Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 349)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Nhiều người Mỹ gốc Việt trên khắp đất nước sẽ tham gia vào lực lượng vận chuyển, phân phát đồ ăn và các dụng cụ cần thiết để hỗ trợ nhân viên y tế chiến đấu với dịch bệnh COVID-19
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Cố vấn y tế của Bạch Ốc Bác Sĩ Anthony Fauci cho biết hôm Thứ Ba, 28 tháng 4 rằng “có thể là một mùa thu xấu” nếu các nhà nghiên cứu không tìm ra cách trị liệu hiệu quả để chống lại vi khuẩn corona vào lúc đó. Vi khuẩn sẽ chắc chắn trở lại Hoa Kỳ ngay cả khi các trường hợp bắt đầu ổn định, theo BS Fauci, giám đốc Viện Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng Quốc Gia, phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Câu Lạc Bộ Kinh Tế Của Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Covid-19 “sẽ không biến mất khỏi hành tinh,” theo ông cho biết, rằng các chuyên gia bệnh truyền nhiễm đang tìm hiểu về cách vi khuẩn này hoạt động bằng việc quan sát việc lây lan trỗi dậy tại nhiều vùng khác như miền nam Phi Châu mà đang bắt đầu vào mùa lạnh của họ.
Các trường học tại California có thể đón học sinh trở lại vào mùa hè năm nay và các cơ sở kinh doanh bán lẻ và sản xuất có thể tái mở cửa trong những tuần lễ sắp tới, theo Thống Đốc California Gavin Newsom cho biết hôm Thứ Ba, 28 tháng 4 khi ông đưa ra cái nhìn chắc chắn nhất từ trước tới nay về điều gì tái mở cửa từ từ có thể cụ thể nhất. Với khả năng chăm sóc sức khỏe và sự ổn định số người vào bệnh viện, Newsom nói rằng tiểu bang chỉ còn cách “nhiều tuần, không phải nhiều tháng” từ việc thực hiện “những điều chỉnh có ý nghĩa” đối với lệnh toàn tiểu bang mà đã ban xuống cho người dân California ở trong nhà trong gần 6 tuần lễ qua. Hôm Thứ Ba, Newsom cho biết các trường học có thể bắt đầu niên học kế tiếp sớm hơn, có thể cuối tháng 7 hay đầu tháng 8, dù ông đã không cho biết chi tiết hướng dẫn có thể xảy ra trong các trường học.
Hội Đồng Giám Sát Quận Cam đã bỏ phiếu với tỉ lệ 5 trên 0 vào chiều Thứ Ba, 28 tháng 4 để mở cửa các cơ sở kinh doanh với những hướng dẫn bảo đảm sự an toàn của công chúng. Các hướng dẫn được giới thiệu bởi nữ Chủ Tịch Michelle Steel và Giám Sát Viên Don Wagner được thông qua bởi hội đồng sẽ áp dụng như mô hình cho Quận Cam để trở lại tình trạng sinh hoạt bình thường, theo các viên chức cho biết. Theo hội đồng, “Tất cả đề nghị theo Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam và không thay thế bất cứ lệnh mâu thuẫn hay hạn chế nào được đưa ra bởi các chính quyền địa phương, Tiểu Bang California, hay Chính Phủ Liên Bang.” “Quận Cam đã “làm thẳng đường cong” một cách hiệu quả.”
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47) ngày hôm nay đã đệ trình Nghị Quyết Hạ Viện ghi nhận biến cố lịch sử quan trọng và tưởng niệm 45 năm ngày Sài Gòn thất thủ và sự sập đổ bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày 30 tháng 4, năm 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị lực lượng Cộng sản xâm chiếm trong Tháng Tư Đen và Sài Gòn đã bị thất thủ. Mỗi năm biến cố trọng đại này được các cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ tổ chức tưởng niệm.
Nhân dịp lần thứ 45 tưởng niệm biến cố Tháng Tư Đen, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa Hạt 48) đã gởi thông điệp đến với cộng đồng Người Mỹ gốc Việt tại Quận Cam: Trong thông điệp này, Dân Biểu Rouda cũng nhắc đến những người trong cộng đồng chúng ta mà ông vừa vinh danh: Tướng Lê Minh Đảo, nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác Sĩ Phạm Đỗ Thiên Hương.
Tuần này sẽ đánh dấu nhiều mốc ngoặc mới trong đại dịch vi khuẩn corona khi các trường hợp bị lây nhiễm tại Hoa Kỳ đã hơn 1 triệu, ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh tái mở cửa và một số nhân viên y tế địa phương bắt đầu thử nghiệm kháng thể cho công chúng, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 27 tháng 4 năm 2020. Tính tới Thứ Hai, Hoa Kỳ đã có 1,008,571 trường hợp bị lây, với 56,521 người thiệt mạng.
3 videos ngắn cho thấy “hiện tượng xuất hiện trong không gian không xác định” đã được công bố bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các video, đã được phổ biến trước đây bởi một công ty tư nhân, cho thấy cái gì đó trông giống các vật bay không xác định di chuyển nhanh trong khi được thu hình bởi các máy thu hồng ngoại tuyến, theo CNN tường trình cho biết. 2 trong 3 video, các quân nhân có thể nghe được sự phản ứng các vật bay nhanh như thế nào. Một giọng nói cho thấy nó có thể là một chiếc robot.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.