Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 424)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Trong khu phố Capitol Hill của thành phố Seattle thuộc tiểu bang Washington, các cảnh sát đã rút lui và cho phép những người biểu tình chiếm lấy một phần của thành phố, nơi được gọi là "Khu Tự Trị Đồi Capitol". Sở Cảnh Sát Seattle đã rời khỏi Khu Vực Đông vào Thứ Hai và đã đóng ván lên các cửa sổ và cửa ra vào. Kể từ đó, những người biểu tình đã rào chắn xung quanh khu vực và biến nó thành khu vực không có cảnh sát của riêng họ để biểu tình. Cảnh sát thành phố Seattle thuộc tiểu bang Washington cho biết họ đã nhận được nhiều báo cáo về các nhân viên an ninh có vũ trang và khả năng tống tiền trong một khu tự trị tự tuyên bố kéo dài một nhiều khúc đường và bao gồm một khu vực hiện đang đóng cửa.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tố cáo chính quyền CSVN vẫn tiếp tục đàn áp tôn giáo trong năm 2019 qua bản báo cáo về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế mà bộ này công bố hôm 10 tháng 6, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết.
Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg cùng quý dân cử: Dân Biểu Tyler Diệp, Dân Biểu Phillip Chen, Dân Biểu Sharon Quirk-Silva, Dân Biểu Steven Choi, Dân Biểu William P.Brough, Thượng Nghị Sĩ Ling Ling Chang, và Thượng Nghị Sĩ Patricia C.Bates vừa đồng ký tên trong một bức thư gửi đến Thống Đốc Gavin Newsom mang nội dung yêu cầu không đình hoãn việc mở cửa lại các tiệm Nail.
Rồi đây các sử gia sẽ lượng giá biến cố Minneapolis, mới đầu tưởng chừng như nhỏ bé, bình thường vì biết bao người Da Đen đã từng bị cảnh sát Da Trắng bắn chết một cách oan uổng, nhưng không ngờ biến cố này lại gây tác động toàn cầu. Nguyên do tại đâu?
Sau đây là thông tin từ Sở Thuế Hoa Kỳ (IRS) mà Việt Báo xin dịch để cống hiến cho độc giả khi cần. Nếu bạn vẫn đang chờ ngân phiếu tài trợ kích thích kinh tế, bạn có thể tự hỏi khi nào nên liên hệ với IRS về số tiền bị thiếu. Mặc dù IRS đã gửi hơn 159 triệu ngân phiếu cho đến nay, nhưng nó có thể còn hơn 35 triệu để gửi đi, theo một ước tính gần đây của ủy ban House Way and Means (PDF). Nếu bạn thuộc nhóm sau, chúng tôi có thông tin về cách tìm hiểu điều gì đang xảy ra với khoản tiền của bạn và, nếu cần, hãy liên hệ với IRS để được trợ giúp. Trong trường hợp tốt nhất, tiền của bạn vẫn có thể đang trên đường gửi tới. Tuy nhiên, ngân phiếu của bạn cũng có thể bị trì hoãn, vì một trong nhiều lý do. Có thể có vấn đề bạn cần báo cáo hoặc một số hành động khác bạn cần thực hiện để nhận khoản tiền cứu trợ vi khuẩn corona của mình.
Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi hôm Thứ Tư, 10 tháng 6 kêu gọi loại bỏ các bức tượng Liên Minh trong tòa nhà Quốc Hội sau khi có các cuộc gọi mới đòi loại bỏ chúng khỏi những nơi công cộng sau cái chết của George Floyd. Nhà lập pháp Dân Chủ California đã viết một lá thư cho Ủy Ban Hỗn Hợp về Thư Viện, nơi giám sát các bức tượng ở Quốc Hội Hoa Kỳ, kêu gọi loại bỏ các cổ vật này vì chúng tôn sùng kỷ nguyên nô lệ của nước Mỹ. "Hội trường của Quốc Hội là trung tâm của nền dân chủ của chúng ta. Những bức tượng trong Tòa Nhà Quốc Hội nên thể hiện lý tưởng cao nhất của chúng ta như là những người Mỹ, thể hiện chúng ta là ai và chúng ta mong mỏi trở thành một quốc gia," theo bà Pelosi nói trong thư. "Những tượng đài cho những người đàn ông ủng hộ sự tàn ác và man rợ để đạt được mục đích kỳ thị chủng tộc rõ ràng như vậy là một sự kỳ cục đối với những lý tưởng này. Những tượng của họ vinh danh sự thù hận, không phải di sản. Chúng cần phải bị loại bỏ.”
Gần một nửa tổng số người dân California sống ở những khu vực nơi bị nhiễm vi khuẩn corona và vào bệnh viện đang tăng nhanh đủ để đưa các quận của họ vào danh sách theo dõi khả năng phục hồi việc tái phong tỏa, theo một phân tích của Reuters cho biết hôm Thứ Tư, 10 tháng 6 năm 2020. Theo phân tích của Reuters, hơn 18 triệu người trong số 39 triệu cư dân ở tiểu bang đông dân nhất của Hoa Kỳ sống ở các quận nơi tỷ lệ tăng đã đưa họ vào danh sách theo dõi mà cuối cùng có thể yêu cầu họ quay ngược lại những nỗ lực tái mở cửa. Nhìn chung, đã có 133,489 trường hợp lây nhiễm ở California vào Thứ Ba và gần 4,700 trường hợp tử vong. Được thúc đẩy một phần bởi sự gia tăng các cuộc tập hợp đông người và truyền nhiễm tại nơi làm việc, dữ liệu của tiểu được cập nhật hôm Thứ Ba cho thấy sự lây truyền và vào bệnh viện gia tăng ở 9 quận, bao gồm các trung tâm dân cư như các quận Los Angeles, Sacramento và Fresno, cũng như các quận Tulare và Imperial nông thôn.
Một bức tượng của Christopher Columbus ở Virginia đã bị những người biểu tình xô ngã, sau đó họ đã đốt nó và ném nó xuống hồ, trong hành động mới nhất chống lại các di tích sau cái chết của George Floyd. Bức tượng, ở thành phố Richmond, đã bị lật đổ vào tối Thứ Ba, 9 tháng 6 năm 2020 chưa đầy hai giờ sau khi những người biểu tình tập trung tại Công Viên Byrdrd của thành phố đang hô vang để đưa nó xuống, theo các tường trình cho biết.
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Hơn 3,300 học sinh sẽ tốt nghiệp trung học tại 8 trường thuộc Học Khu Garden Grove vào hai ngày thứ năm và thứ sáu, 11 và 12 tháng 6. Vì giới hạn của bệnh dịch Covid-19, tất cả các lễ ra trường sẽ được thâu trước và phát hình qua hệ thống điện toán để mọi người có thể tham dự từ nhà riêng của minh. Thêm vào chương trình phát trên lưới điện toán, một số đài truyền hình Việt Ngữ đã đồng ý phát hình trực tiếp các lễ ra trường qua làn sóng truyền hình vào cùng giờ theo chương trình để mọi người có thể tham dự. Tất cả các học sinh, thân nhân và bạn hữu trên toàn trường chứ không riêng gì thính giả gốc Việt cũng được mời theo dõi chương trình qua truyền hình vì chương trình vẫn được thực hiện bằng Anh Ngữ.
Laguna Beach, CA- Hôm nay, Dân Biểu Harley Rouda (CA-48) đã nhận giải thưởng đầu tiên của Abraham Lincoln Leadership for America Award, công nhận những thành viên của Quốc Hội thể hiện sự lãnh đạo lưỡng đảng. “Thật là một vinh dự khi được nhận giải thưởng Abraham Lincoln Leadership for America Award từ Phòng Thương Mại Hoa Kỳ”, ông Rouda nói. “ Người dân Mỹ đang trông chờ Quốc Hội tạo ra và thực hiện những giải pháp có lý lẽ chung. Tôi sẽ tiếp tục làm việc với cả hai đảng để đạt được sự thay đổi cho những gia đình và doanh nghiệp nhỏ tại Quận Cam”.
Trong phiên họp Hội Đồng Thành Phố Garden Grove, tối thứ Ba ngày 9 tháng 6, Nghị Viên Bùi Phát đã lên tiếng yêu cầu Hội Đồng Thành Phố đồng viết thư (Official Letter) ngay và sau đó ra Nghị Quyết (Resolution) cho Thống Đốc Newsom yêu cầu Ông lập tức cho mở cửa các tiệm nails như Ông đã cho các tiệm hớt tóc mở cửa, chứ không phải đợi đến đợt 3 hay đợt 4 của Reopening California. Ông Bùi Phát lên tiếng, tiệm nails cũng tương tự như tiệm tóc, người làm nails cũng tiếp cận gần kề với khách hàng tương tự như người hớt tóc. Không những thế, người hớt tóc còn tiếp cận gần mặt của khách hàng hơn người làm nail. Vấy thì, tại sao lại cho tiệm hớt tóc mở cửa mà không cho tiệm nail? Dựa trên căn bản y tế nào hay chỉ dựa trên thành kiến là bịnh Corvid-19 tại California xuất phát từ một tiệm nail trên vùng San Francisco mà có sự phân biệt không công bằng. Bệnh Corvid đã lây lan từ tất cả mọi cửa hàng như tiệm tóc, nhà hàng, chợ, v/v.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Joe Biden hy vọng sẽ là tổng thống của Đảng Dân Chủ đã thể hiện một giai điệu hợp nhất với những người thương tiếc trong bài phát biểu được chiếu qua video của ông tại tang lễ của George Floyd ở Houston hôm Thứ Ba, 9 tháng 6 kêu gọi bình đẳng chủng tộc và cải tổ cảnh sát trên toàn quốc. "Chúng ta không thể quay lưng. Chúng ta không được quay đi," ông Biden nói trong một video từ nhà của ông ở Delaware đến nhà thờ Fountain of Praise ở Houston. “Chúng ta không thể rời bỏ thời điểm này vì nghĩ rằng chúng ta có thể một lần nữa quay lưng lại với sự kỳ thị chủng tộc, mà làm đau đớn tâm hồn của chúng ta, từ sự lạm dụng có hệ thống vẫn còn làm khổ cuộc sống của người Mỹ,” ông nói tiếp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.