch phòng thủ vì tin rằng chính phủ Mỹ sẽ khởi động chiến tranh để chiếm Việt Nam. Bản tin AP của 2 phóng viên David Rising và Aniruddha có tựa đề "An internal document shows the Vietnamese military preparing for a possible American war"
Bạn biết rồi. Phụ nữ tại Hoa Kỳ thường đổi tên, khi lấy chồng. Và thường khi, nhiều giấy tờ chưa kịp đổi theo, hoặc sau khi ly dị, nhiều người giận chồng tới mức muốn đổi về tên cũ, hoặc thời gian sau sẽ đổi theo họ của chồng mới (bạn biết rồi, chuyện ly dị là bình thường ở Mỹ, có những người phụ nữ phản ứng rất nhanh nhẹn)... Chỉ vì sơ hở, họ có thể bị Cộng Hòa quăng bỏ lá phiếu, nếu không chứng minh đủ giấy tờ cho các tên họ như thế.
- Tô Lâm: VN luôn đoàn kết, ủng hộ và sát cánh cùng Cuba, kêu gọi bỏ cấm vận Cuba, hứa giúp Cuba tự chủ lương thực (có lẽ sẽ nhờ kiều dân Cuba gửi tiền cứu Cuba?) - Tổng thống Mexico: tạm ngưng chở dầu tới Cuba, nhưng sẽ chở thực phẩm và viện trợ nhân đạo cho Cuba (bất kể Trump trù dập). Hy vọng chở dầu tới Cuba qua đường ngoại giao - Dẹp bỏ lời Trump chỉ trích: Thủ tướng Anh Keir Starmer nói hợp tác với TQ vì lợi ích quốc gia, lên án chính phủ Anh tiền nhiệm bỏ lỡ 8 năm không kết thân với TQ - Trump đánh thuế quan tứ phía, dọa áp thuế 50% với phi cơ từ Canada, sau khi dọa áp thuế 100% nếu Canada ký thương mại với TQ, dọa áp thuế Mexico nếu cứ gửi dầu tới Cuba, áp thuế Nam Hàn lên 25% từ mức 10% - Báo Daily Mail: Epstein gài bẫy tình cho tình báo Nga và có thể cho cả Israel (vì bố của cô Ghislaine Maxwell là gián điệp đôi cho Israel-Nga. Serbia nghi Mỹ sắp dội bom Iran để tin về Epstein bị quên đi. - LS của 200 nạn nhân của Epstein xin tòa khẩn cấp buộc Bộ Tư pháp gỡ bỏ trang web
Napa Valley Asian American Film Festival (NVAAFF), liên hoan phim thường niên của cộng đồng gốc Á tại thung lũng Napa, sẽ trở lại trong hai ngày 6 và 7 tháng 2 năm 2026 tại Napa Valley College. Liên Hoan Phim năm nay tiếp tục giới thiệu những tiếng nói sinh động của các nhà làm phim Á châu và Mỹ gốc Á trong một không khí hội hè, nơi điện ảnh, ẩm thực và sinh hoạt cộng đồng gặp nhau. Song song đó là nỗ lực tăng cường gắn bó với địa phương, thông qua hợp tác cùng các nhà hàng, nhà làm rượu vang, nghệ nhân, các cơ sở kinh doanh nhỏ độc lập trong vùng, cũng như tập thể giảng viên và sinh viên Napa Valley College.
– Bé 5 Tuổi Liam Conejo Ramos Được Thả, Trở Về Minnesota Sau Những Ngày Bị ICE Giam Ở Texas – Bế Tắc Tại Hạ Viện: Chưa Biết Ngày Mở Lại Chính Quyền Vì Ngân Sách Di Trú – Báo Động Cháy Làm Sân Bay Orlando Tê Liệt Tạm Thời – Ba Nghi Can Bị Bắt Sau Vụ Nổ Súng Liên Can Đến Tống Tiền Ở Surrey, Canada – Minnesota: Biểu Tình Chống Chiến Dịch Di Trú Vẫn Sôi Động – Dân Chủ Lật Thế, Thắng Ghế Thượng Viện Tiểu Bang Texas Trong Bầu Cử Đặc Biệt – Liên Hiệp Quốc Báo Động Xã Hội Dân Sự Bị Siết Ở Nhiều Nước – “KPop Demon Hunters” Lập Kỷ Lục Grammy, Đánh Dấu Bước Tiến Lịch Sử Của K-Pop – Trump dự định đóng cửa Trung tâm Kennedy hai năm để tân trang toàn diện
Một ứng viên Dân chủ đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử đặc biệt vào Thượng viện bang Texas, lật lại chiếc ghế do đảng Cộng hòa nắm giữ suốt nhiều thập kỷ — kết quả mà đối thủ Cộng hòa gọi là “một hồi chuông cảnh tỉnh” cho đảng trước kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 tới. Taylor Rehmet, một thợ máy thuộc nghiệp đoàn và cựu quân nhân Không quân Hoa Kỳ, đã thắng với cách biệt hơn 14 điểm phần trăm trước Leigh Wambsganss — nhà hoạt động Cộng hòa được Tổng thống Donald Trump hậu thuẫn. Mặc dù Trump cố gắng vận động cử tri vào phút chót, nhưng sau đó ông nói mình “không liên quan nhiều” vì đây chỉ là “cuộc đua cấp địa phương”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.