Hôm nay,  

Chuyện Vãn: Bà Anne Carson - Nobel Văn Chương 2026 & Thanh Tâm Tuyền

21/10/202614:30:00(Xem: 466)

 

Chuyện Vãn: Bà Anne Carson - Nobel Văn Chương 2026 & Thanh Tâm Tuyền
  

Vương Trùng Dương

 

blank

  
blank

 Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.

 

Hàn Lâm Viện Thụy Điển (The Swedish Academy - Svenska Akademien) tuyển chọn Nobel Văn Chương có 18 thành viên: Eric M. Runesson (luật sư), Bo Ralph (ngôn ngữ học), David Hakansson (ngôn ngữ học), Anders Olsson (nghiên cứu văn học, nhà văn), Ingrid Carlberg (nhà văn, nhà báo), Tomas Riad (ngôn ngữ), Ellen Mattson (nhà văn), Peter Englund (nhà sử học), Mats Malm (nhà nghiên cứu lịch sử văn học), Per Wästberg (nhà văn), Anne Swärd (nhà văn), Steve Sem-Sandberg (nhà văn, nhà phê bình), Jila Mossaed (nhà văn), Anna-Karin Palm (nhà văn), Horace Engdahl (nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học), Anna Hallberg (nhà thơ, nhà phê bình văn học).

Với 18 thành viên tuyển chọn Nobel Văn Chương cho thấy giá trị của Ban Giám Khảo.

Thủ tục đề cử Giải Nobel Văn Chương: Nhà văn không thể tự nộp đơn ứng cử; người đề cử phải thuộc tổ chức được công nhận đủ tư cách. Chọn ứng viên là nhà văn, tác giả giới thiệu. Gửi hồ sơ bằng thư bưu điện đến The Swedish Academy’s Nobel Committee, giới thiệu sự nghiệp, các tác phẩm tiêu biểu và những tài liệu giúp Hàn Lâm Viện Thụy Điển đánh giá ứng viên.

Nomination for the Nobel Prize in Literature. To: The Swedish Academy’s Nobel Committee.
 

Thành phần đề cử: Các giáo sư văn học và ngôn ngữ học tại các trường đại học. Những người từng đoạt giải Nobel Văn Chương trước đây. Chủ tịch của các hiệp hội nhà văn đại diện cho hoạt động sáng tác văn học tại quốc gia của họ.

Chẳng hạn  tại miền Nam Việt Nam, nhà văn, nhà báo Hồ Hữu Tường (1910-1980): Nhà văn, nhà báo, được đề cử vào năm 1969 bởi nhà thơ Đông Hồ (khi đó là giáo sư tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn).

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Học giả, giáo sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn là Thanh Lãng, và là Chủ Tịch sáng lập Hội Văn Bút Việt Nam. Vũ Hoàng Chương giữ vai trò Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (giai đoạn 1969-1973).

Kể từ năm 1901, nhà thơ và nhà tiểu luận người Pháp Sully Prudhomme (1839-1907) là người đầu tiên được trao giải Nobel Văn Chương. Tính đến năm 2026, 16 trong số 123 tác giả nhận được Giải Nobel Văn Chương, phái nam có 104, phái nữ có 19 tác giả:

Selma Lagerlöf Thụy Điển 1909; Grazia Deledda Ý 1926; Sigrid Undset Na Uy 1928; Pearl S. Buck Mỹ 1938; Gabriela Mistral Chile 1945; Nelly Sachs Đức/Thụy Điển 1966, Nadine Gordimer Nam Phi 1991; Toni Morrison Mỹ 1993; Wisława Szymborska Ba Lan 1996, Elfriede Jelinek Áo 2004; Doris Lessing Anh 2007; Herta Müller Đức 2009; Alice Munro Canada 2013; Svetlana Alexievich Belarus 2015; Olga Tokarczuk Ba Lan 2018; Louise Glück Mỹ 2020; Annie Ernaux Pháp 2022; Han Kang Hàn Quốc 2024 và năm nay Anne Carson Canada 2026. Như vậy phái nữ với con số khiêm nhượng. Vì vậy, danh sách có 19 phụ nữ nhận giải tính đến năm 2026.
 

Pháp là quốc gia có nhiều nhà văn đoạt Nobel Văn Chương Nhất Thế Giới, từ năm 1901, với Sully Prudhomme, năm 1904 với Frédéric Mistral và lần lượt qua các thập niên, như Romain Rolland (1915), Anatole France (1921), Henri Bergson (1927) và Roger Martin du Gard (1937), André Gide (1947), François Mauriac (1952), Albert Camus (1957) Saint-John Perse (1960). Năm 1964, Jean-Paul Sartre được trao Nobel Văn Chương nhưng chủ động từ chối giải thưởng. Samuel Beckett (1969), Le Clézio (2008), Patrick Modiano (2014) và Annie Ernaux năm 2022, nhà văn nữ đầu tiên của Pháp giành được giải thưởng này.

Pháp nổi tiếng với các nhà văn nữ hơn một trăm năm qua trên thế giới nhưng chỉ có duy nhất Annie Ernaux lọt vào mắt xanh của 18 thành viên tuyển chọn Nobel Văn Chương.

*

Năm 2013, nhà văn Canada Alice Munro được giải thưởng Nobel Văn Chương với sự nghiệp truyện ngắn. Với giải thưởng Nobel Văn Chương thuộc các thể loại trong lĩnh vực sáng tác khác nhau: tiểu thuyết (truyện dài, truyện ngắn), thi ca, kịch nghệ và triết học (Henri Bergson, Jean-Paul Sartre, Bertrand Russell…). Thông thường, tác giả được Nobel Văn Chương, vài tác phẩm tiêu biểu của họ được dịch ra nhiều thứ tiếng, phổ biến trên thế giới. Điển hình như thời Việt Nam Cộng Hòa, những tác giả vừa được giải thưởng nầy được dịch sang tiếng Việt (qua bản Pháp, Anh). Trong bài viết về sách dịch ở miền Nam Việt Nam đã liệt kê tác phẩm và dịch giả.
 

Năm 2026, bà Anne Carson được giải thưởng Nobel Văn Chương với danh nghĩa nhà thơ, nhà biên khảo và dịch giả được vinh danh nhờ sự nghiệp sáng tác kết hợp giữa truyền thống cổ điển và văn học hiện đại. Carson kết hợp thơ, văn xuôi, biên khảo, đối thoại và dịch thuật thành thể loại tổng hợp không theo chuẩn mực nào.

Về tiểu luân, năm 1981, bà nhận bằng tiến sĩ văn học cổ điển tại Đại Học Toronto với luận án viết bằng tiếng Latin: Odi et Amo Ergo Sum (Tôi Ghét & Tôi Yêu, Vậy Nên Tôi Tồn Tại).

Năm 1986, bà viết lại luận án thành cuốn tiểu luận Eros the Bittersweet (Eros Ngọt Đắng). Chữ “ngọt đắng” bà mượn từ nữ thi sĩ Hy Lạp cổ đại Sappho, người đã ghép hai vị trái ngược ấy thành một chữ để khắc họa bản chất của tình yêu. Bà có công làm sống lại văn học cổ đại Hy Lạp.

Carson coi việc truy tìm nguồn gốc của từ ngữ cho công việc biên soạn. Các bản dịch văn học Hy Lạp cổ điển, tiêu biểu như If Not, Winter (2002), bản dịch các mảnh thơ của Sappho, cùng các bi kịch của Sophocles và Euripides, trong đó có Antigone (2015)… Cuốn Men in the off Hours, bà đặt sử gia Thucydides của Hy Lạp cổ cạnh nữ văn sĩ Anh Virginia Woolf, 2 người cách nhau hơn 2.300 năm, cùng viết về lúc cuộc chiến tranh bắt đầu.

Vở kịch Norma Jeane Baker of Troy, kết hợp câu chuyện của nhân vật “Helen Của Thành Troy” trong vở kịch “Helen” của Euripides, nhà viết bi kịch Hy Lạp, với câu chuyện của minh tinh quá cố Marilyn Monroe người Mỹ…
 

Về thi ca, tác phẩm Autobiography Of Red (Tự Truyện Đỏ, 1998), một tiểu thuyết viết bằng thơ (Novel in verse). Bà dựa trên những mảnh thơ còn sót lại của nhà thơ Hy Lạp cổ đại Stesichoros về Geryon, con quái vật có cánh màu đỏ bị người anh hùng Herakles tiêu diệt. Kẻ vốn chỉ là một chiến tích trong thần thoại được Carson trao cho đời sống nội tâm. Geryon trở thành nhân vật chính của một câu chuyện trưởng thành đặt trong thời hiện đại.

The Glass Essay (in trong tập Glass, Irony and God, 1995), với thể thơ dài câu chữ tựa như “tùy bút thơ”. Bài thơ kể về một người phụ nữ về thăm mẹ sau cuộc chia tay, vừa nghĩ về người tình cũ vừa đọc lại thơ Emily Brontë. The Glass Essay bài thơ - tiểu luận (Essay-poem hoặc lyric essay).

Tác phẩm Float (2016) gồm 22 tập nhỏ và Wrong Norma (2024) xen lẫn thơ, văn xuôi.

Cuốn Economy of the Unlost, bà đem Simonides, nhà thơ Hy Lạp sống cách đây 2.500 năm, đặt cạnh Paul Celan, nhà thơ Do Thái viết tiếng Đức ở thế kỷ 20 tuy hai ông không cùng thời, không cùng tiếng nói, không ai biết ai.

Tóm lại thơ của bà Carson không theo một thể thơ truyền thống cố định nào, mà thường phá vỡ ranh giới thể loại.
 

Trong thi ca Âu, Mỹ xưa nay có nhiều trường phái qua các thời kỳ. Thơ của bà Carson không thoe trường phái nào. Ngay cả Thơ Tân Hình Thức (New Formalism) là một trường phái thi ca xuất hiện tại Mỹ từ giữa thập niên 80 và thịnh hành vào những năm 1990… Phong trào thơ New Sincerity (tạm gọi Tân Chân Thành) tại Mỹ cũng vào thập niên 1990 do Joseph Massey, Anthony Robinson và Andrew Mister khởi xướng. Tuy nhiên  ít được phổ biến “phong trào” trong thế giới thi ca.

Nhiều nhà phê bình văn học xem bà Carson với thơ ca cách tân Anh ngữ New Sincerity giữa thời cổ đại và hiện đại. Đó cũng là sự dung hòa, trước đây chỉ đề cập qua các bài viết, và chưa áp dụng trong thi ca.
 

*

Đây không phải là bài phê bình văn học mà là Chuyện Vãn: Nobel Văn Chương 2026 với Anne Carson, trong đó về thi ca. Nên nhân đây nói về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Ông là một trong những gương mặt tiên phong và tiêu biểu nhất của phong trào thơ tự do tại miền Nam Việt Nam từ giữa thập niên 1950.

Trong bài viết Thanh Tâm Tuyền, Giữa Lòng Cuộc Đời của tôi vào thảng, 2018 đề cập đến sự nghiệp văn chương của ông; trong đó “Thanh Tâm Tuyền được nổi tiếng về thơ hơn văn vì ông là người làm sống lại thơ tự do được hình thành từ những thập niên về trước và mang làn gió gió mới trong thi ca Việt Nam hiện đại”.
 

Phong trào Thơ Mới tại Việt Nam khởi xướng vào năm 1932, bài thơ Tình Già của Phan Khôi được đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn. Phan Khôi chỉ trích lối thơ cũ, ý tưởng bị gò bó bởi niêm luật, và đòi hỏi cởi trói sáng tác thi ca.

Trải qua hơn hai thập niên, trong bài viết Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay, Thanh Tâm Tuyền cho rằng “Nhịp điệu của thơ tự do không gieo lối đồng âm, đồng thanh, mà là nhịp điệu của hình ảnh, nhịp điệu của ý thức…”. “Tôi không ca ngợi tình yêu, tôi nguyền rủa tình yêu. Mỗi tiếng, mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hận thù, khinh bỉ, dày vò, đớn đau, tuyệt vọng, nhơ nhuốc, dối trá, hằn học, trơ trẽn, bệnh hoạn, xấc láo, thô bạo, cục cằn, tủi hổ, yếu đuối, bất lực, chết chóc, nghĩa là tất cả những gì tình yêu loại trừ”
 

Tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (1956) ra đời khi tác giả mới 20 tuổi. Đây là tập tuyên ngôn của Thơ Tự Do.

“Tôi buồn khóc như buồn nôn

 ngoài phố

 nắng thủy tinh

 tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

 thanh tâm tuyền…

 tôi hét tên tôi cho nguôi giận

 thanh tâm tuyền…

 tôi gào tên tôi thảm thiết

 thanh tâm tuyền

 bóp cổ tôi chết gục

 để tôi được phục sinh”

(Phục Sinh)
 

 “Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông

Mà lòng mình phơi trên kè đá…

Chiều không xanh không tím không hồng

Những ống khói tàu mệt lả”

(Bao Giờ)
 

“Tôi biết những người khóc lẻ loi

không nguôi một phút

những người khóc lệ không ra ngoài

tim mình

em biết không

lệ là những viên đá xanh

tim rũ rượi…

đôi khi anh muốn tin

ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế

mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em

nguồn sữa mật khởi đầu”

(Lệ Đá Xanh)
 

Tập thơ Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (1964).

 “… ở cuối đêm

em rũ tóc nói những lời mê sảng

những ám hiệu

của mặt biển đen không

tình yêu tuyệt vọng

anh xé tóc em cùng những cành lá chết”

(Đêm)
 

“anh là thằng điên khùng

ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới

chiếc kèn hát mãi than van

điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng

(Dạ Khúc)
 

Với Phan Khôi, Thanh Tâm Tuyền từ Thơ Mới đến Thơ Tự Do của thập niên 1930’ và 1950’… coi như tiên phong thể thơ riêng của Carson nhưng với óc sáng tạo của bà đưa người đọc trở về quá khứ thời Hy Lạp cổ đại, tưởng chừng mai mọt, trở lại thời hiện đại. Có lẽ Hàn Lâm Viện Văn Học Thụy Điển nhận thấy “sứ mệnh nhà thơ” và nói như William Wordswarth “Thơ là những sợi tơ rút ra từ cuộc sống và quay trở lại trang điểm trang cho cuộc sống bằng vẻ đẹp muôn màu của nó”.
 

Thơ của bà Carson, có bài cực ngắn như: Love Town:

“She ran in.

Wet corn.

Yellow braid.

Down her back”.
 

Đọc máy câu thơ nầy, liện tưởng bài thơ Sương Rơi của Nguyễn Vỹ năm 1935 với 4 câu đầu bài thơ:

“Sương rơi

Nặng trĩu

Trên cành

Dương liễu...”

Có bài thơ, chữ nghĩa dài lê thê: What Happened To New York, May 5, 2025.
 

Chuyện Gì Xảy Ra Ở New York:

“Trên bàn trong phòng, thuốc lá, con dao, cuốn sổ, bảy giờ tối. Tôi ngồi viết cho đầu óc khỏi nổ tung. Có lẽ bạn đã biết, bài thơ ngắn của tôi. Ừ, đã đến được chừng này rồi, giờ đây nên chờ cho ký ức chết cạn, mới bắt đầu lại.

Những ngày này, gió là kẻ thù. Bạn bị tách khỏi tòa nhà, gió sẽ lật úp bạn. Gió trên hai mươi lăm dặm một giờ thì không thể bay lên. Cảm nhận cơn gió ấy, nghĩ đến gia đình. Không có gió, trên đó là thiên đường, chỉ có bạn và những khung cửa sổ, chẳng nghe thấy gì, sự yên tĩnh, sự yên tĩnh này là một thành phố mới. Tôi thích ở trên đó, nhìn xuống những con người cả ngày ở bên trong, lách tách lách tách lách tách. Tôi từng quen người bạn cùng nghề rơi xuống chín trăm feet, dây cáp của anh ta bị đứt. Chuyện đó lẽ ra không nên xảy ra.

Gián. Làm tổ trong những phễu lọc cà phê. Lúc nào cũng cảnh giác. Chúng có thích bạn không? Bật đèn lên, chúng giật mình lao nhanh như bầy sao xẹt. Tắt đèn, chúng biến mất. Bạn biết không, những khách sạn lớn đều bí ẩn hợp đồng với những hãng diệt côn trùng.

Có lần tôi ngồi cạnh Rudolf Nureyev và bóp vào đùi ông, cứng như đá cẩm thạch. Andy cứ chớp đèn máy ảnh chụp tất cả mọi người, rồi Andy và nữ hoàng ở bàn kế bên tranh luận xem bạn trai của ai có cơ bắp ngực lớn hơn. Họ cá cả bữa ăn. Cúc áo được tháo ra. Andy thắng. Tất cả những cô gái đó bây giờ đều đã chết. Đó là một hành tinh lâng lâng, thiếu không khí thở.

Hồi mới mở cửa hàng, tôi tự tay rèn những cái móc treo thịt. Một chiếc móc thịt được làm cho đúng cách thật đẹp. Cả mái che bằng kim loại nữa, để che thịt khỏi ánh nắng. Dọc con phố này, trước kia đâu đâu cũng là lò mổ. Đây là một chuyện đùa: tôi đến đây năm 1968, khi xe tăng Liên Xô tiến vào Praha, đoán xem bây giờ ai đang đuổi tôi khỏi tòa nhà của mình? Một nhà phát triển bất động sản người Nga!

Về mặt kỹ thuật, chúng tôi là những người chiếm nhà trái phép. Howard nói: “đóa lan của sự thân mật.” Hồi ấy ngày nào Howard cũng viết một bài thơ, dường như tôi đã khơi hứng cho anh. Trước đó tôi cũng từng mê một vài người, nhưng lần này là những vì sao rơi và những con sứa. Chúng tôi thay phiên nhau tắm, đổ từng xô nước lên người nhau. Howard khó lòng rời khỏi Rick, nhưng anh nói tôi giống Jane Bowles. Về sau anh không thể tắm khi đứng nữa, tôi phải tìm một chiếc ghế gỗ có tay vịn.

Tôi bước vào đời bạn như một tia chớp, dịu dàng, lịch sự và đa tài, một nhà sử học, một người làm văn chương; dù tôi đã tạo ra một hình thức văn chương mới đầy sức sống, viết ra những thứ sẽ còn tồn tại chừng nào tiếng Anh còn hiện hữu, phải nói tôi có mùi, mỗi khi đến Knopf, họ cho tôi ngồi trên thành cửa sổ để khỏi lây rận sang ghế của họ. Thiên tài không lây, tôi nói như vậy.

Sự buồn chán không chịu nổi của loài vật. Lần theo ý nghĩa của mã lực. Bốn hoặc năm con ngựa, mỗi con đứng một bên chiếc thuyền, chạy trên một guồng quay tròn được vận hành bánh răng và bánh xe, chúng bị buộc vào đó. Bằng bước chân tiến về phía trước, chúng quay guồng, đẩy chiếc thuyền đi, lúc nào cũng nhìn về một hướng; giả sử chúng sống được mười bảy hay mười tám năm. Chúng không cười, không khóc, không nhìn thấy dòng Hudson lao nhanh. Chúng cũng chẳng chế giễu khi nghe ai đó trên boong tàu khoe hiểu biết, chuyện phiền của nhận thức.

Bây giờ tôi sợ. New York không giúp được tôi. David Byrne không giúp được tôi. Điều khiển giao thông không giúp được tôi. Bánh cupcake không giúp được tôi. Chiếc xe lai không giúp được tôi. Mỗi ngày sáu đến tám ly nước băng tan từ sông Iceland cũng không giúp được tôi. Sự thiêng liêng điên loạn, cơn điên phát cuồng mang dáng dấp thần linh của Ahab vô thần cũng không giúp được tôi. Đôi mắt trong veo của lũ heo không giúp được tôi. Món quà của lửa không giúp được tôi. Rock ’n’ roll không giúp được tôi. Trời ơi, hỡi linh hồn ta! Rock ’n’ roll giờ đây chẳng còn giúp được ai nữa.

Mặt trời tháng Mười Hai đang lặn, ngoài phố hơi tối, nhưng ban ngày bạn xuống tàu, đi theo chỉ dẫn, mọi chuyện đều ổn, rồi đến đêm, có một thứ gì đó khác đi, lệch sai khỏi chỗ, bạn có thể là bất cứ thứ gì, có thể là cảnh sát, một mục tiêu, có thể bất cứ thứ gì. Đi ngang qua tòa nhà cũ, ghé thăm người gác cửa, tên ông là Claude. Ai cũng yêu quý Claude. Điều làm người có phẩm chất là không ngừng hoàn thiện chính mình, đó là lý do khi nghe một Jeremiah nào đó than vãn về New York đang biến mất, tôi chỉ nghĩ, Này anh bạn, đời là thế, đó là cuộc mặc cả chúng ta đã chấp nhận. Nó luôn luôn là chúng ta. Người ta đã nói y như vậy từ những năm 1840.

Đó là đau và vui, cao và thấp, mềm và cứng, chuột và bánh nướng, bùm bùm bùm bùm, xin chào, chạng vạng.

Chạng vạng là gì?

Chạng vạng đưa cái mơ hồ trở lại. Phân phối những điều bạn đang ngẫm nghĩ. Hóa vật chất thành những bóng ma lang thang trong tâm trí. Khiến bạn xa lạ với chính mình bây giờ, đưa bạn vào im lặng, vào cuộc xô đẩy, vào bóng tối mà bạn có thể nương tựa”

(Bản dịch của Ngu Yên)
 

Bài thơ Đêm của Thanh Tâm Tuyền cũng dài lê thê:

“Có ai gọi tên tôi giữa phố, phố hoảng sợ cái tên lăn như một xác chết nhập hồn. (...). Anh không phải là một cái tên (...). Mỗi lần muốn gặp anh, em chỉ việc chọc dao thẳng vào tim, máu sẽ chảy và anh tới theo con đường máu tinh khiết ấy. Anh sẽ uống những giọt máu thơm tho của tình yêu làm anh bất tử. (...)

Có ai gọi tên tôi giữa phố, ngay sau lưng phố cụt cái tên mọc hai cánh tay chới với. Tôi dừng lại rút khí giới, con dao của em, ...

Sao không ai gọi tôi nữa? Tôi đứng im đây, vực sâu trước mắt, cái tên sau lưng (....). Cái tên chết điếng (...). Hóa ra tôi đâm tôi chết tốt.

Cũng xong”.
 

Bài thơ Khúc Tháng Chạp của Thanh Tâm Tuyền năm 1969, chỉ mấy đoạn trong 2 trang sách:

“Cớ sao chim tinh khôn, chim chẳng hay mùa đông chụp tới? Mùa đông, người thiếu phụ điêu ngoa vẻ u tình, người thiếu phụ hỗn hào nhẫn tâm quật thúc mê man. Người thiếu phụ không biết hổ ngươi. Mỗi ngày soi tấm gương hoen âm bầu trời đục dữ dằn, soi mắt mình trong mắt mình. Leo ngược dốc đứng, dốc trơn trùi nhọn hoắt. Rơi lăn lóc như bụi sạn.

Ôi - Chim hiếm hoi, chim lạ kỳ, chim bé bỏng. Vụt bay nỗi sầu bi, cánh hân hoan xơ xác. Hiểu không sự lênh đênh cùng thẳm? Hiểu không ngọn lao đao tuyệt tích? Hiểu không con bấc mù mất dấu trên đồng bưng mặt ngất? Hiểu không?... Hiểu không. Những thoáng chốc vi vu nứt nẻ?

Mùa đông nham hiểm. Tiếng vang âm gian tà. Chuỗi đêm mòn trắng. Cành trụi lá gẫy khô. Trong bưng bít đắm đuối, thân vang rời mài miệt... Từ đỉnh thầm, đầu ngọn cỏ, thức mây đùn. Ôi mùa đông hố bẫy, ngời đen ngươi dẫn dụ. Chút bấp bênh đùa rỡn loã lồ xuyên luồn mũi kim rỉ sét. Ôi - tiếng vang lừng rơi ngã của ham mê, tiếng vang chết yểu giữa tường vách chật bóng điên loà.

Nội không quạnh quẽ như ngàn cõi chiêm bao vượt. Đập vỗ, đập vỗ hoài con mắt buốt, con mắt vi ty rụng trụi lớp mi che, không động thức. Con mắt khờ câm căng chống. Tưởng dáng mùa hè chín ối. Tưởng nét mùa thu lung linh. Đã bay qua, bay qua nghìn mệt mỏi. Như điệu ngân hụt hẫng. Mưa buông khít chân trời, mưa rũ liệt làm sao ngớt, mưa giả lả. Những huyệt trốt cuốn, vật nài chim ngây thơ khoá cánh, vùi dập chim mỏng mảnh trong khuất khúc giá băng. Đắp điếm những mai chiều như bao giờ xỉn cũ, những canh tàn giấu cất, những khuya lên rách rưới như bao giờ. Như bao giờ, hiểu không như bao giờ?”
 

Trong tập thơ Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy cùa Thanh Tâm Tuyền có nhiều bài thơ viết dài như vậy.

Trong bài viết của Nguyện Đức Lực (trích):

Từ hôm bà Anne Carson được Nobel Văn Chương, nhiều người tìm sách bà đọc thử rồi kêu trời. Có người chê thẳng, rằng thơ gì mà “như học sinh tiểu học viết”…

Bài dễ đọc nhất của bà là The Glass Essay. Bài mở đầu bằng mục tên là I (tôi). “4 giờ sáng người đàn bà tỉnh dậy, nghĩ tới người đàn ông đã bỏ đi hồi tháng 9. Chị vào nhà tắm rửa mặt rồi quay lại giường. Mục ấy hết ở câu: “Ngày mai tôi sẽ đi thăm mẹ tôi”.

Mục kế tên là She (bà ấy). “Mẹ chị sống 1 mình trên vùng đồng hoang phía bắc. Chị đi tàu cả ngày, mang theo rất nhiều sách, trong đó có toàn tập Emily Bronte (nữ văn sĩ Anh thế kỷ 19, tác giả Đồi Gió Hú). Chị viết: “Đây là tác giả tôi thích nhất. Cũng là nỗi sợ lớn nhất của tôi”.
 

Mục thứ 3 tên là Three (3), mở bằng câu: “3 người đàn bà im lặng bên bàn bếp. Thế nhưng trong bếp chỉ có 2 mẹ con đang ngồi nhai rau diếp. Cuốn Emily Bronte thì mở sẵn, dựng vào hũ đường”. Người thứ 3 là ai, bà Carson không viết ra!

Chắc ta đã thấy phần nào vấn đề. Cả 3 mục không có chữ nào khó. Người yêu bỏ đi, bà mẹ ở quê, 1 nữ văn sĩ chết từ năm 1848, 3 chuyện đặt cạnh nhau mà không có lấy 1 câu liên kết chúng lại.
 

Cuốn Short Talks  có một bài dài đúng 7 câu, tên là Bàn Về Chuyện Đi Giật Lùi. “Mẹ cấm mấy đứa con đi giật lùi, vì người chết đi như thế. Bà đoán mẹ nghe được chuyện ấy từ 1 bản dịch tồi (dân dịch sách có khác, nghĩ ngay tới dịch!). Rồi bà viết rằng, người chết không đi giật lùi, họ đi sau lưng mình, họ không có phổi nên không gọi được mà rất mong mình quay lại. Câu cuối là: “Họ là nạn nhân của tình yêu, nhiều người trong số họ”. Nghĩa là chỉ trong 7 câu, bà đi từ lời mẹ dặn sang chuyện dịch sách, sang người chết, rồi dừng ở tình yêu; mà giữa các chặng ấy không hề có 1 chữ vì thế hay cho nên nào.

Cuốn Economy of the Unlost thì bà đem Simonides, nhà thơ Hy Lạp sống cách đây 2.500 năm, đặt cạnh Paul Celan, nhà thơ Do Thái viết tiếng Đức ở thế kỷ 20. 2 ông không cùng thời, không cùng tiếng nói, không ai biết ai. Tại sao lại đặt họ cạnh nhau? Bà trả lời ngay ở trang đầu: “Muốn giữ cho sự chú ý được mạnh thì đừng để nó ngồi yên 1 chỗ”. Bởi quan niệm như thế, bà nói về 2 người cùng lúc, để người này không cho người kia ngồi yên. Bà còn viết: “Đôi khi muốn nhìn rõ 1 vật trên trời, ta nên nhìn sang 1 thứ khác ở cạnh nó”.
 

Cuốn Men in the Off Hours, mở đầu bằng bài đặt sử gia Thucydides của Hy Lạp cổ cạnh nữ văn sĩ Anh Virginia Woolf, 2 người cách nhau hơn 2.300 năm, cùng viết về lúc một cuộc chiến tranh bắt đầu. Cũng trong cuốn ấy bà cho Sappho, Tolstoy với ông Lazarus trong Kinh Thánh lần lượt lên truyền hình.

Cuốn Norma Jeane Baker of Troy thì nhập nàng Helen thành Troy với Marilyn Monroe làm 1 người, xen giữa là mấy bài học lịch sử chiến tranh.

Còn The Beauty of the Husband kể chuyện một cuộc ly hôn, mà giở phần chú thích cuối sách thì thấy Homer, Charlotte Bronte, nhà văn Nhật Oe Kenzaburo, một bản cantata của Bach với cả kinh Talmud của người Do Thái. Đọc kể chuyện vợ chồng bỏ nhau mà phải biết cả Homer lẫn Bach, bảo sao người ta không kêu trời!
 

Bà nói rằng, một bài thơ viết đạt là “hành động của trí óc được giữ lại trên trang giấy”. Người đọc phải bước vào mà làm lại đúng hành động ấy, ai muốn hiểu thì phải nghĩ lại từ đầu như bà, chứ bà không nghĩ hộ.

Bà dịch thơ Sappho, nữ thi sĩ Hy Lạp sống cách đây 2.600 năm, mà thơ Sappho còn lại hôm nay phần lớn là những mẩu giấy cói thủng lỗ chỗ, có mẩu bé hơn con tem. Chỗ nào giấy rách, bà đánh dấu ngoặc vuông. Trong lời chú bản dịch, bà viết: “Dấu ngoặc thú vị lắm”, vì chúng mở ra “một khoảng trống cho trí tưởng tượng phiêu lưu”.

Với The Paris Review bà nói thêm, chỗ bài thơ đứt thì có một khoảng trống mà lẽ ra ở đấy là một ý nghĩ. Theo bà, chẳng ý nào viết ra cho trọn lại hút người ta và ma mị bằng cái ý chỉ được gợi ra.

Trong cuốn Eros the Bittersweet, bà dẫn lời Aristotle (triết gia Hy Lạp sống cách đây hơn 2.300 năm), rằng ẩn dụ là đem 2 thứ khác hẳn nhau đặt lại gần để lộ ra chúng có họ với nhau. 2 thứ càng xa nhau thì người nghe càng phải nghĩ lâu mới ra…

Sách bà khó vì bà để dành một phần việc cho người đọc. Ai bỏ công ra nghĩ, tưởng tượng, kết nối thì mê, ai không muốn thì chê, cả 2 đều có lý. Còn ai bảo thơ bà như học sinh tiểu học viết thì cứ thử đếm cho ra người thứ 3 trong cái bếp kia đã!
 

Trong lời mở đầu cuốn Short Talks, bà viết: “Tôi sẽ làm mọi cách để tránh sự buồn chán. Đó là việc của cả đời”. Xem ra bà cũng không có ý định để người đọc được ngồi không!

Kiểu như Thanh Tâm Tuyền:

“tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

 thanh tâm tuyền…

 tôi gào tên tôi thảm thiết

 thanh tâm tuyền”

Tôi gọi, tôi hét… vậy tôi tồn tại như Odi et Amo Ergo Sum.

Nếu có ai đó đứng giữa trời mà gọi, gào thét… có lẽ là người bị “thần kinh thương nhớ”!
 

Nếu bà Carson thông thạo tiếng Việt thì biết đâu bà hậu thân của Thanh Tâm Tuyền (1936-2006)?.
 

Little Saigon, October, 2026

Vương Trùng Dương

 



Cố vấn y tế của Bạch Ốc Bác Sĩ Anthony Fauci cho biết hôm Thứ Ba, 28 tháng 4 rằng “có thể là một mùa thu xấu” nếu các nhà nghiên cứu không tìm ra cách trị liệu hiệu quả để chống lại vi khuẩn corona vào lúc đó. Vi khuẩn sẽ chắc chắn trở lại Hoa Kỳ ngay cả khi các trường hợp bắt đầu ổn định, theo BS Fauci, giám đốc Viện Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng Quốc Gia, phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Câu Lạc Bộ Kinh Tế Của Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Covid-19 “sẽ không biến mất khỏi hành tinh,” theo ông cho biết, rằng các chuyên gia bệnh truyền nhiễm đang tìm hiểu về cách vi khuẩn này hoạt động bằng việc quan sát việc lây lan trỗi dậy tại nhiều vùng khác như miền nam Phi Châu mà đang bắt đầu vào mùa lạnh của họ.
Các trường học tại California có thể đón học sinh trở lại vào mùa hè năm nay và các cơ sở kinh doanh bán lẻ và sản xuất có thể tái mở cửa trong những tuần lễ sắp tới, theo Thống Đốc California Gavin Newsom cho biết hôm Thứ Ba, 28 tháng 4 khi ông đưa ra cái nhìn chắc chắn nhất từ trước tới nay về điều gì tái mở cửa từ từ có thể cụ thể nhất. Với khả năng chăm sóc sức khỏe và sự ổn định số người vào bệnh viện, Newsom nói rằng tiểu bang chỉ còn cách “nhiều tuần, không phải nhiều tháng” từ việc thực hiện “những điều chỉnh có ý nghĩa” đối với lệnh toàn tiểu bang mà đã ban xuống cho người dân California ở trong nhà trong gần 6 tuần lễ qua. Hôm Thứ Ba, Newsom cho biết các trường học có thể bắt đầu niên học kế tiếp sớm hơn, có thể cuối tháng 7 hay đầu tháng 8, dù ông đã không cho biết chi tiết hướng dẫn có thể xảy ra trong các trường học.
Hội Đồng Giám Sát Quận Cam đã bỏ phiếu với tỉ lệ 5 trên 0 vào chiều Thứ Ba, 28 tháng 4 để mở cửa các cơ sở kinh doanh với những hướng dẫn bảo đảm sự an toàn của công chúng. Các hướng dẫn được giới thiệu bởi nữ Chủ Tịch Michelle Steel và Giám Sát Viên Don Wagner được thông qua bởi hội đồng sẽ áp dụng như mô hình cho Quận Cam để trở lại tình trạng sinh hoạt bình thường, theo các viên chức cho biết. Theo hội đồng, “Tất cả đề nghị theo Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam và không thay thế bất cứ lệnh mâu thuẫn hay hạn chế nào được đưa ra bởi các chính quyền địa phương, Tiểu Bang California, hay Chính Phủ Liên Bang.” “Quận Cam đã “làm thẳng đường cong” một cách hiệu quả.”
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47) ngày hôm nay đã đệ trình Nghị Quyết Hạ Viện ghi nhận biến cố lịch sử quan trọng và tưởng niệm 45 năm ngày Sài Gòn thất thủ và sự sập đổ bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày 30 tháng 4, năm 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị lực lượng Cộng sản xâm chiếm trong Tháng Tư Đen và Sài Gòn đã bị thất thủ. Mỗi năm biến cố trọng đại này được các cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ tổ chức tưởng niệm.
Nhân dịp lần thứ 45 tưởng niệm biến cố Tháng Tư Đen, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa Hạt 48) đã gởi thông điệp đến với cộng đồng Người Mỹ gốc Việt tại Quận Cam: Trong thông điệp này, Dân Biểu Rouda cũng nhắc đến những người trong cộng đồng chúng ta mà ông vừa vinh danh: Tướng Lê Minh Đảo, nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác Sĩ Phạm Đỗ Thiên Hương.
Tuần này sẽ đánh dấu nhiều mốc ngoặc mới trong đại dịch vi khuẩn corona khi các trường hợp bị lây nhiễm tại Hoa Kỳ đã hơn 1 triệu, ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh tái mở cửa và một số nhân viên y tế địa phương bắt đầu thử nghiệm kháng thể cho công chúng, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 27 tháng 4 năm 2020. Tính tới Thứ Hai, Hoa Kỳ đã có 1,008,571 trường hợp bị lây, với 56,521 người thiệt mạng.
3 videos ngắn cho thấy “hiện tượng xuất hiện trong không gian không xác định” đã được công bố bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các video, đã được phổ biến trước đây bởi một công ty tư nhân, cho thấy cái gì đó trông giống các vật bay không xác định di chuyển nhanh trong khi được thu hình bởi các máy thu hồng ngoại tuyến, theo CNN tường trình cho biết. 2 trong 3 video, các quân nhân có thể nghe được sự phản ứng các vật bay nhanh như thế nào. Một giọng nói cho thấy nó có thể là một chiếc robot.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.