Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 355)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Một người chủ tiệm thẩm mỹ tại Texas đang ngồi tù vì mở cửa cơ sở kinh doanh của bà sớm và vi phạm sắc lệnh hành pháp phải ở trong nhà của thống đốc để chận sự lây lan của vi khuẩn corona, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5. Shelley Luther đã được nhìn thấy xuất hiện trong tòa án dân sự và tội hình hôm Thứ Ba tại thành phố Dallas vì bất chấp lệnh hạn chế tạm thời cấm bà ấy hoạt động kinh doanh, là tiệm Salon A la Mode, theo hồ sơ tòa án cho biết. Kết quả, Chánh Án Tòa Địa Hạt Dân Sự Dallas là Eric Moyé đã ra lệnh bà Luther ngồi tù 7 ngày và nạp tiền phạt $500 cho mỗi ngày mà cửa tiệm thẩm mỹ còn mở cửa.
Hôm nay, Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg (D-Orange County), Chủ tịch Ủy ban Thượng viện về Bầu cử và Sửa đổi Hiến pháp, cùng Dân Biểu Marc Berman (D-Menlo Park), Chủ tịch Ủy ban Hạ viện về Bầu cử và Tái phân bổ, vừa công bổ gói Dự luật (SB423 và AB860) nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và quyền bầu cử trước cuộc Tổng Tuyển Cử 2020 sẽ xảy ra trong bối cảnh đầy lo ngại của đại dịch COVID-19.
Kim Jong Un đã không xuất hiện trước công chúng hơn vài tuần qua bởi vì lo sợ về vi khuẩn corona – không phải giải phẫu tim – theo cơ quan tình báo Nam Hàn cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5. Sự công bố nói trên đến sau khi nhiều thành viên của quốc hội Nam Hàn được báo cáo bởi Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia (NIS) hôm Thứ Tư, theo bản tin của Reuters cho biết. Kim xuất hiện trở lại lần đầu tiên trong gần 3 tuần vào Thứ Sáu tuần rồi tại một xưởng chế tạo phân bón gần thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Hàn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CSVN Nguyễn Phú Trọng là người thích nói dai và nói dài chuyện “chuẩn bị nhân sự Đại hội đảng XIII”, diễn ra vào thượng tuầng tháng 01 năm 2021, nhưng ông lại không dám thanh toán những kẻ khai gian tài sản. Và một lần nữa, vẫn húc đầu vào chủ nghĩa lỗi thời Mác-Lenin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh để cai trị độc tài, độc đảng.
Dẫn nhập: Wuhan virus tấn công toàn cầu. Đại dịch Corona đang xảy ra chưa biết chấm dứt khi nào?. Có vài thơ, bản nhạc liên quan phổ biến trên internet. Ngày 12.4 tình cờ thấy bài thơ của Phi Loan Hoàng Thị Cỏ May phổ biến trên facebook ngày 11.04.2020 và vì có quen biết với Thi Sĩ tác giả là thành viên của Câu Lạc Bộ Tình Nghê Sĩ (USA) qua mạng ảo nên tôi đã thực hiện một Thơ Tranh cho O nớ. Tật "xí xọn" không chừa nên cũng phổ thành nhạc NHƯNG sau vài câu … - đúng là nghiệp dư và tài tử có khác - gác lại đó. Hôm qua ngẫu hứng lôi nó ra soạn tiếp và hôm nay đi xa hơn chút xíu nữa. Như có lần tôi đã nói "Thưc hiện Tranh Thơ, youtube, viết lách, học nhạc hàm thụ là những phương thức để giải trí khi về hưu, về già nên đã kết hợp các môn giải trí kể trên để hoàn thành bài tạp ghi này. Tất cả chỉ là nghiệp dư mong các chuyên gia, nhạc sĩ nhà nghề hoan hỷ cho mọi sơ sót. Đa tạ (LNC).
Thông tin 3 bác sĩ Nga bí mật bị rơi từ những cao ốc bên Nga, trong không đầy một tuần, cùng cái chết tự tử của bác sĩ Lorna Breen ở Hoa Kỳ, đã làm nao núng thế giới. Tại sao họ chết và con số tử vong của bác sĩ và nhân viên y tế tăng cao trong những ngày dầu sôi lửa bỏng của đại dịch, là 1 câu hỏi được đặt ra trong 1 bài viết của đài truyền hình CNN. Họ bị giết hay nhảy lầu tự vẫn mà chính quyền Nga báo cáo là bị rơi ra từ cửa sổ của các cao ốc khiến hai người tử vong, người thứ ba, Alexander Shulepov, đang ở trong tình trạng nguy kịch. Khi được CNN hỏi nguyên nhân gây ra tai nạn, giới chức có thẩm quyền của Nga từ chối trả lời. Đài CBS thì gọi đó là những cái chết bí mật. Giới truyền thông có những bài bình luận phê phán điện Cẩm Linh và chính quyền Putin rằng họ đã che dấu sự thật.
Một nhà nghiên cứu y học nói rằng đã tới “sát việc tạo ra những khám phá vi khuẩn corona rất quan trọng” đã được tìm thấy bị bắn chết tại tiểu bang Pennsylvania, theo bản tin của Đài NBC News cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5 năm 2020. Bing Liu, 37 tuổi, là nhà nghiên cứu tại Trường Y Khoa thuộc Đại Học Pittsburgh, đã được tìm thấy chết hôm Thứ Bảy bên trong một căn nhà tại miền bắc thành phố Pittsburgh, theo viên chức giảo nghiệm y khoa của Quận Allggheny cho biết. Ông ấy đã bị bắn vào đầu và cổ.
Theo một nghiên cứu mới của các nhà khoa học tại Phòng Thí Nghiệm Quốc Gia Los Alamos, các nhà khoa học đã xác định được một giống mới của vi khuẩn corona đã khống chế trên toàn thế giới và dường như dễ lây truyền hơn các phiên bản lan truyền trong những ngày đầu của đại dịch COVID-19. Biến dạng mới này đã xuất hiện vào tháng 1 tại Châu Âu, di chuyển nhanh tới Bờ Biển Miền Đông của Hoa Kỳ và đã là giống khống chế khắp thế giới kể từ giữa tháng 3, theo các nhà khoa học viết như thế. Cộng vào sự lây lan nhanh hơn, nó có thể làm con người dễ bị tổn thương với đợt truyền nhiễm thứ hai sau đợt đầu với dịch bệnh, theo phúc trình cảnh báo.
Tính tới Thứ Ba, 5 tháng 5, Hoa Kỳ đã có 1,233,146 trường hợp bị lây vi khuẩn corona, với 71,921 người thiệt mạng. Tổng số đó là bao gồm các trường hợp lây bệnh từ 50 tiểu bang, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn và các lãnh thổ của Hoa Kỳ. Trong khi đó tại Pháp liên tiếp 2 ngày số người thiệt mạng vì vi khuẩn corona đã gia tăng, theo Bộ Y Tế của nước này cho biết hôm Thứ Ba. Ít nhất 330 người thiệt mạng hôm qua, là cao điểm sau khi số tử vong trước đó đã giảm. Tổng cộng 25,531 người tại Pháp thiệt mạng sau khi bị lây vi khuẩn.
Một tướng hàng đầu Hoa Kỳ nói rằng không có bằng chứng kết luận nào về nơi vi khuẩn corona phát xuất tại Vũ Hán, TQ, rằng “chúng tôi không biết” nó bắt đầu từ phòng thí nghiệm hay chợ súc vật TQ. Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ Mark Milley cho biết rằng, “Nó xuất phát từ phòng thí nghiệm vi trùng học tại Vũ Hán, nó xảy ra tại chợ bán thú vật ở Vũ Hán hay nó xảy ra nơi nào khác? Và câu trả lời là chúng tôi không biết và như được đề cập bởi nhiều người nhiều cơ quan cả chính quyền và dân sự đang tìm hiểu điều đó.”
Sau những đợt biểu tình và kiện tụng, Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Thứ Ba, 5 tháng 5 đã tuyên bố rằng các bãi biển tại Huntington Beach, Dana Point và Seal Beach được cho tái mở cửa. Thống đốc đã ra lệnh đóng tất cả bãi biển hôm Thứ Sáu tuần rồi. Điều đó tạo ra các vụ kiện tụng từ Huntington Beach và Dana Point. Những người biểu tình cũng đã xuống đường tại Huntington.
“Tư bản sẽ bán cho chúng ta sợi dây thòng lọng để treo cổ chúng”, Chủ bút Peter Hartcher của tờ The Sydney Morning Herald hôm 1/5/2020 trích câu nói của Lenin mở đầu bài bình luận “Tiền hay chủ quyền của chúng ta: Trung cộng không cho chúng ta sự chọn lựa.” Ông Hartcher áp dụng lời nói của Lenin vào trường hợp của nhà tư bản hầm mỏ Úc Andrew Forrest, đang nối giáo cho Trung cộng bán đứng chủ quyền nước Úc: “Tư bản bán cho chúng ta quặng sắt để chúng ta rèn xiềng xích chúng lại”.
DMV tiếp tục khuyến khích khách hàng gia hạn đăng ký xe và hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu xe trực tuyến hoặc bằng cách sử dụng Văn phòng Hiện trường Ảo DMV. Khách hàng cũng có thể nhận giấy lưu hành xe và nhãn tem dán trực tuyến hoặc tại hàng trăm kiốt của DMV trên toàn tiểu bang. Giấy lưu hành xe và nhãn tem dán tại các ki-ốt DMV có giá $22 và được in tại chỗ. DMV tiếp tục cung cấp các dịch vụ thiết yếu qua thư, trực tuyến, kiốt, trung tâm cuộc gọi, đối tác kinh doanh sẵn có và trực tuyến để xử lý các giao dịch quan trọng, bao gồm giấy phép lái xe và gia hạn giấy lưu hành xe, trong đại dịch COVID-19. Khách hàng có thể sử dụng Trình cố vấn Dịch vụ trên trang web DMV để tìm hiểu thêm về các tùy chọn và hoàn thành các nhiệm vụ DMV.
Khâm thừa ủy thác của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, tôi tự xét bản thân, lão lai tài tận, đức mỏng chướng dày, khó có thể đơn độc chu toàn sứ mệnh cao cả ấy trong muôn một. Vậy nên, cúi đầu kính lễ Chư Tôn Trưởng Lão, Chư Đại đức thanh tịnh Tăng-già, vì sự nghiệp tu trì Chánh Đạo, vì an lạc của muôn dân đang chìm đắm trong dòng khổ lụy nhân sinh, thỉnh cầu Chư Tôn vận tâm bình đẳng, y Luật hành trì, thể hiện bản thệ thanh tịnh hòa hiệp của Tăng-già, nêu cao ngọn đèn Chánh Pháp trong một thế giới tối tăm nguy hiểm vì những tham sân điên đảo.
Tôi muốn gởi lời chúc đến tất cả Phật tử tại Quận Cam một mùa Phật Đản hạnh phúc và an bình. Tôi hy vọng Đại Lễ Phật Đản của quí vị tràn đầy với tinh thần cộng đồng, niềm hân hoan và sự suy tưởng. Mặc dầu việc kỷ niệm Phật Đản năm nay sẽ khác đi nhiều, chúng ta vẫn có thể thấy những lời dạy của Đức Phật về hòa bình, phụng sự, và lòng từ bi để dẫn dắt chúng ta vượt qua thời điểm khó khăn này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.