Hôm nay,  

Đọc sách “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại”

13/10/202610:58:00(Xem: 1222)
blank

Đọc sách “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại”
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi vừa đọc xong tuyển tập nhiều tác giả này, sau nhiều tháng để đọc khi thư thả. Đôi khit ôi dừng lại vài ngày, khi đọc tới những trang về một văn nghệ sĩ đã ra đi, những người đi trước mình về cả văn học và tuổi đời, như khi nhớ tới Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Huy Quang, Nghiêm Xuân Hồng, và nhiều người khác. Bởi vì chữ đã gợi lại hình ảnh của họ trong ký ức của tôi. Tuyển tập 50 năm văn học này có quá nhiều ký ức là như thế, hẳn là nhiều độc giả khác cũng sẽ thấy tương tự.

Danh sách các tác giả trong tuyển tập “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại” là, xin liệt kê nơi đây: Lê Thị Huệ,  Nguyễn Thụy Đan, Phan Thị Trọng Tuyến, Phan Thanh Tâm, Vũ Tiến Lập, Ngu Yên, Đài Sử, Phan Tấn Hải, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Tuấn Huy, Nguyễn Đức Tùng, Quỳnh Iris Nguyen-De Prelle, Phan Tấn Uẩn, Vũ Hoàng Thư, Trần Nho Bụi, Thế Dũng, Trần Hạ Vi, Đặng Thế Kiệt, Bùi Văn Phú, Trịnh Gia Mỹ, Trần Quí-Phiệt, Penelope Faulkner Ỷ Lan, Đỗ Trường, Phạm Chu Thái.”
 

Tôi không phải là nhà phê bình văn học, thêm nữa các bài viết trong tuyển tập đa số là có chủ đề nhìn về một quãng đường dài nửa thế kỷ văn học hải ngoại, nên cảm nhận nơi đây sẽ rất là chủ quan, không đủ bao quát, không nêu được đặc sắc riêng của từng ngòi bút. Nơi đây sẽ là đọc kiểu nhà báo, là những người trong đời thường rất bận rộn, luôn luôn cứ phải viết cho xong các trang báo để gần tới giờ đóng cửa tòa soạn mỗi ngày là chuyển bài vở xuống nhà in để ấn hành. Nghĩa là, bài viết sẽ thiếu sót, nhưng hy vọng cho độc giả một cái nhìn tổng quan về tuyển tập “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại.”

Thế là tôi viết bài cảm nghĩ khi đọc là tháng 10/2026... về nửa thế kỷ văn học hải ngoại kể từ 1975. Thế rồi, văn học tiếng Việt ngoài nước Việt đã từ từ hình thành một không gian sáng tạo rộng lớn, đa dạng và sống động. Từ những cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức, Anh, Úc, Bỉ, Hòa Lan, Bắc Âu và nhiều quốc gia khác, tiếng Việt vẫn tiếp tục được viết, được đọc, được yêu thương, được tranh luận, được gìn giữ và đổi mới từng ngày. Nói một cách “nghiêm và buồn” thì tuyển tập “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại” ban đầu là một sáng kiến của nhà văn Lê Thị Huệ và nhà thơ Vũ Hoàng Thư (theo tôi nhớ), là nỗ lực tập hợp một số tiếng nói văn học còn lại như một cuộc hội ngộ xuyên thế hệ, xuyên biên giới và xuyên kinh nghiệm sống.

Nhan đề sách có lẽ đã nói lên tinh thần cốt lõi của toàn bộ công trình: tự do và ngôn ngữ. Vâng, tự do. Đối với nhiều người Việt lưu vong, di dân hay định cư xa quê hương, tiếng Việt không chỉ là một phương tiện truyền thông. Tiếng Việt còn là ký ức, là quê hương, là gia đình, là tuổi thơ, là căn tính văn hóa. Nói cho lãng mạn, tiếng Việt là chiếc cầu nối những thế hệ sinh ra tại Việt Nam với những thế hệ lớn lên tại California, Paris, Berlin, Sydney hay Brussels. Và chính trong không gian tự do của nhiều xã hội dân chủ, tiếng Việt đã có cơ hội đi vào những vùng sáng tạo mới, nơi nhà văn được quyền viết điều mình nghĩ, nhà thơ được quyền chọn hình thức mới, và người đọc được quyền tiếp cận những góc nhìn khác nhau của đời sống. Mà không cần xin phép bất kỳ ai.
 

Trong một trích đoạn từ bài viết của Lê Thị Huệ, nhà văn nữ này đã mô tả văn học hải ngoại như một cuộc khai phá ngôn ngữ bên ngoài địa lý Việt Nam, một thứ ngôn ngữ được sinh thành tại Berlin, Melbourne hay Bolsa, mang đặc điểm riêng của các vùng đất mới. Theo bà, chính quyền tự do lựa chọn đã tạo điều kiện cho văn chương hải ngoại phát triển theo những hướng khác biệt và đa nguyên hơn.

Hiển nhiên, người đọc sẽ thấy điều đáng quý nhất của tuyển tập này có lẽ nằm ở tính đa dạng. Các tác giả đa dạng về lứa tuổi, về xuất thân, về tôn giáo, quan điểm chính trị, kinh nghiệm sống và cả phong cách văn chương. Người đọc sẽ thấy các tác giả có những người từng trải qua chiến tranh, tù cải tạo, vượt biển và lưu vong. Nhưng cũng có những người sinh ra tại nước ngoài, lớn lên bằng hai hay ba ngôn ngữ, mang trong mình kinh nghiệm của một thế hệ hậu chiến. Có những nhà văn trưởng thành trong nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa. Có những tác giả xuất thân từ miền Bắc Việt Nam rồi định cư lâu dài ở châu Âu. Có những cây bút trẻ lớn lên hoàn toàn trong môi trường phương Tây nhưng vẫn lựa chọn tiếng Việt như một ngôi nhà tinh thần để trở về (và kỳ lạ, như Nguyễn Thụy Đan tìm học về chữ Nôm, một chữ cổ mà bản thân tôi đã theo học rồi chịu thua). Thế đấy, các tác giả đang cư trú tại nhiều quốc gia khác nhau, tạo nên một bản đồ sinh động của văn học Việt Nam toàn cầu.
 

Đọc tuyển tập này, độc giả sẽ bắt gặp nhiều dòng chảy văn học cùng hiện diện.

Đó là dòng văn học ký ức và lịch sử. Những trang hồi tưởng của Phan Thanh Tâm đưa người đọc trở lại buổi chiều 30 tháng 4 năm 1975 với những rung chấn sâu xa của một xã hội đổi thay, của những gia đình chia cắt và những hành trình di dân bắt đầu từ biến cố lịch sử ấy.

Đó là dòng văn học lưu vong. Trong những dòng thơ xuôi của Đài Sử, hành trình vượt biển hiện về với bão tố, cướp biển, đói khát và nỗi mong manh của thân phận con người giữa đại dương. Những trang viết ấy không chỉ là tư liệu lịch sử mà còn là chứng từ tinh thần của một thế hệ đã phải đánh đổi rất nhiều để tìm kiếm tự do.

Đó cũng là dòng văn học gìn giữ ký ức văn hóa. Khi Vũ Hoàng Thư viết về công trình sưu tầm và phục hồi di sản văn học miền Nam của Trần Hoài Thư, người đọc nhận ra rằng văn học hải ngoại không chỉ sáng tác cái mới mà còn đóng vai trò như một kho lưu trữ ký ức cho cả một nền văn học từng có nguy cơ biến mất.

Nhưng tuyển tập không chỉ nhìn về quá khứ. Một trong những nét đẹp nổi bật nhất của cuốn sách là sự hiện diện của các thế hệ trẻ. Như hình ảnh về Nguyễn Thụy Đan: một gương mặt sinh trưởng tại Bắc California, yêu tiếng Việt từ những lời kinh Công giáo của bà ngoại, rồi đi vào con đường nghiên cứu lịch sử Việt Nam tại các đại học danh tiếng của Hoa Kỳ. Câu chuyện ấy cho thấy tiếng Việt không chỉ thuộc về những người sinh ra tại quê nhà mà còn được truyền lại cho các thế hệ mới thông qua gia đình, ký ức và tình yêu văn hóa.

Như nhà thơ trẻ Quỳnh Iris Nguyen-De Prelle, đang sống ở châu Âu, lại mang đến một giọng nói khác. Thơ của chị cho thấy sự liên hệ tự nhiên giữa người Việt hải ngoại với các biến động xã hội và chính trị của một thế giới cùng rung chuyển liên kết. Đó là tiếng nói của một thế hệ toàn cầu hóa nhưng vẫn viết bằng tiếng Việt.

 

Trong khi đó, Trần Hạ Vi đại diện cho một hiện tượng văn chương của thời đại mạng xã hội. Chị tự nhận mình được tạo nên từ Facebook, sống và viết chủ yếu trên Facebook. Điều này cho thấy văn học tiếng Việt hải ngoại không đứng yên trong các khuôn khổ truyền thống mà luôn thích nghi với những công nghệ và phương thức xuất bản mới.

Bạn sẽ thấy (tôi hơi chủ quan để nói) rằng có lẽ ít tuyển tập nào thể hiện được sự đa dạng về thể loại như cuốn sách này. Ở đây có khảo luận văn học (tuyệt vời là Lê Thị Huệ, Nguyễn Đức Tùng), hồi ký (tuyệt vời là Phan Thanh Tâm, Phan Thị Trọng Tuyến và Bùi Văn Phú), phóng sự, biên khảo (tuyệt vời là Trần Quí Phiệt), tiểu luận văn hóa, thơ trữ tình (tuyệt vời là các trích đoạn thơ Trân Sa, Cao Tần), hội họa (tuyệt vời là Trần Nhọ Bụi), thơ (tuyệt vời là Đài Sử, Hoàng Xuân Sơn, và trích thơ Quỳnh Iris Nguyen-De Prelle) và nhiều nữa, không thể kể cho đầy đủ...

Tuyển tập như thế, có thể hình dung là một cuốn sách lặng lẽ nằm trên mặt bàn. Khi tôi mở sách ra, mọi chuyện y hệt như một buổi hội ngộ văn nghệ sĩ, nơi đó tuần tự mỗi người lên nói về chuyện văn học 50 năm qua, nơi đó có những dòng chữ mang tính học thuật, có những trang ký ức rất đời thường, có tiếng nói của nhà báo, có giọng nghiêm và buồn của học giả, có tiếng cười sảng khoái của nhà thơ... Nhiều bài viết không chỉ bàn về văn chương mà còn kể lại những cuộc gặp gỡ, những tình bạn, những sinh hoạt văn nghệ đã góp phần tạo nên đời sống văn học hải ngoại suốt nhiều thập niên.

Qua các hồi ức của Phan Thị Trọng Tuyến, Phan Tấn Hải, Trịnh Gia Mỹ hay nhiều tác giả khác, người đọc có dịp gặp lại những tên tuổi quen thuộc như Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Huy Quang, Nghiêm Xuân Hồng, Kiều Duy Vĩnh, Vũ Thư Hiên và nhiều nhân vật đã góp phần định hình sinh hoạt văn học Việt Nam trong và ngoài nước. Tuyển tập không né tránh những chủ đề từng bị xem là nhạy cảm.
 

Các bài viết trong sách mở ra nhiều không gian đối thoại: từ chính trị, lịch sử, nội chiến Nam-Bắc VN, lưu đày, căn tính, ngôn ngữ, cho tới văn học đồng tính và những tìm kiếm cá nhân về tự do biểu đạt. Điều đó phản ánh đúng bản chất của một nền văn học trưởng thành trong môi trường đa nguyên. Thay vì chỉ có một tiếng nói duy nhất, độc giả bắt gặp nhiều tiếng nói cùng tồn tại, đôi khi tương đồng, đôi khi khác biệt, nhưng cùng chia sẻ một tình yêu đối với tiếng Việt.

Có thể nói rằng năm mươi năm văn học tiếng Việt hải ngoại là năm mươi năm của sự gìn giữ, cũng là 50 năm của đổi mới, của khám phá tiếng Việt, một ngôn ngữ bị các tác giả tạm gác qua một bên trong đời thường khi họ phải học tiếng nước người khi phải mưu sinh. Những dòng chảy ngôn ngữ hòa lẫn trong chữ viết của các tác giả. Gìn giữ ký ức, nhưng không chỉ sống với quá khứ, không ngại bước vào tương lai.

Trong bài viết về thơ hải ngoại, Nguyễn Đức Tùng nhận định rằng thơ không giải quyết các vấn đề của thời đại nhưng có thể làm cho con người dấn thân hơn bằng trí thức và cảm xúc, giúp họ tìm lại nhau trên hành trình đi tìm tự do, đi tìm đoàn kết dân tộc và những giá trị nhân loại. Nhận định ấy có lẽ cũng tóm lược tinh thần chung của các tác giả.

Chính tiếng Việt đã biến những cộng đồng xa quê thành một không gian văn hóa chung vượt lên trên biên giới quốc gia. Vì thế, tuyển tập “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại” không đơn thuần là một tuyển tập văn chương. Phần nào, đó còn là một hồ sơ văn hóa hải ngoại của nhiều tác giả Việt Nam trong nửa thế kỷ vừa qua, ghi lại những mất mát, những khổ đau, những chuyến ra đi và những cuộc đoàn tụ.

*

Sau đây, xin chép lại một số trích đoạn. Nơi đây người viết bài điểm sách này đã dùng kỹ thuật scan để lấy từ trang sách giấy một số đoạn cần trích để đưa vào bài viết này.

Trích đoạn bài “Vài Nét Về Sự Khai Phá Nền Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại” của Lê Thị Huệ, trang 10: “Văn Học Hải Ngoại là một phiêu lưu khai phá nền sáng tác mới. Ngôn ngữ viết ở ngoài địa lý Việt Nam. Ngôn ngữ người Việt ở Berlin. Ngôn ngữ đẻ ra ở Melbourne. Ngôn ngữ khởi dậy ở Bolsa. Dù dưới hình thức nào thì đây là thứ ngôn ngữ tạo dựng khai phá ở vùng đất mới với quốc tịch bật lên tài sản riêng. Chứ không phải ngôn ngữ chấp nhận. Chọn lựa hay được quyền chọn lựa tự do làm cho văn chương Hải Ngoại cách biệt hơn văn chương Việt ở Việt Nam một đẳng cấp. Viết ở Hải Ngoại không bị các cơ quan nhà nước kiểm duyệt và cho phép viết gì thì mới được viết...”
 

Lê Thị Huệ nói về thơ Cao Tần, trích trang 19:

“Thư quê hương như tên hề ốm nặng

Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười

Son phấn hán hoan phủ nghìn cay đẳng

Mắt lệ đầy, miệng bát những lời vui...”
 

Lê Thị Huệ nói về Văn chương Đồng Tính nơi trang 28, bài “Của Linh Hồn”, thơ Trân Sa:

“Tôi đã hẹn gặp em trong giấc mơ,

Và em, kẻ chẳng bao giờ phụ lòng tôi,

Em đã tới. Đã ngọt ngào nằm xuống bên tôi,

Đã âu yếm kề tay cho tôi gối.

Đôi mắt đen láy của em tôi đã được nhìn một lần nữa.

Và một lần nữa, em đã cho tôi nghe tiếng nói.

Một lần nữa em đã

Duỗi chiếc chân ăm áp để gác lên mình tôi.

Một lần nữa tôi lại vùi mặt mim cười

Trong tóc em thơm ngát...

Đêm nay tôi lại thèm gặp em biết bao

Trong giấc mơ. Và em, kẻ chẳng bao giờ phụ lòng tôi,

Em hãy tới. Tôi sẽ đi sớm hơn hôm qua,

Về điểm hẹn của chúng ta.” (ngưng trích)
 

Nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến viết bài “Tản Mạn 50 Năm... Văn Học Hải Ngoại,” trong đó có viết về Vũ Huy Quang, trích trang 80: “Đó cũng là những ngày cuối cùng ở Garden Grove hay Westminster, tôi gặp anh Vũ Huy Quang. Hai anh em ngồi uống cà phê, nói chuyện chẳng đầu đuôi, xen kẽ những câu anh mắng nhiếc "chúng nó". Anh chỉ chiếc xe anh mới mua, xì port, rất độc thân, anh lái đi về đây từ chỗ anh ở Pacifica, dẫn chúng tôi về nhà khoe tượng Phật thời cổ. Anh nói anh đang bệnh nặng được chăm sóc có cô bạn chăm lo sức khoẻ thuốc men. Không dám hỏi tới nhưng tôi nghĩ là mình ý thức được căn bệnh ấy, dù tôi không nhìn thấy nó, anh vẫn cười nói rất có duyên, kể chuyện vui của "chúng nó"...”(ngưng trích)
 

Cũng trong bài Phan Thị Trọng Tuyến có chỗ viết về kỷ niệm với Kiều Duy Vĩnh, trích nơi trang 87:

“Lần ghé thăm Kiều Duy Vĩnh rất đáng nhớ. Anh ái ngại khi thấy sự bàng hoàng của tôi: lần đó tôi đến thăm anh theo địa chỉ anh Vũ Thư Hiên cho, khi anh đưa tôi ra khỏi ngõ nhà anh, thì một đứa bé độ mươi mười hai tuổi, từ phía sau, vượt bước ngang ra, nhổ toẹt trước mặt chúng tôi một bãi nước bọt. Anh kéo tay tôi, an ủi: "trẻ con Hà Nội bây giờ mất dạy thế đấy, em đừng chú ý".

Thật ra tôi xốn xang vì lòng căm thù khinh khi biểu lộ ở đứa bé này. Hẳn là anh Vĩnh đang bị canh giữ, theo dõi từ ngày bị kết án "xét lại". Nếu là công an chuyên nghề canh cửa phản động xét lại thì nói gì, nghiệp vụ của họ thôi, nhưng đây là một đứa bé, con cái nhà hàng xóm, và thời bấy giờ, 1997, đất nước thanh bình và thống nhất, hòa giải và hòa hợp. Hoá ra anh vẫn bị bị trù dập, quản thúc theo dõi từ những năm cuối 1960, anh thuộc nhóm phản động, xét lại, những người khi đó chưa hẳn thuộc về muôn năm cũ, giỏi tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tàu, như Lê Bầu, Vũ Huy Cương... như nhóm Nhân Văn giai phẩm trước họ, những con người bị truy cùng quét tận với những bản án chung thân khổ sai không thành văn.”(ngưng trích)
 

Trong bài “Dòng Đời Đưa Đẩy,” nhà báo Phan Thanh Tâm kể lại một kỷ niệm, trích trang 104:

“Chiều ngày đó 30/4/1975 tôi rời sở VTX (Việt Nam Thông Tấn Xã), nằm trên đường Hồng Thập Tự, bên hông dinh Độc Lập cùng lúc với anh cảnh sát Rớt. Trên đường về, tôi thấy có vài xác chết nằm vất vưởng bên lề đường và vài chiếc xe jeep bị bắn cháy. Sau đó Saigon hoảng loạn.

Cả một xã hội bị bật gốc. Thất nghiệp tràn lan. Bạn bè kẻ bị tù tội, kẻ trốn chui trốn nhủi. Tôi phải tìm đường vượt biên. Đất nước hoà bình và thống nhất sao lại bỏ nước ra đi? Hoà bình nhưng chỉ có hoà bình cho kẻ thắng cuộc. Bên thua cuộc, sống trong lo sợ, hơn cả thời đại bác đêm đêm dội vào thành phố. Dân Nam thành công dân hạng hai.

Tôi có ba ông anh, một bà chị xa cách từ năm 1945, ba người ở Hà nội vô, gặp lại (một anh đi bộ đội qua đời vì phi cơ Pháp năm 1951). Đúng là 30 năm mới có ngày này. Sau đó anh đường anh, tôi đường tôi. Tình nghĩa chúng tôi vẫn tốt thôi. Không có hoa hợp hai miền. Hơn nữa, chính quyền mới giở đủ trò ăn cướp: quy chụp phản động, Việt gian, đày đọa giới trí thức trung lưu miền Nam qua học tập cải tạo, bắt đi kinh tế mới, đổi tiền, đánh tư sản mại bản, bao cấp cơ chế, độc tài đảng trị, đốt sách báo, phân biệt đối xử trong công ăn việc làm và nhất là chính sách ngăn chặn việc học hành của các công dân miền Nam, đã khiến "cột đèn cũng muốn bỏ nước ra đi. Một bi kịch cuộc nội chiến là khi tôi rời sở cạnh dinh Độc Lập chiều ngày 30/4 cũng là lúc anh tôi vô dinh Độc Lập. Ông vô Nam để tiếp thu Bộ Giáo dục...”(ngưng trích)
 

Nhà thơ Đài Sử trong bài thơ xuôi, dài, nhan đề “50 Năm, Lưu Vong Và Tiếng Việt,” trích nơi trang 143:

“còn nhớ. từng bước. từng người. chúng tôi đi. chúng tôi vượt biển, tìm một vùng đất khác. tìm những con người khác. và cái giá phải trả. nó thật quá đắt.

45 người, trên một con tàu. dài 25 mét. ngang 8 mét, gần cả tháng lênh đênh trên biển. bị cướp, mất phương hướng. bão tố. cạn kiệt đồ ăn thức uống

đêm. đêm kín mịt. một màu đen kịt. cái đen của một con quái vật. không hình dáng

rồi mưa. bão. những lằn chớp. cắt xé tấm màn đen. xé vụn cái màu đêm bưng bít

ôi. ôi. những cột nước cao ngất trời. con tàu nằm trên đầu ngọn sóng. nó chơi vơi quá. rồi rơi xuống, tiếng gầm của mưa. tiếng thét của gió. tiếng sôi sục của biển. 45 con người xào xốc vào nhau. nước biển. nước mưa. nước mắt. và máu. địa ngục chắc cũng chỉ có vậy. con người sao quá nhỏ bé, một đen kín bủa vây, một sâu hoắm không đáy...”(ngưng trích)
 

Nhà văn Phan Tấn Hải trong bài “Hạnh Phúc Là Đang Sống Với Chữ,” cũng kể lại một kỷ niệm với Vũ Huy Quang và cụ Nghiêm Xuân Hồng, trich trang 160:

“...Có nhiều năm, người tôi gần gũi nhất là Vũ Huy Quang. Anh có khiếu nói chuyện tuyệt vời, ứng biến nhanh nhẹn của dân Hà Nội. Nhưng vì lòng anh cực kỳ thơ mộng, nên Vũ Huy Quang có lẽ là người thường trực kẹt tiền, xe hư và công việc đổi liên tục giữa những thời gian dài thất nghiệp. Những năm cuối đời, Vũ Huy Quang sống nhờ công việc chăm sóc mẹ (chính phủ California trả lương cho người thân chăm sóc). Vũ Huy Quang là người có vài mối tình thơ mộng nhất cõi này, và cũng rất mực sóng gió; dĩ nhiên tôi không kể ra làm chi. Khi cụ Nghiêm Xuân Hồng còn sinh tiền, cứ mỗi tháng, khi lãnh tiền già xong, cụ Hồng điện thoại, bảo anh Vũ Huy Quang rủ Phan Tấn Hải ra quán ăn cơm, một hình thức cụ Hồng làm từ thiện (mà đúng ra, phải gọi là bố thí). Trong những buổi cơm trưa hàng tháng đó, không phải cơm chay, mặc dù cụ Nghiêm Xuân Hồng đang giảng kinh hàng tuần ở một ngôi chùa và tôi vẫn viết những bài nghiên cứu về Phật học, phần lớn là anh Vũ Huy Quang nói chuyện.

Ngôn ngữ anh Quang là cực tả, nhưng không nên hiểu là cộng sản, chỉ nên hiểu như tư tưởng của Bernie Sanders trên chính trường Hoa Kỳ. Cụ Nghiêm Xuân Hồng thì thoát tục rồi, thường là ngồi im lặng cười (tôi không nghĩ là cụ lắng nghe gì cả, bởi vì cụ có vẻ như thường trực đang sống trong cõi Phật nào đó)...”(ngưng trích)
 

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn trong bài “Tôi Viết” đã ghi nhận, trích nơi trang 171: “Nhớ một lần trò chuyện văn nghệ trên Gió-O, có câu hỏi là: Bạn có tin là thi ca có thần cú không? Câu trả lời (đại ý) là Có. Trong đời làm thơ bạn thỉnh thoảng viết được những câu hay, tuyệt bút. Nhưng đó chẳng phải là thần cú trời ban cho. Mà chỉ là do công phu hàm dưỡng tu tập của bạn. Thần cú ấy đã nằm trong tiềm thức bạn. Và kịp thời xuất phát đúng lúc đúng chỗ mà thôi!”
 

Sau đây là một nhà thơ thế hệ trẻ (thế hệ 8x), Quỳnh Iris Nguyen-De Prelle đang định cư ở Châu Âu nhưng thi ca của chị vẫn có lúc nhìn về chính trị Hoa Kỳ. Một bài thơ của chị nơi trang 235, trích như sau:

“Như một người không bao giờ chọn Trump

Như một người vi phụ nữ và trẻ em

Như một người tự kỷ vô hại và tài năng

Yêu thương vô điều kiện

Không tranh chấp và biết ngẳng cao đầu

Không ngừng đầu tranh vì ngày hôm nay, ngày mai tốt đẹp hơn...”(ngưng trích)
 

Trong bài “50 Năm Sau...” nhà thơ Vũ Hoàng Thư viết về nhà văn Trần Hoài Thư, người gom lại những trang giấy đang bị đốt ở quê nhà, trích nơi trang 262:

“...Không thể không nhắc đến nhà văn Trần Hoài Thư một mình một ngựa, gìn vàng giữ ngọc bằng cách sưu tầm và phổ biến lại tài liệu, văn thơ của văn học Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Hà nội chẳng thể tiêu diệt được nền văn học đó với chính sách đốt sách vở, học đòi chiêu thức phần thư khanh nho từ thời Tần Thủy Hoàng, từ đám vệ binh đỏ Maoism sau khi "giải phóng" miền Nam. Nền văn học đó vẫn hiên ngang tồn tại ở hải ngoại.”
 

Trần Hạ Vi là một tác giả trẻ, trong bài “Sống Và Viết Trên Facebook” đã tự nhìn về bản thân chi, trích đoạn cuối, nơi trang 311:

“...Trần Hạ Vi là một cái tên được tạo nên từ facebook, sống và viết chủ đạo ở Facebook. Rồi tôi có tiếp tục sử dụng Facebook không, hay tôi sẽ làm gì khi Facebook đóng cửa như Blog Yahoo 360 ngày xưa? Không có chuyện gì trên đời này là không thể xảy ra. Tôi chỉ tin rằng ngọn lửa tình yêu văn thơ đã được khơi lên từ cuối năm 2015, giấc mơ quý giá của bản thân tôi, tiếng Việt của tôi và tự do của tôi sẽ theo tôi đến suốt cuộc đời.”
 

Tác giả Bùi Văn Phú, trong bài viết “Tiếng Mẹ Đẻ, Tiếng Anh Của Tôi” đã tự nhìn về mình, trích nơi trang 348:

“Tôi được học dưới mái trường Việt Nam Cộng Hoa nên viết "Thuỷ Quân Lục Chiến" chứ không viết "Lính thuỷ đánh bộ", "trực thăng" thay cho "máy bay lên thẳng", "phi công" chứ không phải "giặc lái", "Bạch Ốc" thay cho "Nhà Trắng" v.v... Tôi viết "nước Mỹ", không phải "nước Mĩ, "Hoa Kỳ" không phải "Hoa Ki". Giới chức trong nước soạn chương trình học tiếng Việt đổi i dài thành i ngắn đã đưa đến chuyện cười ra nước mắt, như tên Thanh Thuý.”

Nhà thơ Trịnh Gia Mỹ trong bài “Những Mối Duyên Văn Nghệ Với Văn Chương Hải Ngoại” đã kể lại vài kỷ niệm, trích trang 359:

“Hôm lễ tang Mai Thảo ở Peek Family, hiện diện hầu hết những người yêu mến Ông. Cây tích trượng gõ mạnh xuống nền gạch của Hòa Thượng Mãn Giác như tiếng chuông thức tỉnh người nằm đó và cho cả người sống. Sinh ký, tử quy. Từ nay, "nơi góc tường sẽ không cỏn in cái bóng gầy" nữa. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác buồn bã, "Mai Thảo là người cô đơn nhất trong thế giới lưu vong".

Dường như căn nhà ở đường McClure, thành phố Westminster, của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là nơi mà tôi được gặp nhiều người viết nhất trong dòng văn học hải ngoại...” (ngưng trích)
 

Nhà văn Đỗ Trường, sinh năm 1960 ở Miền Bắc khi Việt Nam còn chia đôi và đi lao động ở Đức năm 1987 và ở luôn tới bây giờ, có bài viết “Mai Thảo – Người Giữ Lửa Cho Văn Học Việt Hải Ngoại” đã viết nơi trang 420:

“Tôi nghĩ, văn thơ Mai Thảo sẽ còn sống mãi, nếu người đọc vẫn còn yêu cái đẹp, và rung động trước nó. Và trên hết, ta thấy cái tình của ông đối với văn chương, đối với bạn bè. Đó là cái giá trị sâu sắc, lâu dài của Mai Thảo. Và cho đến nay, với tôi, chưa có ai có thể thay thế vai trò: NGƯỜI GIỮ LỬA CHO VĂN HỌC VIỆT HẢI NGOẠI của Mai Thảo, trong lòng người đọc.”
 

Nhìn chung, người điểm sách xin nói rằng, trang nào của tuyển tập  cũng có giá trị văn học riêng, không chỉ vì giá trị văn chương mà cả sử học. Nếu vừa đọc, vừa suy nghĩ, một độc giả ưa thích văn học hẳn là phải hơn một năm mới đọc xong cuốn sách này.

Bạn có thể tìm mua tuyển tập nhiều tác giả “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại” trên mạng Amazon, nơi lghi giá mỗi cuốn là 30 USD:

https://www.amzn.com/dp/B0GYVBN9DK

Nếu bạn hỏi cuốn sách nào tuyệt vời nhất trong 50 năm qua, hiển nhiên tôi sẽ đáp rằng tuyển tập này là một trong vài cuốn sách nên đọc, và nên lưu giữ nơi tủ sách gia đình, và nơi các thư viện cộng đồng.

-- Phan Tấn Hải.

California, tháng 10/2026

 

 

 



GENEVA Theo số liệu được công bố bởi cơ quan IOM của Liên Hiệp Quốc, biên giới Hoa Kỳ-Mexico là tuyến đường di cư trên đất liền nguy hiểm nhất thế giới, hàng trăm di dân đã bỏ mạng trong hành trình băng qua sa mạc đầy nguy hiểm, theo Reuters.
MOSCOW Nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã gặp nhau để thảo luận về các vấn đề liên quan đến quân sự, cuộc chiến ở Ukraine và khả năng hỗ trợ của Nga cho chương trình vệ tinh của Bình Nhưỡng, theo Reuters.
Trong các việc làm phước thiện thì biên chép và ấn tống kinh điển luôn được khuyến khích và ca ngợi, vì lợi lạc của nó đối với người làm phước thật nhiệm mầu, không thể nghĩ bàn. Thời xưa, khi các phương tiện ấn loát còn thô sơ thì chép kinh thành nhiều phiên bản để tụng đọc là hình thức phổ biến.
Có thể có sinh vật trên một hành tinh cách địa cầu 120 năm ánh sáng. Hành tinh Hycean là một hành tinh có bầu khí quyển giàu hydro và các đại dương nước lỏng – và NASA cho biết Kính viễn vọng Không gian James Webb có thể đã thấy một hành tinh tuyệt vời cách chúng ta 120 năm ánh sáng.
Hôm thứ Ba, Chủ tịch Hạ Viện Kevin McCarthy tuyên bố mở một cuộc điều tra luận tội Tổng thống Joe Biden; động thái này được cho là để xoa dịu các nhà lập pháp cực hữu đang đe dọa sẽ lật đổ McCarthy nếu ông không chấp thuận các yêu cầu về việc cắt giảm chi tiêu nhằm buộc chính phủ phải đóng cửa vào cuối tháng này, theo New York Times.
Thứ bảy này là một năm, kể từ khi cái chết của Mahsa Jina Amini gây ra các cuộc biểu tình trên toàn quốc ở Iran. Ba ngày trước đó, Amini đã bị cảnh sát đạo đức Iran bắt giữ với cáo buộc đội khăn trùm đầu không đúng cách. Sau đó, chính quyền tuyên bố cô bị chết bởi cơn đau tim. Nhưng gia đình và những người đã có mặt tại hiện trường cho rằng Amini đã bị đánh đến chết. Ngay sau khi công bố cái chết của cô, những cuộc biểu tình đầu tiên đã nổ ra, với khẩu hiệu "phụ nữ, sự sống, tự do". Vào ngày giỗ đầu của cô, chính quyền Iran lo ngại rằng các cuộc biểu tình mới sẽ bùng lên, và chuẩn bị bằng mọi cách để ngăn cản điều đó xảy ra. Chú của Amini, Saef Aeli, đã bị bắt để ngăn cản ông tụ tập những người biểu tình vào ngày giỗ đầu của cháu mình.
Tính cả cuộc viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Joe Biden vào cuối tuần qua thì kể từ năm 2000, cả năm đời tổng thống Mỹ liên tiếp đều đến Việt Nam, một ngoại lệ tại khu vực Đông Nam Á. Mỗi chuyến công du đánh dấu một thời điểm lịch sử trong mối quan hệ giữa hai quốc gia và mang ảnh hưởng khác nhau tùy theo chính sách mỗi đời tổng thống Mỹ về mặt chính trị và đối ngoại. Nhưng có một điều thú vị bên lề là, cả ba tổng thống thuộc đảng Dân Chủ là Bill Clinton, Barack Obama và Joe Biden đều trích dẫn những câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du trong các phát biểu của mình tại Việt Nam.
Theo một nhà lãnh đạo, khoảng 2,000 người có thể đã chết trong trận lũ lụt thảm khốc khi một cơn bão mạnh càn quét qua thành phố Derna phía đông Libya, theo the Guardian.
WASHINGTON (APNews) – Hôm thứ Hai (11/9), Hoa Kỳ đã chuẩn thuận vắc xin COVID-19 mũi cập nhật, với hy vọng sẽ tăng cường khả năng bảo vệ cho mọi người trước các chủng mới nhất của Covid và số ca nhiễm tăng vọt vào mùa thu và mùa đông này.
Hôm nay, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã lên mạng X, trước đây gọi là Twitter, hôm thứ Hai để kỷ niệm 22 năm vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 vào Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) và Pentagon, nhấn mạnh rằng sự kiện này đã thay đổi lịch sử đất nước nhưng không đổi nổi "bản chất của dân tộc này."
NEW DELHI Tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở New Delhi, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã giải thích việc xả nước nhiễm phóng xạ đã được biến chế từ nhà máy hạt nhân Fukushima ra biển với các nhà lãnh đạo G20, theo Reuters.
Tổng thống Joe Biden đã mở đầu chuyến thăm ngắn tới Việt Nam hôm Chủ nhật bằng cách nói với lãnh đạo VN rằng hai nước có cơ hội định hình khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong nhiều thập niên tới. VN đang nâng cao quan hệ với Hoa Kỳ lên cấp độ đối tác chiến lược toàn diện (comprehensive strategic partner), điều mà một cố vấn hàng đầu của Biden cho rằng đại diện cho cấp độ quan hệ đối tác quốc tế cao nhất của Việt Nam.
Tôi vốn mê đọc từ thuở còn rất nhỏ. Dĩ nhiên, mê bất cứ thứ gì cũng đều không tốt, vì nó sẽ hình thành một thứ nghiệp gì đó. Thêm nữa, chữ bao giờ cũng mơ hồ. Chữ là ký hiệu, là biểu tượng, là ngón tay chỉ trăng. Dù vậy, trong khi chữ là một hàng rào ngăn cách chúng ta với thực tại, chữ lại là một phương tiện để hiểu nhau, để cảm thông và để hoằng pháp.
Một trận động đất mạnh 6,8 độ richter đã xảy ra ở Maroc (Morocco, một nước Bắc Phi), theo Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS). Theo truyền thông nhà nước Maroc, ít nhất 1,000 người chết và 672 người bị thương. Trận động đất xảy ra ngay sau 11 giờ tối giờ địa phương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.