Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 325)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Tổng Thống Donald Trump và Thống Đốc New York Andrew Cuomo hôm Thứ Ba đã choảng nhau về việc ai có quyền hơn để tái mở cửa kinh tế, một ngày sau khi ông Trump cho rằng quyền của ông là “tuyệt đối” – tuyên bố mà Cuomo nói là ông sẽ thách thức tại tòa án nếu cần. Phát biểu trên chương trình Today của NBC, Cuomo nói rằng ông sẽ hành động nếu Trump thực sự nghĩ rằng “ông sẽ buộc tiểu bang này hay biểu bang nọ, đối với việc đó, để làm điều liều lĩnh hay vô trách nhiệm, mà có thể gây nguy hiểm cho sinh mạng con người.”
Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Thứ Ba, 14 tháng 4 đã công bố hướng dẫn cách California sẽ tái mở cửa xã hội và kinh tế trên khắp tiểu bang trong lúc các viên chức đang cân nhắc việc gỡ bỏ các lệnh hạn chế để cắt giảm sự lây lan của vi khuẩn corona, theo CNBC cho biết hôm Thứ Ba.
Chưa đầy một tháng trước đây truyền thông nhà nước Nga cho thấy Tổng Thống Vladimir Putin nói về cách nước này đã kềm chế được sự lây lan của vi khuẩn corona và giữ tình hình “nằm dưới sự kiểm soát.” Nước Nga lúc đó chỉ có vài chục trường hợp bị lây lan được báo cáo chính thức. Một tuần sau, Nga đã gửi nhiều chuyến bay chất đầy trợ giúp y tế cho Ý, Mỹ và Serbia. Nhưng hiện giờ Nga đang chứng kiến sự gia tăng truyền nhiễm COVID-19, và giọng điệu của ông Putin đã trở nên hết lạc quan.
Trung Quốc tiếp tục đe dọa an ninh kinh tế các nước vùng hạ lưu Sông Mekong mà trong đó Việt Nam khi họ chận nước trên các đập ở thượng nguồn trong khi tình trạng hạn hán xảy ra, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm Thứ Ba, 14 tháng 4.
Trước tình hình bệnh dịch Covid-19 mỗi ngày một gia tăng, một số đồng hương đã gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những vị cao niên, thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách” nên Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Nam California do cô Erlinda Dương, Chủ Tịch, ông Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ và Cô Châu Hạnh Phó Chủ Tịch Nội Vụ cùng các thành viên trong ban chấp hành đã vận động một số các mạnh thường quân, quyên góp được một số thực phẩm khô như cà phê, món ăn sáng cereal, bánh ngọt, một số xà phòng rửa tay, khẩu trang và găng tay.
Nước Mỹ đang trong cơn hoạn nạn. Chúng ta đang trong cơn hoạn nạn. Các nhân viên y tế ở tuyến đầu ngày càng nhiều người ngã bệnh, phần lớn vì họ đang thiếu trầm trọng dụng cụ bảo vệ y tế tại các bệnh viện. Để cám ơn và bảo vệ những anh hùng tuyến đầu, hệ thống truyền hình SBTN, Bên Em Đang Có Ta Foundation và tổ chức Rise sẽ tổ chức chiến dịch quyên góp “Sing For Our Heroes”. Với sự tham gia của những ngôi sao âm nhạc hải ngoại, chiến dịch sẽ quyên góp để cung cấp các dụng cụ y tế cho những bệnh viện và trung tâm y tế tại các tâm dịch đang có nhu cầu cấp bách như New York, New Jersey, Louisiana, California, v.v...
Viện Robert Koch (RKI) tại Berlin đã báo cáo số người bị nhiễm coronavirus ở Đức vào thứ Hai với 123.016 - tăng 2.537 kể từ ngày hôm trước. Đại học Johns Hopkins (JHU), có trụ sở tại thành phố Baltimore của Hoa Kỳ, đã báo cáo 127.854 người bị nhiễm bệnh. RKI, chỉ tính đến các số liệu được truyền điện tử từ các tiểu bang và cập nhật danh sách mỗi ngày một lần, đã ghi nhận 2799 trường hợp tử vong cho đến nay, theo JHU là 3022 đã chết.
Thống Đốc New York Andrew Cuomo hôm Thứ Hai, 13 tháng 4 tuyên bố rằng “việc kiểm soát lây lan” của vi khuẩn corona, và có vẻ rằng “sự tồi tệ nhất đã qua… nếu chúng ta cứ tiếp tục sáng suốt đi tới.” Cùng lúc, Thống Đốc Cuomo đã công bố rằng mức tử vong từ COVID-19 tại New York – là trung tâm đại dịch tại Hoa Kỳ -- đã lên tới mức cao nhất 10,000 người. Cuomo gọi tỉ lệ tử vong đó là “mức đau đớn, buồn rầu khủng khiếp.” Nhưng ông cũng cho thấy sự đứng lại của tỉ lệ tử vong hàng ngày, sự đứng lại trong số người vào bệnh viện và việc giảm số người cần trợ thở là bằng chứng cho thấy các biện pháp nghiêm ngặt như đóng cửa các cơ sở kinh doanh không quan trọng đã giúp kềm chế vi khuẩn.
Xin giới thiệu đến độc giả một bài viết của Alice Su, một biên tập viên của báo Los Angeles Time viết về vấn đề thiết bị y tế kém chất lượng mà Trung Quốc đã và đang gởi đến cho các nước trên thế giới. Cô cũng gọi nơi đó là "Thiên đường lừa đảo". Cô là người Hoa, lớn lên ở Hong Kong, Taiwan, Shanghai và California, học tại Princeton University and Peking University. Cô viết cho tờ LA Times. Cô được giải the 2014 Elizabeth Neuffer Memorial Prize của the United Nations Correspondents Association khi cô viết về cuộc khủng hoảng của những người tị nạn ở Jordan and Lebanon.
7 tiểu bang Miền Đông Bắc Hoa Kỳ và 3 tiểu bang Bở Biển Miền Tây đã hình thành các hiệp ước vùng hôm Thứ Hai, 13 tháng 4 nhằm mục đích phối hợp việc mở cửa từ từ các nền kinh tế của họ mà không làm tái phát việc truyền nhiễm vi khuẩn corona khi dịch bệnh này có vẻ đang bắt đầu suy yếu, theo bản tin của Reuters cho biết.
Tổng Thống Donald Trump đổ dầu vào suy đoán về tương lai của Bác Sĩ Anthony Fauci hôm Chủ Nhật, 13 tháng 4, qua twitter kêu gọi sa thải chuyên gia bệnh truyền nhiễm hàng đầu sau khi người này trả lời phỏng vấn của CNN nói rằng nước Mỹ đã có thể làm nhiều hơn để ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn corona, theo CNN cho biết hôm Chủ Nhật.
Một quận tại trung tâm tiểu bang Georgia giống trong phim “Twister” sau khi trận bão lốc bứng một ngôi nhà và thả xuống trên một con đường hôm Thứ Hai, 13 tháng 4 khi một hệ thống bão chết người thổi qua vùng này.
Tỷ lệ tử vong (số người chết so với tổng số người lây nhiễm corona virus) ở các quốc gia không giống nhau. Trong khi trên thế giới nói chung, tỷ lệ ấy trồi sụt từng ngày giữa khoảng 6.16% và 6.23%, thì tại Hoa Kỳ, tỷ lệ ấy giữa khoảng 3.93% và 4.05% (có thể nói chung là “vào khoảng 4%”). Tại các quốc gia Tây Âu, tỷ lệ ấy khá cao
Thượng Nghị Sĩ Bernie Sanders đã ủng hộ cựu Phó Tổng Thống Joe Biden làm tổng thống hôm Thứ Hai, 13 tháng 4 trong cuộc nói chuyện bằng trực tuyến giữa hai ông, nói với Biden rằng, “chúng tôi cần bạn trong Bạch Ốc.” “Tôi yêu cầu mọi đảng viên Dân Chủ, tôi yêu cầu mọi người độc lập, tôi yêu cầu nhiều đảng viên Cộng Hòa hãy đến với nhau trong cuộc vận động này để ủng hộ ứng cử viên của quý vị, mà tôi hủng hộ.” theo ông Sanders cho biết.
Hoa Kỳ hiện có số ca tử vong cao nhất thế giới do Covid-19, với ít nhất 21.692 người mất mạng vì virus - tính đến chiều Chủ nhật 12/4/20. Người Mỹ sẽ tiếp tục chết với số lượng lớn cho đến khi đất nước chúng ta có được một phản ứng hợp lý, mạch lạc, vững chắc với dịch bệnh. Tổng thống Donald Trump đã thất bại. Mỹ vẫn còn thiếu một kế hoạch cơ bản để kiểm soát dịch bệnh và khởi động lại nền kinh tế. Chỉ cần so sánh đơn giản về số người chết ở Mỹ với các nước châu Á để hiểu quy mô thất bại của chính quyền Trump. Hoa Kỳ hiện có khoảng 62 người chết trên một triệu người. Trong khi đó, theo dữ liệu của Đại học Johns Hopkins, Hồng Kông, Nhật Bản và Đài Loan đều có ít hơn 1 người chết trên một triệu; và Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore có mỗi người chết dưới 5 triệu. Ấn Độ cũng vậy, đã có những hành động quyết liệt với việc khóa chặt toàn quốc bắt đầu vào ngày 24 tháng 3, khi đó mới chỉ có 10 người chết ở một đất nước 1,3 tỷ dân này. Tính đến hôm nay, Ấn Độ có 289 trường hợp tử vong
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.