Hôm nay,  

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã

27/10/202619:11:00(Xem: 751)
blank

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã
 

Nguyên Giác

 

Hãy thấy vô ngã thường trực. Hãy thấy vô thường không ngừng. Hãy liên tục thấy cõi này bất an như lửa cháy. Sống trong kinh nghiệm thường trực như thế, sẽ ly tham, sẽ giải thoát. Đức Phật đã dạy như thế. Tùy theo duyên nhiều đời, và tùy theo tu tập nơi kiếp này, có người nghe về vô thường, hay vô ngã là tức khắc giải thoát; tương tự, với người khi nghe lời dạy về cõi này là khổ, là bất an. Vô thường và vô ngã không rời nhau, với nhiều Kinh ghi lời Đức Phật hỏi người tới học câu đầu tiên là “có phải mắt là vô thường, có phải tai là vô thường...” rồi Ngài nói về vô ngã, rằng không có cái gì gọi là tôi, không có gì gọi là của tôi; và vì vô thường với vô ngã, nên cõi này liên tục bất an, bất như ý, không ngừng tan rã. Thấy như thế, học nhân sẽ ly tham và giải thoát. Rất nhiều Kinh theo thứ tự như thế.
  

Trong tích truyện Kinh Pháp Cú số 277, có kể về 500 vị tỳ-kheo, sau khi nhận đề mục thiền định từ Đức Phật, đã vào rừng để thực hành thiền, nhưng họ đạt được rất ít tiến bộ. Vì vậy, họ quay lại gặp Đức Phật để xin một đề mục thiền định khác phù hợp hơn với mình. Sau khi quán xét, Đức Phật nhận thấy rằng trong thời của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa Buddha), các vị tỳ-kheo này đã từng thực hành thiền quán về tính vô thường. Do đó, Ngài dạy: "Này các tỳ-kheo, tất cả các pháp hữu vi đều phải chịu sự biến đổi và hoại diệt, vì vậy chúng đều là vô thường."

Rồi Đức Phật đọc bài kệ, theo bản dịch Pháp Cú của Thầy Minh Châu:

277. Tất cả hành vô thường. Với Tuệ, quán thấy vậy. Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

Khi bài thuyết pháp kết thúc, năm trăm vị tỳ-kheo ấy đã đạt được quả A-la-hán. Tương tự, trong hai trường hợp khác, với mỗi trường hợp là 500 vị sư khi nghe lời dạy khổ và vô ngã là chứng đắc quả A la hán, ghi lại trong tích truyện Pháp Cú ở bài kệ 278 và 279, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

278. Tất cả hành khổ đau. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

279. Tất cả pháp vô ngã. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.
  

Chúng ta nên hình dung rằng, chuyện của quý ngài lúc đó không giống như kiểu chúng ta bây giờ ngồi trong hội trường nghe pháp. Cho dù nhiều lần nghe lời dạy về vô ngã, nhưng chúng ta không thấy minh bạch cái thực tướng vô ngã trong thân tâm như quý ngài. Quý ngài lúc đó tới gặp Đức Phật sau khi đã hành thiền nhiều năm, chứ không chỉ hiểu bằng tri thức. Chúng ta nghe về vô ngã, nghĩ về vô ngã bằng ký ức chữ nghĩa. Trong khi đó, quý ngài sống và cảm nhận trực tiếp về vô ngã ngay trong từng hơi thở, không qua chữ nghĩa ký ức. Quý ngài trực tiếp tự quán chiếu thân tâm: thân này luôn biến đổi, cảm thọ luôn sinh diệt, nhận thức đổi thay từng sát-na, không có một "cái tôi" thường hằng nào trong thân và tâm. Và tất cả những gì được chúng sinh trong đời thường gọi là "ta", hay "của ta" chỉ là sự kết hợp tạm thời của các duyên. Trí tuệ quý ngài bừng sáng. Mọi kiến chấp, mọi bám víu đối với thân, tâm và thế giới liền tan rã. Tham ái không còn chỗ nương tựa, ngã mạn bị nhổ tận gốc, các lậu hoặc hoàn toàn đoạn diệt. Ngay tại chỗ ngồi, năm trăm vị tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát.
  

Chỉ thấy thường trực vô ngã là đã đủ giải thoát, vì tham ái không bám được vào nơi nào trong thân tâm, không dính gì được nơi ngũ uẩn. Không cần định, không cần thần thông. Đây là một điểm rất quan trọng trong Kinh Susima Sutta (SN 12.70) và thường được các học giả Phật giáo dẫn ra để chứng minh rằng trong Phật giáo, A-la-hán quả không đòi hỏi phải thành tựu các thần thông hay các tầng thiền theo nghĩa thường gặp.

Trong Kinh Susima Sutta, du sĩ Susima (nguyên là ngoại đạo mới xin nhập chúng được vài tuần lễ) rất ngạc nhiên khi nghe nhiều vị sư tuyên bố đã chứng quả A-la-hán và được Đức Phật công nhận. Du sĩ hỏi các vị ấy rằng quý ngài có thiên nhãn không, có thiên nhĩ không, có biết tâm người khác không, có nhớ các đời quá khứ không? Các vị A-la-hán trong Kinh này đều trả lời: "Không." Du sĩ Susima lại bối rối, hỏi rằng: nếu không có các thần thông ấy thì làm sao có thể là A-la-hán?

Trong Tạng A Hàm, nơi Kinh SA 347 (tương ưng với Kinh Susima Sutta), theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng, Susima phiên âm là Tu-thâm, viết như sau:

“Tu-thâm bạch Tỳ-kheo: Bạch Tôn giả, thế nào, có phải học ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu Sơ thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?” (ngưng trích)

Tỳ kheo trả lời ngài Tu-thâm rằng quý ngài không đắc định, không thành tựu Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền... mà chỉ được tuệ giải thoát.

Đức Phật giải thích trong Kinh Susima Sutta rằng điều cốt lõi của giải thoát không nằm ở thần thông mà nằm ở chánh trí. Các vị ấy là những người được gọi là "tuệ giải thoát". Bản dịch của ngài Bodhi dịch là “liberated by wisdom”. Bản dịch của ngài Sujato dịch là “freed by wisdom”. Bản dịch của ngài Thanissaro dịch là “released through discernment”. Bản dịch Thầy Minh Châu ghi là, “Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.”
  

Làm cách nào để chứng được tuệ giải thoát? Đức Phật trong Kinh này dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này Susima, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.”

Bản dịch của Thầy Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”

Bản dịch của Thầy Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.”

Bản dịch của Thầy Thanissaro là: “First, Susima, there is the knowledge of the regularity of the Dhamma [dependent co-arising], after which there is the knowledge of Unbinding.”

Trong Kinh SA 347 của Tạng A Hàm, ghi lời Đức Phật giải thích: “Phật bảo Tu-thâm: Trước hết họ biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn. Các thiện nam ấy một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”

Ngắn gọn, đối chiếu các cách dịch trên, có thể nói cho dễ hiểu: Đức Phật dạy rằng muốn có tuệ giải thoát, trước hết cần phải thấy, hiểu vận hành của Pháp, của Luật duyên khởi (chữ trong Thiền Tông là: Thấy Tánh, hay gọi là Thấy Tánh Không), sau đó sẽ thấy Niết Bàn.
  

Kế tiếp, Đức Phật hỏi Susima có phải sắc là vô thường hay không (sắc là: sắc thanh hương vị xúc pháp – tức là: cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường). Và như thế là khổ, là vô ngã.

Rồi Đức Phật dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Chỉ thấy như thế thường trực, là sẽ ly tham, và sẽ giải thoát. Kinh Susima Sutta đặc biệt quan trọng vì cho thấy có nhiều vị A-la-hán tự nói không đắc định, không đắc thần thông và chỉ có tri kiến giải thoát, tức là thấy đúng thực tánh của các pháp. Trong một cuộc thảo luận vài năm trước trên mạng Sutta Central, một số học giả hiện đại nhận định rằng các vị này có thể chỉ chứng được mức định tối thiểu cần thiết cho minh sát, đôi khi được các truyền thống hậu kỳ gọi là cận định (upacāra samādhi) hoặc một mức định vừa đủ để duy trì chánh niệm và tuệ quán. Đó cũng vẫn là sự diễn giải của người đời sau, chứ không phải lời ghi trực tiếp trong kinh. Đọc kỹ, sẽ thấy Kinh Susima Sutta ghi lời quý ngài là chưa đắc định, chưa đắc cả Sơ thiền. Vì vậy, Kinh Susima Sutta là một trong những bản kinh cụ thể nhất nói rằng tuệ giải thoát là con đường trực tiếp dẫn đến quả vị A-la-hán.
  

Thiền Tông Trung Hoa nói rằng người tu phải thấy thường trực vô ngã tức là thấy Tánh, tức là thấy thân tâm mình không hề có tâm nào để tu, tức là không hề thấy có cái gì gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp để gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là thấy không hề có con trâu nào để chăn dắt như lộ trình Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Trong tuyển tập Bích Nham Lục Của Thiền Sư Phật Quả Viên Ngộ, nơi tắc số 3 có câu nói về nhiệm vụ của bậc thầy trong cửa thiền là: "Nếu là bổn phận Tông sư, đến trong đây phải có thủ đoạn, cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói..."

Người cày, tức là người tu, phải dắt trâu (điều tâm) đi cày ruộng để có cơm cho hết đói (cơm là Chánh pháp). Khi bị tước đoạt thân tâm, sẽ thấy không có cái gì gọi là tâm để tu nữa (vì thường trực thấy vô ngã). Tương tự, trong sách Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục do Pháp Sư Tài Lương biên soạn, cũng ghi về thầy giỏi là phải biết tước đoạt: "Sư Thượng đường nêu: Cổ nhân nói: Phàm là thiện tri thức phải là cướp trâu của người cày đoạt lấy cơm của người đói. Đuổi trâu cày bừa làm cho lúa mạ của họ tốt tươi, đoạt cơm của người đói làm cho họ dứt được cơn đói."
  

Có thể giải thích đơn giản hơn, và cũng truyền thống hơn, rằng vị Thầy giỏi phải chỉ cho Thiền sinh thấy rằng thân tâm và thế giới này đang từng khoảnh khắc bị vô thường tước đoạt, và thực sự cũng không có cái gì gọi là tâm (hình ảnh con trâu) để bị tước đoạt bởi vì tất cả các pháp trong thế gian này chỉ là âm vang, là trăng hiện dưới nước, là ảnh chiếu trong gương, là ráng nắng ban chiều.

Con trâu chính là cái tâm mà chúng ta biện biệt mài giũa và “chăn trâu”. Hễ còn thấy còn con trâu thì còn rong ruổi trên cánh đồng hơn thua và sở đắc. Cho nên thiền sư "cướp mất con trâu" của học trò. Trong khi đó, "cơm của người đói" là những thức ăn tinh thần mà người tu tìm kiếm: danh tiếng, tri thức, sở đắc, kinh nghiệm các tầng thiền, và cả các cảnh giới giác ngộ. Thiền sư tước bỏ hết những thứ ấy, khiến người học không còn chỗ nương tựa, phải trắng tay (không nắm giữ pháp nào). Cuối cùng, khi không còn trâu để cày và cũng không còn cơm nào để bám víu, người học sẽ trực diện thực tại trần trụi như nó đang là. Ngay tại đó, tâm vô ngã hiển lộ.
  

Chúng ta cũng có thể nhớ tới bài"Vô Sanh" trên báo Viên Âm Nguyệt San số 22, ấn bản tháng 7 và 8 năm 1936, được cho là của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Nơi đây, tác giả dùng hình ảnh một cái bàn gỗ để dẫn người học từ lý duyên sinh đến tuệ giác vô ngã và tánh Không. Ngài Tâm Minh giải thích rằng cái bàn không tự nhiên xuất hiện. Nó phải nhờ gỗ, nhờ người thợ cưa xẻ, bào chuốt, ráp mộng, cùng vô số điều kiện khác mới thành hình. Vì vậy, cái bàn là một pháp do nhân duyên hòa hợp mà có.

Nhưng khi khảo sát kỹ hơn, ta không thể chỉ vào bất cứ bộ phận nào và nói: "Đây chính là cái bàn." Các tấm gỗ không phải là bàn. Công thợ không phải là bàn. Từng bộ phận riêng lẻ đều không phải là bàn. Cái gọi là "bàn" chỉ là một danh xưng tạm đặt cho sự kết hợp của nhiều yếu tố. Vì không tìm được một thực thể độc lập nào mang tên "bàn", nên cái bàn là "không có tự tánh", tức là tánh Không. Từ đó, cụ Tâm Minh đưa người đọc tiến xa hơn: sở dĩ ta chấp cái bàn là thật có vì tâm phân biệt đặt tên rồi bám chặt vào tên gọi ấy. Thực ra, "bàn" chỉ là giả danh. Khi thấy rõ điều đó, ta sẽ thấy mọi sự vật, kể cả thân tâm mình, cũng đều là những pháp duyên sinh, không có tự ngã riêng biệt.

Theo cụ, thấy được điều này không phải để phủ nhận thế giới, mà để bước vào Trung đạo. Khi biết các pháp là duyên hợp, không có thực thể cố định, hành giả dần buông bỏ chấp ngã, chấp pháp, không còn bị tham, sân, si chi phối. Chính đó là cửa ngõ đi vào cái thấy vô sanh: các pháp tuy hiện ra như có sinh diệt, nhưng chưa từng có một tự thể độc lập nào thật sự sinh hay thật sự diệt. Tuy cụ dùng Trung Luận để giải thích, nhưng cốt tủy vẫn là nội dung lời Đức Phật dạy trong Kinh Susima Sutta và Pháp Cú 279: không cần tìm kinh nghiệm huyền bí nào, chỉ cần thường trực thấy rõ mọi pháp đều do duyên hợp, không có tự ngã, thì ngay nơi cái bàn gỗ trước mắt cũng cho thấy toàn bộ con đường giải thoát.
  

Hãy tỉnh thức thường trực trong tuệ giải thoát đó. Hãy để các pháp nó như thế là như thế, tức là hãy giữ tâm Như thị. Nghĩa là, hãy để mọi thứ đang là như là đang là. Hãy để mọi thứ thấy nghe hay biết như là cái được thấy nghe hay biết. Hoàn toàn không thể tìm thấy người thấy, người nghe hay người cảm nhận nào ngoài các pháp duyên sinh đang hiện khởi rồi biến mất. Đó chính là cánh cửa đi vào vô ngã.

Đó là những gì chúng ta có thể kinh nghiệm, vì đây là cái trực tiếp sống với đời sống này, chứ không phải suy luận qua trung gian chữ nghĩa. Nói như các thiền sư, rằng hãy đốt hết kinh sách, và sống trực tiếp trong trận gió vô thường chảy xiết qua thân tâm mình. Hãy thấy vô thường đang diễn ra trong từng khoảnh khắc. Bạn nhìn lên bầu trời, vừa thấy một chùm mây, thì hình dạng của mây đã đổi khác. Bạn vừa nghe một nốt nhạc, thì nốt nhạc ấy đã biến mất để nốt nhạc kế tiếp tới. Không có cái được thấy, được nghe nào đứng yên, không có hình ảnh hay âm vang nào nguyên vẹn từ sát-na này sang sát-na khác.

Nơi đó, bạn nhận ra rằng hễ có sinh là có diệt, có tới là có đi, có hiện ra là sẽ có biến mất, và nơi đó không hề có cái gì gọi là “cái tôi, cái của tôi, cái ta, cái của ta” và các câu hỏi tự biến mất ngay khi bạn nhìn thấy con trâu bạn chăn dắt biến mất. Vô thường chính là cánh cửa đơn giản và gần gũi nhất để đi vào cái thấy vô ngã của tuệ giải thoát. Không cần đi vòng quanh. Xin nhớ rằng Đề Bà Đạt Đa đã chứng đắc tứ thiền, đã có nhiều thần thông, nhưng rồi vẫn rơi địa ngục khi “cái ta là” trong tâm ngài dẫn tới tội ngũ nghịch.
  

Do vậy, bạn hãy trực tiếp nhìn ngắm, hãy thường trực cảm nhận sự sinh diệt liên tục của các pháp ngay nơi thân tâm bạn đang thấy nghe hay biết. Bạn hãy cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết nơi thân tâm bạn. Khi cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết thân tâm, bạn sẽ thấy biến mất tất cả các tư lường, chữ nghĩa, văn tự, ký ức, sẽ thấy biến mất những vô lượng con trâu, những vô lượng cái tâm của ba thời, của hôm qua, hôm nay, ngày mai. Nơi đây, chư Tổ nói rằng hễ mở miệng là trễ rồi, vì mây đã tan và hoa đã rơi. Bạn hãy cảm nhận bạn đang đi đứng nằm ngồi như một cụm mây lung linh vô ngã trong cái thân tâm góp lại từ hàng tỷ hạt bụi vi trần. Thấy như thế là pháp trú, là vô cùng hạnh phúc.

 

 



Hôm Chủ nhật, Đức Giáo Hoàng Francis bày tỏ hy vọng rằng Thế vận hội Olympic và Paralympic Paris sẽ tạo cơ hội cho các quốc gia đang có chiến tranh tôn trọng truyền thống Hy Lạp cổ đại và thiết lập một thỏa thuận ngừng bắn trong suốt thời gian diễn ra Thế vận hội.
Ngày 5 tháng 8, 2024 sắp tới đây, đúng vào sinh nhật thứ 76 của cựu TT Samdech Techo Hun Sen, hiện là Chủ Tịch Thượng viện, lãnh đạo đảng Nhân Dân Cam Bốt (CCP), được con trai trưởng của ông là TT Hun Manet chọn là ngày Lễ Động Thổ khởi công Dự án Kênh đào Funan Techo – đang được rầm rộ chuẩn bị như là một ngày lễ hội lớn, với đốt pháo hoa và chiêng trống nổi lên từ khắp các chùa chiền cùng với lời cầu nguyện của giới sư sãi trên toàn Vương quốc Cam Bốt. Nhưng với cái giá môi sinh nào phải trả cho cả hai dân tộc Khmer và Việt Nam đang hiển lộ và không còn là những ẩn số.
Tổng thống Joe Biden cho biết ông sẽ rút lui khỏi cuộc đua tổng thống trong một bức thư gửi lên mạng X. Ông viết: “Được làm tổng thống của các bạn là vinh dự lớn nhất trong cuộc đời tôi. Và mặc dù tôi có ý định tái tranh cử, nhưng tôi tin rằng việc tôi rút lui và chỉ tập trung hoàn thành nhiệm vụ tổng thống trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ là vì lợi ích tốt nhất của đảng và đất nước."
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson đảm bảo với đám đông ủng hộ Israel rằng nếu các nhà lập pháp Đảng Dân chủ vượt quá tầm kiểm soát khi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu phát biểu trước Quốc hội vào thứ Tư, Johnson sẽ ra lệnh bắt họ. Lời đe dọa bắt giữ các Dân biểu Dân chủ của ông Johnson được đưa ra trong bài phát biểu
Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.
Một bản ghi nhớ bị rò rỉ tiết lộ J.D. Vance đã sử dụng một bảng câu hỏi để hỏi những người được đề cử làm đại sứ của Biden về quan điểm của họ về sự đa dạng, công bằng và hòa nhập tại nơi làm việc, quyền đồng tính LGBTQ+, chứng phiền muộn về giới tính (gender dysphoria: cảm thấy giới tính khi mình sinh ra không đúng với cảm xúc của mình) và “chăm sóc chuyển đổi giới tính”.
Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư cứng rắn của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người chủ trì quá trình chuyển đổi kinh tế và địa chính trị của đất nước mình, và định hình lại ban lãnh đạo bằng chiến dịch chống tham nhũng “lò lửa”, qua đời vào thứ Sáu tại một bệnh viện ở Hà Nội ở tuổi 80. Cái chết của ông được Báo Nhân Dân công bố cái chết của ông Trọng và cho biết ông đã chết vì “tuổi già” và một căn bệnh hiểm nghèo không xác định. "Sau thời gian lâm bệnh, mặc dù được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ, chuyên gia y tế đầu ngành tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí đã từ trần vào hồi 13 giờ 38 phút ngày 19/7/2024 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108".
“Chính trị Mỹ thường là đấu trường cho những tâm hồn giận dữ,” nhà khoa học chính trị Richard Hofstadter đã viết cách đây 60 năm trong bài tiểu luận kinh điển của mình. Tuy nhiên, qua nhiều thời đại, những luận điệu về “sự cường điệu, nghi ngờ và tưởng tượng âm mưu” này phần lớn đã diễn ra ở bên lề. Ngày nay, mạng internet khiến mọi người có thể tiếp cận với chúng, khuếch đại sự bất hòa và thông tin sai lệch.
Nhiều người dân Hoa kỳ sẽ bị sốc khi biết rằng khi một công dân Hoa Kỳ kết hôn với một người không có giấy tờ hợp lệ, vợ/chồng của họ sẽ không tự động đủ điều kiện để trở thành công dân. Hãy tưởng tượng bạn yêu một ai đó, kết hôn với họ và sau đó vẫn tiếp tục lo sợ rằng mình sẽ phải xa cách họ.” Thực tế là các luật về di trú luôn ngăn cản các đương đơn không có giấy tờ nộp đơn xin Thẻ xanh, ngay cả khi họ đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ. Họ thường phải trở về nước ít nhất một hoặc hai năm và đợi cho đến khi bảo lãnh của công dân Hoa Kỳ được chấp thuận. Điều này đã thay đổi vào ngày 18 tháng 6 năm 2024 khi ông Biden công bố lệnh hành pháp của mình nhằm giúp đỡ vợ hoặc chồng của các công dân Hoa Kỳ không có giấy tờ.
Ngọt ngọt, cay cay, và có chút chua nhẹ, tương ớt Sriracha ngay lập tức nổi như cồn khi David Tran, một người tị nạn Việt Nam, mang món này đến đất Mỹ vào những năm 1980 với thương hiệu Huy Fong Foods. Ban đầu, những khách hàng đầu tiên của Huy Fong Foods là nhà hàng, quán ăn Á châu. Nhưng chẳng bao lâu sau, chai tương ớt nắp xanh và logo con gà đã trở nên quen thuộc đối với nhiều tiệm ăn và căn bếp ở Hoa Kỳ. Chỉ trong vài năm, từ một chiếc xe van Chevrolet bán hàng rong ở Los Angeles, ông David Tran đã trở thành chủ một nhà máy rộng 20,000 mét vuông. Đến năm 2020, doanh nghiệp của ông đã trị giá 1 tỷ MK.
Hãy tưởng tượng quý vị đang chơi trò năm-mười trốn tìm ở một chỗ xa lạ. Quý vị sẽ cảm thấy khó hơn nhiều so với chơi ở nhà, đúng không? Những chỗ trốn quen thuộc dễ tìm kiếm thường sẽ là: dưới gầm giường, trong tủ quần áo, sau ghế sofa. Khi phải đi kiếm những người chơi khác, ta sẽ cố gắng nghĩ tới mọi chỗ có khả năng là chỗ trốn. Vậy thì làm sao để chúng ta tìm kiếm ở những nơi mà chính bản thân ta cũng không thể ngờ tới? Tìm kiếm sự sống ngoài hành tinh cũng tương tự như vậy. Các khoa học gia sẽ cố gắng nghĩ ra những cách mới để tìm kiếm các dạng sống ngoài hành tinh. Trong lúc đó, họ sẽ tìm kiếm dấu hiệu của sự sống trên các hành tinh khác bằng cách dựa vào những gì đã biết về sự sống trên Trái Đất. Bởi vì đó là những gì chúng ta đã được biết và có thể tưởng tượng ra.
Một thử nghiệm lâm sàng lớn ở Nam Phi và Uganda đã cho thấy tiêm thuốc lenacapavir hai lần mỗi năm có thể bảo vệ hoàn toàn (100%) trước nguy cơ bị nhiễm HIV. Lenacapavir một loại thuốc chích ngừa trước (pre-exposure prophylaxis, PrEP) nhằm ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm HIV. Thử nghiệm cũng so sánh hiệu quả của thuốc mới với hai loại thuốc PrEP khác dạng viên uống hàng ngày. Khoa học gia – bác sĩ Linda-Gail Bekker sẽ giải thích về tầm quan trọng của tiến bộ này và những gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Trong cuộc họp tại hội nghị thượng đỉnh NATO tuần qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden nói với Tổng thống Nam Hàn Yoon Suk Yeol rằng Washington cam kết sẽ sử dụng mọi khả năng của mình, bao gồm cả vũ khí nguyên tử, để răn đe Bình Nhưỡng, theo Reuters. Văn phòng của Yoon cho biết, hai nhà lãnh đạo cũng đã ký Hướng dẫn xây dựng và triển khai một hệ thống răn đe mạnh mẽ để ứng phó với các mối đe dọa nguyên tử và quân sự từ Bắc Hàn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.