Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 362)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Gói tài trợ 484 tỉ đôla gồm thêm 321 tỉ đô la cho Chương Trình Bảo Vệ Lương (PPP) mới được tạo ra, là chương trình cho vay được đặt ra để giúp các cơ sở kinh doanh nhỏ duy trì với các khoản tiền vay được tha thứ trong thời gian khủng hoảng. Chương trình PPP là phổ biến và đã cạn số tiền tài trợ lúc đầu 350 tỉ đôla chỉ trong 2 tuần lễ. Nó là chương trình sẽ cần tài trợ thêm nữa. Các nhà lập pháp Cộng Hòa chỉ trích các nhà Dân Chủ ngâm dự luật – ban đầu là 250 tỉ đôla yêu cầu tài trợ cho PPP.
Theo tạp chí The Economist số phát hành tuần này (April 18 – 24, 2020), bên cạnh Đại học Oxford ở Anh và Viện Nghiên cứu Thuốc chủng ở Đức (Germany’s Federal Institute for Vaccines, đã nhắc tới hôm qua) , nhiều công ty chế tạo dược phẩm ở Mỹ đã cộng tác với các viện nghiên cứu để chế tạo và thử nghiệm thuốc chủng ngừa cho Covid-19. Các hãng ở Mỹ được nhắc tới là Novavax, Johnson & Johnson, và Moderna . Hãng này cộng tác với Viện Quốc gia Nghiên cứu các bệnh Dị ứng và Truyền nhiễm (National Institute of Allergy and Infectious Diseases, NIAID).
Tại San Fernando Valley, California,trong trường trung học, những kẻ quá khích đã tấn công bạo lực một thiếu niên 16 tuổi, buộc tội em ấy đang nhiễm coronavirus chỉ vì em là người Mỹ gốc Á châu. Đây chỉ là một trong hàng loạt sự việc phân biệt chủng tộc liên quan đến cuộc khủng hoảng toàn cầu do đại dịch COVID-19 gây ra. Trước tình hình này, Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg đã có lời tuyên bố như sau: Virus COVID-19 không phân biệt đối xử. Nó không phân biệt dựa trên chủng tộc, dân tộc hoặc quốc tịch. Nó tấn công tất cả mọi người. Vì vậy, để chống lại một cuộc tấn công vào tất cả chúng ta, chúng ta phải đoàn kết. Bất kỳ sự chia rẽ xã hội nào mà chúng ta gây ra cho cộng đồng của chúng ta đều gây bất lợi cho sự an toàn và sức mạnh của chúng ta trong thời kỳ khủng hoảng. Nghịch cảnh không được chia rẽ chúng ta, nhất là thời gian này.
Trước khu Thương Xá Phước Lộc Thọ vào lúc 11 giờ trưa Thứ Năm ngày 23 tháng 4 năm 2020, nhóm thiện nguyện Nailing It, Whale Spa, Advane Beauty College, United Way… Đã tổ chức buổi họp báo để giới thiệu một số các nhà hàng Việt Nam đã chuẩn bị khoảng 10,000 phần ăn đặt biệt để tặng các nhân viên y tế bệnh viện, viện dưỡng lão, nhà tạm trú cho người vô gia cư ngoài các phần ăn còn có tặng khẩu trang, găng tay…
Vi-rút Corona ảnh hưởng và trì hoãn thống kê dân số mỗi thập niên và cản trở công việc cần thiết đến từng nhà/ Pilar Marrero (Ethnic Media Services) / Arturo Vargas, giám đốc điều hành cơ quan National Association of Latino Elected Officials (Hiệp Hội Quốc Gia Viên Chức La Tinh NALEO), định nghĩa dịch vi-rút corona là “một ác mộng” đã tác động đến cộng đồng La Tinh làm ngăn trở bao nỗ lực trong kế hoạch thực hiện Thống Kê dân Số 2020. “Chúng tôi xúc tiến với một thông điệp và chiến lược mới, nhưng trong thâm tâm chúng tôi biết không cách nào có được một thống kê đầy đủ nếu không đến từng nhà” ông nói. “Cho tới lúc này, chúng tôi không biết Cục Thống Kê Dân Số có thể ra đường để làm công việc tiếp theo như đã dự định vào tháng Sáu (lúc đầu định vào giữa Tháng Năm.) Tôi nghĩ đến cuối tháng này sẽ có thông báo.” NALEO và những nhóm khác tiếp tục làm việc để “xoay chiều” - chuyển tiếp hàng trăm sự kiện nhân viên đến từng nhà qua phương tiện truyền thông được trả tiền hoặc
Chúng ta chỉ có thể tung hoành trong một ngày thật ngắn ngũi mà thôi. Hãy trân quý ngày hôm nay. Chúng ta sẽ mất tinh thần, sẽ mất hết niềm tự tin cũng như sự can đảm, và cuộc sống chúng ta sẽ chìm đi nếu chúng ta để gánh nặng của ngày hôm qua và của ngày mai chồng chất thêm vào gánh nặng của ngày hôm nay. Không phải những kinh nghiệm của ngày hôm nay làm chúng ta thất vọng, nhưng đó chính là những đắng cay, hối hận, dằn vặt của ngày hôm qua cùng những nỗi lo ngại, ưu tư của ngày mai chưa đến, đã làm u ám vẫn đục ngày hôm nay. Vậy hãy sống trọn vẹn cho ngày hôm nay mà thôi.
Có một sự kiện quốc gia mà nhà lãnh đạo bí ẩn Bắc Hàn, Kim Jong Un, không bao giờ bỏ qua: thăm Lăng Mặt Trời Kumsusan vào ngày 15 tháng 4 để đánh dấu sinh nhật của ông nội, người sáng lập chế độ. Trong lăng, cả ông nội và cha của Kim đều được chôn ở đó. Vì thế khi Kim không xuất hiện trong ngày này tại Bình Nhưỡng, thì nó gây sự suy luận về những nơi ông ấy ở và ngay cả sức khỏe của ông. Những lời đồn như thế lôi cuốn thêm sau khi báo Daily NK, trang mạng có trụ sở tại Hán Thành dựa vào các nguồn tin ẩn danh bên trong Bắc Hàn, tường trình hôm Thứ Hai rằng Kim đang hồi phục từ một cuộc giải phẫu tim được thực hiện hôm 12 tháng 4.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Thống Đốc Texas Greg Abbott nói với Fox Business hôm Thứ Tư, 22 tháng 4 rằng tiểu bang của ông sẽ tái mở cửa các công viên và một số cơ sở kinh doanh bán lẻ trong tuần này bởi vì người dân “cần tiếp tục đời sống của họ” trong thời gian đại dịch vi khuẩn corona. “Người dân Texas yêu thích làm việc,” theo Abbott nói với Stuart Varney của Fox Business. “Họ cần tiếp tục cuộc sống của họ, vì thế có tình trạng cấp bách để trở lại làm việc. Chúng tôi sẽ cung cấp lộ trình đó trong cách rất an toàn bảm bảo chúng tôi sẽ mở cửa nhiều cơ sở kinh doanh theo khả năng trong khi cũng vẫn giữ an toàn của người dân của tiểu bang Texas.”
Missouri đang kiện chính quyền Trung Quốc và các tổ chức hàng đầu khác vì vai trò mà họ đóng trong đại dịch vi khuẩn corona và những ảnh hưởng đối với tiểu bang, cáo buộc rằng TQ che dấu thông tin, bịt miệng những người tiết lộ tin và làm rất ít để chận đứng sự lây lan của dịch bệnh, theo Bộ Trưởng Tư Pháp Tiểu Bang Missouri Eric Schmitt tuyên bố hôm Thứ Ba, theo CNN cho hay.
Thay mặt Ban Tổ Chức, xin ngợi khen tất cả các thí sinh đã tham gia cuộc thi, xin chân thành cám ơn quý phụ huynh đã tận tình hướng dẫn con em, quý khán giả đã theo dõi và cổ động, quý giám khảo đã cộng tác đắc lực, quý mạnh thường quân đã bảo trợ, quý ca nhạc sĩ và thiện nguyện viên đã tích cực đóng góp trong chương trình văn nghệ gây quỹ cho các giải thưởng, và quý cơ quan truyền thông đã phổ biến chương trình trong suốt thời gian qua. Đặc biệt cám ơn ca sĩ Bích Vân đã hướng dẫn học trò của VS Studio tham dự cuộc thi thật đông.
Hôm nay xin được bắt đầu bằng hai tin vui: 1).-Ít hôm trước, Bloomberg News đã loan tin các giáo sư tại Đại học Oxford sắp cho thử một loại vaccine có thể dùng để ngừa vi khuẩn Vũ Hán. Tin ấy đã được Bộ trưởng Y tế của Anh quốc xác nhận. Theo tin đài VOA, trong một cuộc họp báo ở London ngày hôm qua, 21/4/2020, Bộ trưởng Y tế Anh Matt Hancock loan báo rằng hai nhóm nghiên cứu Anh đã đạt được những tiến bộ rất đáng kể trong việc chế tạo vaccine chống Covid-19. Một toán sẽ bắt đầu thử nghiệm trên người vào ngày 23/4 (tức ngày mai). Ông Hancock cho biết đó là các nhà nghiên cứu tại Đại học Oxford và Đại học Hoàng gia London (Royal University of London). Nhóm Oxford, cộng tác chặt chẽ với Cơ quan Quản lý Dược và các Sản phẩm Chăm sóc sức khỏe (MHRA), đang chuẩn bị để tiến hành thử nghiệm trên người trong tuần này. Chính phủ Anh đã cấp 25 triệu đô la cho những nỗ lực ấy. Chính phủ cũng sẽ cấp hơn 27 triệu đô la cho Đại học Hoàng gia London để chuẩn bị cho những giai đoạn thử ng
Chỉ trong vòng 10 ngày sau khi chiến dịch được tổ chức vào đầu tháng, đội ngũ tình nguyện của Nailing It Cho Nhân Viên Y Tế đã thu thập và vận chuyển được hơn 120,000 khẩu trang, 300,000 găng tay y tế cung cấp cho đội ngũ y bác sĩ ở Nam California để chống chọi với đại dịch Corona (COVID-19). Rất nhiều nhà hàng cũng tham gia vào chiến dịch này và đã vận chuyển đuợc gần 1,000 bữa ăn đến các nhân viên y tế trong khoảng thời gian khó khăn này.
WASHINGTON — Tổng Thống Donald Trump cho biết hôm Thứ Tư, 22 tháng 4 rằng ông đã ra lệnh cho Hải Quân Mỹ “bắn và tiêu diệt” bất cứ chiếc tàu Iran nào có trang bị súng ống quấy nhiễu tàu Hoa Kỳ, lệnh này đến sau một tuần Hải Quân báo cáo một nhóm tàu Iran đã “tiến đến gần nguy hiểm và quấy rối” các tàu chiến của Mỹ trong Vịnh Ba Tư, theo bản tin của thông tấn Mỹ AP cho biết hôm Thứ Tư.
Hôm nay, Dân Biểu Harley Rouda (CA-48) thông báo rằng những trường cao đẳng và đại học có cơ sở đặt trong Địa Hạt 48th California sẽ nhận được hơn $17 triệu trong quĩ hỗ trợ khẩn cấp, để giúp đỡ bù đắp những tổn thất tài chính đáng kể. Ít nhất phân nửa trong nguồn tài trợ cho nhà trường được yêu cầu phân bổ đến những học sinh dưới hình thức quĩ hỗ trợ tiền mặt khẩn cấp, để giúp đỡ sinh viên chi trả tiền nhà, thực phẩm, và những nhu yếu căn bản khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.