Hôm nay,  

Hành Hương - Cửu Hoa Sơn…

26/10/202611:19:00(Xem: 512)
blank

Hành Hương - Cửu Hoa Sơn…
 

Thích Nhuận Hùng

 

Thật là chuyến đi hy hữu, dự định về thăm Thầy Tổ ở Việt Nam, sau nhiều năm tháng xa cách. Lòng lại nao nức khi được trở về quê mẹ, nhìn lại cảnh cũ người xưa. Nhưng về đến nơi cảnh vật thay đổi khá nhiều…! Nói đến Việt Nam thì ai ai cũng đã nhiều lần về thăm quê rồi. Chỉ riêng tôi nay đã hơn ba mươi năm, mới có dịp về lại quê thăm sư phụ. Vì ngài tuổi già sức yếu…! Câu chuyện thì dài dòng tâm sự nơi quê nhà. Nhưng may mắn thay, các em tôi chuẩn bị thật chu đáo cho chuyến đi về quê và còn tranh thủ thời gian, tháp tùng cùng đoàn hành hương tại Việt Nam đi viếng Tứ Đại Danh Sơn Phật Giáo  tại Trung Quốc, thời gian vỏn vẹn gói trọn bảy ngày ..!

Cảnh trí Trung Quốc bây giờ hiện ra trước mắt tôi, khác hẳn với những gì xưa nay, đã đọc trên sách vở. Quả thật: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”

Chuyến hành hương rất ư thú vị, đặt chân đến nhiều nơi nhưng tôi chọn Cửu Hoa Sơn để diễn đạt.

Cửu Hoa Sơn nơi ấy bao la hùng vĩ quá tuyệt vời – y như bức tranh thủy mạc..! Đúng như câu nói của người Trung Quốc: “Một ngọn núi nổi tiếng không phải vì chiều cao mà vì sự linh thiêng”. Nơi đây không những có phong cảnh đẹp, thiên nhiên hữu tình như một bức tranh lộng lẫy mà còn sở hữu vô số chùa chiền cổ xưa, có tuổi đời lên đến cả ngàn năm. Danh Sơn Phật Giáo thật hùng vĩ – bao la …Công trình kiến trúc người xưa để lại cho con cháu, thật đáng ngưỡng mộ…!

Cửu Hoa Sơn được tổ chức thế giới UNESCO công nhận là di sản văn hóa thiên nhiên của nhân loại. Bất kể đi hành hương hay đến du lịch, điểm đến này sẽ đem lại cho du khách những phút giây đắm chìm trong khung cảnh thiên nhiên ấn tượng cũng như hiểu thêm về Văn Hóa Phật Giáo Trung Hoa.

Nhiều tài liệu cho biết, Cửu Hoa Sơn theo nghĩa đen là “đỉnh chín hoa sen” được đặt tên theo chín đỉnh cao nhất trong số 99 đỉnh ở khu vực núi Cửu Hoa Sơn.

Như tôi có đọc tài liệu rằng: “Theo lịch sử, đã ghi chép lại vào năm 719 trước Công nguyên, có một vị hoàng tử nước Tân La (Hàn Quốc ngày nay), tên là Kim Kiều Giác xuất gia từ nhỏ. Vì nghe danh của ngài Huyền Trang nên Kim Kiều Giác quyết định đến Trung Quốc vào thời Đường Huyền Tông, lên Cửu Hoa Sơn tu hành. Sau đó xây chùa thu nạp nhiều tín đồ, dần Cửu Hoa Sơn thành một Thánh địa Phật Giáo cực thịnh đương thời.

Núi Cửu Hoa bao gồm năm khu danh lam thắng cảnh chính: Hóa Thành tự, Vạn Niên tự, Kỳ Viên tự, Địa Tạng thiền tự, đỉnh Thiên Thai…

Ai đã từng đi qua muôn dặm đường đời, từng nhìn thấy những dòng sông cuộn chảy, những cánh đồng trải dài đến tận chân trời, từng nghe tiếng gió kể chuyện trên những vùng đất xa xôi. Nhưng trong lòng ta vẫn luôn có một nỗi mong cầu: tìm một nơi mà tâm hồn có thể rời khỏi bụi trần, tìm một cõi bình yên giữa nhân gian đầy biến động.

Sau 75 năm khổ luyện tu hành, năm 99 tuổi, Kiều Kim Giác bỗng nghe một tiếng gọi mơ hồ thì biết mình sắp chết liền gọi đệ tử đến dặn dò, rồi ngồi vào trong chum mà viên tịch. Ba năm sau, đệ tử mở nắp chum ra để an táng, thấy da thịt vẫn còn nguyên, sắc diện hồng hào như khi còn sống, khi nhấc ra thì các khớp xương dao động thành tiếng lách cách. Phật giáo bảo đó là Bồ-tát truyền thế bèn đem thi thể đặt vào trong tháp, gọi tháp là Địa Tạng Nhục Thân tháp.”

  

Nghe người đời truyền rằng, nơi phương Đông có một ngọn linh sơn mang tên Cửu Hoa Sơn. Nơi ấy mây trắng quanh năm ôm lấy đỉnh núi, tiếng chuông chùa hòa cùng tiếng suối, và có bóng dáng của Địa Tạng Vương Bồ Tát luôn che chở chúng sinh. Vì lòng hướng về cảnh giới thanh tịnh ấy, ta khoác áo lữ hành, mang theo một cây gậy trúc, bước vào con đường tìm kiếm miền đất trong mộng.

Đường lên Cửu Hoa Sơn quanh co giữa những vách đá cổ xưa. Mỗi bước chân đi qua, ta cảm thấy như đang rời xa cõi tục. Những hàng thông già đứng im trong sương sớm, cành lá khẽ lay như đang chào đón người khách phương xa. Mây từ thung lũng bay lên, nhẹ nhàng phủ quanh thân núi, khiến ta có cảm giác mình đang bước giữa chốn bồng lai.

Khi mặt trời vừa hé sáng, cả Cửu Hoa Sơn bừng tỉnh trong ánh vàng dịu nhẹ. Những mái chùa cổ thấp thoáng sau màn mây, những bậc đá phủ rêu dẫn lối lên nơi thanh tịnh. Từ xa vọng lại tiếng chuông chùa ngân dài, từng tiếng như đánh thức một góc sâu trong tâm hồn, khiến mọi lo toan dần tan biến.

Ta đi qua những ngôi chùa cổ, cuối cùng dừng chân trước hình ảnh trang nghiêm của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Giữa không gian yên lặng của núi rừng, pho tượng Ngài hiện lên với vẻ từ bi và bao dung. Ánh mắt Ngài như nhìn thấu nỗi khổ của chúng sinh, bàn tay Ngài như gửi gắm lời nguyện che chở cho muôn người.  

Người đời kể rằng: “Địa Tạng Vương Bồ Tát phát đại nguyện cứu độ chúng sinh, không bỏ lại những ai đang chìm trong khổ đau. Vì vậy, giữa núi non Cửu Hoa Sơn, hình ảnh của Ngài không chỉ là biểu tượng của lòng Từ Bi, mà còn là ngọn đèn soi sáng niềm hy vọng trong lòng mỗi người hành hương.”

Đứng trước Ngài, ta không cầu mong vàng bạc hay danh lợi. Ta chỉ cầu một tâm hồn bình an, một trái tim biết yêu thương và một con đường biết hướng về điều thiện. Trong khoảnh khắc ấy, gió núi nhẹ thổi qua, hương trầm bay lên trong không gian, mây trắng trôi ngang đỉnh núi. Ta chợt hiểu rằng tiên cảnh không phải là nơi xa xôi trên chín tầng mây, mà chính là giây phút lòng người tìm được sự an nhiên.

Đêm xuống trên Cửu Hoa Sơn, trăng sáng phủ bạc lên những mái chùa cổ. Ta ngồi bên hiên đá, lắng nghe tiếng rừng đêm và nhìn những tầng mây trôi chậm dưới chân núi. Cảnh vật ấy đẹp đến mức tưởng như chỉ có trong giấc mộng. Nhưng đây không phải giấc mộng, mà là món quà của đất trời dành cho những ai biết tìm về sự tĩnh lặng.

Ngày rời Cửu Hoa Sơn, ta ngoái nhìn lần cuối. Những đỉnh núi vẫn chìm trong mây trắng, tiếng chuông chùa vẫn vang vọng giữa trời cao, hình ảnh Địa Tạng Vương Bồ Tát vẫn lặng lẽ đứng đó như một lời nhắc nhở về lòng từ bi và sự bao dung.

Ta bước xuống núi, mang theo hành trang nhẹ hơn lúc đến. Bởi thứ ta tìm thấy ở Cửu Hoa Sơn không phải một vùng đất thần tiên bên ngoài thế gian, mà là một khoảng trời bình yên trong chính tâm hồn mình.

Cửu Hoa Sơn – nơi mây gặp núi, nơi lòng người gặp sự thanh tịnh, nơi một kẻ lữ hành giữa nhân gian tìm được ánh sáng dịu dàng của lòng từ bi.

   

Cổ tích ghi lại rằng: Cửu Hoa Sơn – Dấu chân vị sư giữa mây ngàn!

“Thuở xa xưa, khi nhân gian còn chìm trong tiếng chuông chùa và bước chân của những bậc hành giả tìm đường giác ngộ, giữa vùng núi non trùng điệp của đất An Huy có một ngọn linh sơn mang tên Cửu Hoa Sơn.

Ngọn núi ấy quanh năm được mây trắng bao phủ, suối trong len qua khe đá, cổ thụ vươn cành như những vị lão nhân chứng kiến bao đổi thay của thế gian. Người đời truyền rằng, nơi đây không chỉ có cảnh đẹp như chốn tiên cảnh, mà còn là vùng đất hội tụ linh khí, thích hợp cho những người muốn rời xa bụi trần để tìm sự thanh tịnh trong tâm.

Năm ấy, có một vị sư trẻ mang tâm nguyện lớn, vượt qua ngàn dặm đường tìm đến Cửu Hoa Sơn. Ngài không mang theo nhiều hành trang, chỉ có một chiếc áo nâu sờn cũ, một bình nước nhỏ và một lòng thành kính hướng về con đường tu học.

Ngày đầu đặt chân lên núi, vị sư đứng trước biển mây mênh mông, nghe tiếng gió hòa cùng tiếng chim rừng, trong lòng dâng lên cảm giác an nhiên chưa từng có. Ngài chọn một nơi thanh vắng bên sườn núi, dựng một am nhỏ bằng gỗ, lấy suối làm nước uống, lấy cây rừng làm bạn, ngày ngày tụng kinh, thiền định và quán chiếu lòng mình.

Thời gian trôi qua, dấu chân của vị sư dần in trên những bậc đá cổ. Người dân quanh vùng nghe danh tìm đến, không phải để cầu xin điều kỳ lạ, mà để lắng nghe những lời dạy về lòng từ bi, sự nhẫn nại và cách sống thiện lành. Ngôi am nhỏ giữa núi rừng dần trở thành nơi nhiều người tìm về nương tựa tinh thần.

Có những đêm trăng sáng, mây phủ ngang đỉnh núi, vị sư ngồi thiền trước cửa am. Tiếng chuông ngân vang trong thung lũng, ánh trăng soi xuống mái chùa cổ, khiến cả Cửu Hoa Sơn như chìm vào một giấc mộng thanh tịnh. Người đời kể lại rằng, những khoảnh khắc ấy, dường như đất trời cũng lặng im để lắng nghe lời nguyện của người tu hành.

Trải qua bao năm tháng, những dấu tích xưa trên Cửu Hoa Sơn vẫn như còn lưu giữ hơi thở của những bậc tu hành ngày trước. Một bậc đá rêu phong, một gốc thông già, một mái chùa ẩn trong sương cũng có thể gợi nhớ về những con người đã chọn con đường rời xa danh lợi để tìm sự bình yên trong tâm hồn.

Đặc biệt, hình ảnh Địa Tạng Vương Bồ Tát trên Cửu Hoa Sơn luôn nhắc nhở người đời về lòng đại từ đại bi và lời nguyện cứu giúp chúng sinh. Đối với những người tìm đến nơi đây, ngọn núi không chỉ là cảnh đẹp, mà còn là một miền đất thiêng giúp con người soi lại chính mình.”

Ngày nay, khi bước lên những con đường cổ của Cửu Hoa Sơn, người lữ khách vẫn có thể cảm nhận như đâu đó còn vang vọng tiếng tụng kinh năm xưa, còn bóng dáng vị sư già ngồi dưới tàng cây, lặng nhìn mây bay qua đỉnh núi.

Bởi có những dấu chân tuy đã khuất theo thời gian, nhưng tinh thần của người tu hành vẫn còn ở lại – hòa vào núi, vào mây, vào tiếng chuông ngân giữa trời cao.

Cửu Hoa Sơn không chỉ lưu giữ vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn lưu giữ những câu chuyện về lòng tin, sự tu tập và hành trình tìm kiếm sự bình an của con người qua bao thế hệ.

    

Câu chuyện kể tiếp: Giấc mộng của cao tăng nơi Cửu Hoa Sơn

“Đêm ấy, trên đỉnh Cửu Hoa Sơn, trời đất lặng yên như đang chìm vào một giấc ngủ sâu. Ánh trăng trải xuống những mái chùa cổ, phủ lên từng phiến đá rêu phong một màu bạc huyền ảo. Gió núi thổi qua rừng thông, mang theo hương hoa thanh khiết và tiếng chuông chùa ngân vọng từ nơi xa.

Vị cao tăng sau một ngày tụng kinh, tọa thiền trước tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát rồi trở về am nhỏ nghỉ ngơi. Ngài đã nhiều năm tu tập nơi núi thẳm, lòng không còn vướng bận chuyện thế gian, chỉ một tâm nguyện là tìm hiểu con đường giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

Trong đêm thanh tịnh ấy, Ngài dần chìm vào giấc ngủ.

Bỗng giữa màn sương trắng, Ngài thấy mình đứng trên một con đường đá dẫn lên tận đỉnh núi. Nhưng con đường ấy không giống con đường nơi nhân gian. Hai bên là hoa sen nở giữa mây, dòng suối chảy như ánh ngọc, chim trời bay lượn trong ánh sáng dịu dàng. Cả Cửu Hoa Sơn như biến thành một cảnh giới khác – nơi đất trời và tâm hồn hòa làm một.

Ngài bước đi trong im lặng, cho đến khi trước mắt hiện ra một ngôi chùa cổ ẩn giữa biển mây. Cánh cửa chùa từ từ mở ra, một luồng ánh sáng ấm áp lan tỏa khắp không gian.

Trong ánh sáng ấy, Ngài nhìn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện thân trang nghiêm. Ngài mặc áo cà sa, tay cầm tích trượng, ánh mắt hiền từ như chứa đựng lòng thương bao la đối với muôn loài.

Vị cao tăng quỳ xuống, cung kính hỏi:

“Bạch Ngài, con đã rời xa bụi trần, ngày đêm tu tập, nhưng trong lòng vẫn tự hỏi: Làm sao có thể giúp được hết thảy chúng sinh khi khổ đau trên thế gian còn quá nhiều?”

Địa Tạng Vương Bồ Tát nhìn vị cao tăng, nhẹ nhàng nói:

“Con người tìm kiếm ánh sáng ở nơi xa xôi, nhưng đôi khi quên rằng ngọn đèn chân thật nằm ngay trong lòng mình. Muốn cứu độ người khác, trước hết phải nuôi dưỡng lòng từ bi, sự nhẫn nại và trí tuệ. Một lời nói thiện lành, một hành động thương yêu, cũng có thể gieo một hạt giống bình an trong cuộc đời.”

Lời Ngài vang lên như tiếng chuông giữa núi sâu.

Vị cao tăng nhìn thấy trước mắt mình hiện ra vô số hình ảnh của chúng sinh: người đang đau khổ, người đang lạc lối, người đang tìm kiếm hy vọng giữa những ngày khó khăn. Ngài hiểu rằng con đường tu hành không phải để rời bỏ thế gian, mà là để trở về với thế gian bằng một trái tim rộng lớn hơn.

Địa Tạng Vương Bồ Tát trao cho Ngài một đóa sen trắng và nói:

“Hãy giữ lấy tâm sen này. Dù ở nơi bùn lầy, hoa sen vẫn giữ được sự thanh khiết. Người tu hành cũng vậy, giữa cuộc đời nhiều biến động vẫn có thể giữ lòng sáng trong.”

Vừa dứt lời, mây ngàn bỗng chuyển động. Tiếng chuông chùa vang lên từ chín tầng núi, ánh sáng dần tan vào trời đất.

Vị cao tăng tỉnh giấc khi bình minh vừa lên. Ngoài cửa am, Cửu Hoa Sơn vẫn chìm trong màn sương sớm. Nhưng trong lòng Ngài đã có một sự thay đổi sâu sắc. Trên bàn tay, tuy không còn đóa sen trắng trong giấc mộng, nhưng cảm giác thanh tịnh và lời dạy của Địa Tạng Vương vẫn còn nguyên vẹn.

Từ ngày ấy, vị cao tăng tiếp tục tu hành trên Cửu Hoa Sơn, đem lòng từ bi giúp đỡ người đời. Ngài không tìm kiếm phép màu, bởi Ngài đã hiểu rằng phép màu lớn nhất chính là khi một con người biết mở rộng trái tim mình.”

Người đời sau truyền rằng, vào những đêm trăng sáng trên Cửu Hoa Sơn, nếu ai đủ duyên lắng nghe tiếng chuông giữa biển mây, có thể sẽ cảm nhận được hơi thở của vị cao tăng năm xưa và lời nguyện từ bi vẫn còn vang vọng giữa núi rừng:

“Nguyện cho tâm người như ánh trăng trên núi, soi sáng chính mình và sưởi ấm muôn phương.”

Chuyến hành hương Tứ Đại Danh Sơn Phật Giáo, rất nhiều ấn tượng cho tôi nhưng vì khổ giấy có hạn, không thể diễn đạt cho hết được…Vì mỗi địa danh đều có sự huyền bí, ẩn mật – phiêu bồng theo năm tháng và thời gian, sự linh thiêng – nhiệm mầu của Chư Phật – Chư Bồ Tát không thể diễn bàn bằng ngôn ngữ thường tình được. Mà cảm nhận sự nhiệm mầu tại nơi ấy, nếu ai đó đã từng hành hương đến đó, chiêm ngưỡng thành tâm – đảnh lễ Chư Phật – Chư Bồ Tát – Ngài Địa Tạng Vương, với tôn tượng cao 99 mét thì sẽ rõ hơn. Hẹn vào dịp khác tôi sẽ kể tiếp…!

Kính chúc quý vị gần – xa cũng như những độc giả yêu văn chương – tiếng Việt thuần của chúng ta, mãi mãi an lành – tâm an – thân lạc – cát tường như ý.

--- California, Santa Ana

Tháng Tư năm Bính Ngọ - 2026

 

Hội Đồng Giám Sát Quận Cam đã bỏ phiếu với tỉ lệ 5 trên 0 vào chiều Thứ Ba, 28 tháng 4 để mở cửa các cơ sở kinh doanh với những hướng dẫn bảo đảm sự an toàn của công chúng. Các hướng dẫn được giới thiệu bởi nữ Chủ Tịch Michelle Steel và Giám Sát Viên Don Wagner được thông qua bởi hội đồng sẽ áp dụng như mô hình cho Quận Cam để trở lại tình trạng sinh hoạt bình thường, theo các viên chức cho biết. Theo hội đồng, “Tất cả đề nghị theo Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam và không thay thế bất cứ lệnh mâu thuẫn hay hạn chế nào được đưa ra bởi các chính quyền địa phương, Tiểu Bang California, hay Chính Phủ Liên Bang.” “Quận Cam đã “làm thẳng đường cong” một cách hiệu quả.”
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47) ngày hôm nay đã đệ trình Nghị Quyết Hạ Viện ghi nhận biến cố lịch sử quan trọng và tưởng niệm 45 năm ngày Sài Gòn thất thủ và sự sập đổ bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày 30 tháng 4, năm 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị lực lượng Cộng sản xâm chiếm trong Tháng Tư Đen và Sài Gòn đã bị thất thủ. Mỗi năm biến cố trọng đại này được các cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ tổ chức tưởng niệm.
Nhân dịp lần thứ 45 tưởng niệm biến cố Tháng Tư Đen, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa Hạt 48) đã gởi thông điệp đến với cộng đồng Người Mỹ gốc Việt tại Quận Cam: Trong thông điệp này, Dân Biểu Rouda cũng nhắc đến những người trong cộng đồng chúng ta mà ông vừa vinh danh: Tướng Lê Minh Đảo, nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác Sĩ Phạm Đỗ Thiên Hương.
Tuần này sẽ đánh dấu nhiều mốc ngoặc mới trong đại dịch vi khuẩn corona khi các trường hợp bị lây nhiễm tại Hoa Kỳ đã hơn 1 triệu, ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh tái mở cửa và một số nhân viên y tế địa phương bắt đầu thử nghiệm kháng thể cho công chúng, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 27 tháng 4 năm 2020. Tính tới Thứ Hai, Hoa Kỳ đã có 1,008,571 trường hợp bị lây, với 56,521 người thiệt mạng.
3 videos ngắn cho thấy “hiện tượng xuất hiện trong không gian không xác định” đã được công bố bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các video, đã được phổ biến trước đây bởi một công ty tư nhân, cho thấy cái gì đó trông giống các vật bay không xác định di chuyển nhanh trong khi được thu hình bởi các máy thu hồng ngoại tuyến, theo CNN tường trình cho biết. 2 trong 3 video, các quân nhân có thể nghe được sự phản ứng các vật bay nhanh như thế nào. Một giọng nói cho thấy nó có thể là một chiếc robot.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.