Hôm nay,  

Cái Chết Của Kẻ Mơ Mộng

20/12/201910:08:00(Xem: 9864)

 

cai chet cua mot ke mo mong
Hình minh họa: Đinh Trường Chinh

 

Tôi từng bị ám ảnh không biết sau khi mình chết đi thì mọi việc sẽ như thế nào. Và thế là vào một đêm, tôi quyết định giả chết.
Tôi tập xuất hồn ra khỏi xác giống như việc bạn tách múi sầu riêng ra khỏi vỏ của nó vậy. Người ta đưa xác tôi vào bệnh viện. Tôi nghe họ nói cần làm giải phẩu để tìm nguyên nhân khiến một thằng đang khoẻ mạnh bỗng đột nhiên lăn đùng ra tắt thở. Họ nghi ngờ tôi chết không minh bạch.
Khi linh hồn tôi tách ra khỏi thân xác, vì quá yếu nên bị vướng lại trong một căn phòng. Tôi thấy mình bị bao phủ bởi một chiếc lưới bùng nhùng được đan bằng vô vàn ký tự. Phải mất một lúc sau đó tôi mới nhận ra những ký tự nọ xuất phát từ mớ chữ trong các câu chuyện tôi đang viết dở. Trong đó có cả những ký tự từ thời xa xưa tôi viết giùm thư tình cho đám bạn học để chúng trả tiền cà phê sáng cho tôi. Các con chữ nằm lộn xộn và trông có vẻ vô hại theo một cách nào đó. Còn ý nghĩa của chúng là gì khi ghép lại với nhau, điều đó thuộc về một bí mật khác. Tôi nghĩ chúng không liên quan gì đến việc đột nhiên tôi muốn chết.
Lúc đầu tôi đâm hoảng thật sự. Tôi biết sẽ không ai có thể giúp được linh hồn tôi thoát khỏi căn nhà của mình. Những người thân của tôi thì đang bận. Họ lúc nào cũng bận biụ. Nếu không phải đi làm, chắc họ sẽ rủ nhau đi picnic hoặc ngủ chẳng hạn. Nhiều người nhầm lẫn khi nói nghỉ ngơi không phải là thứ công việc. Còn nếu không có việc gì để làm, chắc họ sẽ đến than khóc bên cái xác của tôi trong bệnh viện. Ấy là tôi nghĩ thế. Đến giờ, nhiều người trong chúng ta vẫn còn tin rằng nước mắt có thể làm cho người chết sống lại. Nhưng nếu có mặt ở đây, chắc họ cũng không thể giúp được gì. Bởi lẽ không một người sống nào có thể nghe được tiếng nói của linh hồn.
Ngôi nhà vắng đến rợn người. Linh hồn tôi cứ lơ lửng trong phòng. Đầu tiên tôi nhìn thấy lũ kiến. Chúng bò dọc theo các bức tường lên trần nhà. Có vẻ chúng đang cố tiến về phía tôi. Lẽ ra chỗ của chúng là ở nhà bếp, nơi những mẫu thức ăn thừa còn vương lại sau bữa tối. Chắc lũ khốn đã ngửi thấy mùi tử khí. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa chúng sẽ xơi tái tôi.
Trước nhà, những người hàng xóm vẫn còn đứng nán lại sau khi xe cứu thương đã đưa xác tôi đi. Họ ngạc nhiên lẫn tò mò khi tin tôi chết. Trong câu chuyện trao đổi giữa họ, tôi là một người hoàn toàn lập dị và hơi điên rồ. Có một bà sồn sồn nói chính mắt trông thấy tôi đứng đái vào khóm hoa trước nhà mẻ vào lúc nửa đêm. Trong khi tay hàng xóm lại nói nhiều lần muốn gọi cảnh sát hốt tôi vào khám vì thói quen hay tụ tập bạn bè ồn ào mỗi cuối tuần. Hắn qủa quyết từ ngày tôi dọn về đây sống, bệnh mất ngủ của hắn ngày một nặng thêm. Hắn còn nói tôi nốc rượu như hũ chìm và hay lảm nhảm đọc thơ, lời lẽ rối rắm đến Chúa cũng không hiểu được.


Tất nhiên là tôi rất giận khi nghe hắn nói. Cái thằng khốn ấy chuyên đến uống rượu ké nhà tôi không biết bao nhiêu lần. Tôi nhớ hắn còn bảo tôi là láng giềng tốt nhất của hắn. Nếu biết trước như thế này chắc tôi đã bán nhà tếch đến một vùng biển nào đó bán hot dog và nằm nghe sóng vỗ còn hơn. Không ai có thể sống nổi với những tay hàng xóm suốt ngày hăm he đòi tống mình vào tù.
Tôi giận đến nỗi không muốn chết nữa. Bằng một ý chí mạnh mẽ, linh hồn tôi bỗng thoát được ra khỏi căn phòng và lao đến bệnh viện.
Tôi tỉnh dậy vừa kịp lúc tay bác sĩ giơ con dao mổ rạch vết cắt đầu tiên vào chỗ trái tim tôi nơi lồng ngực...
Khi mở mắt, điều đầu tiên tôi thấy được là những vòm sáng yếu ớt từ các ngọn đèn trong phòng mổ. Chúng hắt ra thứ áng sáng xanh kỳ dị như không có thật. Có vài bóng người trong phòng. Họ mặc những chiếc áo choàng liền thân, trông có vẻ cùng màu với thứ ánh sáng mơ hồ kia. Tất cả đều mang khẩu trang kín mít, chỉ chừa lại đôi mắt. Người đàn ông đứng gần tôi nhất về phía bên trái, trên tay đang nắm một thứ dụng cụ trông rất kỳ lạ. Nó trông giống con dao bạn thường dùng để cắt beefsteak nhưng lưỡi mảnh hơn và phần mũi cong hẳn về phía trên như ngọn mác. Cái vật nhỏ nhắn ấy không ngừng toát ra thứ ánh sáng lạnh lẽo đến vô tình khiến chân lông tôi dựng lên. Người đàn ông mở khẩu trang và nói gì đó với tôi. Từng chuỗi âm thanh xô đẩy nhau, loãng ra rồi tắt ngấm trên khuôn mặt với hàm râu quai nón rậm rịt. Tôi thấy mí mắt mình nặng dần và khép hẳn lại. Có điều gì đó trống rỗng lại vừa xa vắng xâm chiếm tâm hồn tôi.
" Con kêu ba đi," người đàn bà chỉ tay vào tôi và nói với đứa bé chừng bốn tuổi khi cả hai đứng sát bên giường bệnh....
" Anh thật không nhớ em và con sao?"
Khuôn mặt người đàn bà và đứa trẻ trông vừa thân thiết lại vừa xa lạ. Trong phần tối tăm của ký ức tôi như có ánh chớp thoáng qua rồi mất hút. Tôi như người đang chìm sâu trong huyễn cảnh không tìm thấy lối ra, bỏ lại quá khứ trong khoảng trống phía sau cánh cửa đã được đóng kín.
Người đàn bà nhìn tôi một lúc, xong bước đến chỗ chiếc ghế vải dành cho khách thăm nơi góc phòng và ngồi xuống. Tay bà ta ôm chặt đứa trẻ vào lòng như thể nếu không làm thế đứa bé sẽ rời xa, thậm chí biến mất. Đôi mắt người đàn bà ngấn nước và phảng phất một nỗi hoang mang vô hạn. Khuôn mặt người đàn bà còn khá trẻ, nhưng với làn da tái xanh và cử chỉ mệt mỏi kia, có điều gì đó khiến tôi nghĩ bà ta vừa chợt đánh mất cả tuổi xuân của mình ngày hôm qua.
Rất nhiều tháng sau đó, ở một khu ngoại ô buồn tẻ nọ, người ta thấy có một người đàn ông hàng ngày ngồi thẩn thờ trước hiên nhà, trên tay thỉnh thoảng lại cầm chiếc gương soi như đang tập làm quen với khuôn mặt của mình.

 

Nguyễn Văn

Khi em đưa cái Thẻ Kiểm Tra, mình chưa đọc tên đã biết ngay là em. Nhưng mình cứ làm tỉnh ngồi ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Em thì tình thiệt không biết mình. Nhớ hồi nhỏ hai đứa cũng quyến luyến nhau, dầu chưa tới mười tuổi. Em hay giận hờn
Điện thoại rung, tôi coi thấy Dũng gọi. Biết Dũng chưa bao giờ đi làm sở, sẽ gọi lại nhiều lần nếu không được trả lời nên tôi khẽ đứng dậy bước ra phòng họp gọi bấm phône hỏi: - Có chuyện gì không Dũng? - Chiều nay anh có rảnh không? Tới em. Em làm vài món, mình làm lai rai vài lon. Thứ hai nhà hàng em đóng cửa. - Được ông chủ nhà hàng nấu là nhất rồi. Chết cũng phải mò tới. Anh đang bận họp. Tí anh gọi lại em.
Giữa bất an, và lo buồn của mùa.... mắc dịch, vẫn có những điều làm người ta vui hơn, an tâm vì dù tình hình có xấu đến đâu đi nữa, vẫn có những tấm lòng. Chẳng hạn ở Severna Park, Maryland, từ vài tuần nay, mỗi ngày vào khoảng 11 giờ sáng ở một góc đường, trên một cái bàn màu trắng, có một số túi giấy màu nâu (lunch bags) để ngay ngắn trên bàn với tấm bảng viết tay khá lớn : "Phần ăn trưa miễn phí cho bất cứ ai cần" .
Ánh nắng chói chang như thiêu đốt nhức cả mắt, cháy cả da thịt, da dẻ ai cũng sạm đen thô ráp, đầu bù tóc rối, môi nút nẻ tứa máu, có vệt đã khô, có vệt mới còn tươi. Mọi người nằm rũ rượi như những tàu lá chuối bị hơ lửa, áo quần nhàu nát, dơ dáy, xốc xếch trông như những hình nhân.
Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.
Ba tôi là một sĩ quan truyền tin của quân đội VNCH. Gia đình tôi sống trong Bộ Tổng Tham Mưu, gần sát phi trường Tân Sơn Nhất. Vì sống trong trung tâm của Bộ Tổng Tham mưu nên ba tôi nói rất nguy hiểm và ba đã xây một cái hầm cho mẹ con tôi trốn đạn. Mẹ nói ba làm rất cực để giữ an toàn cho gia đình. Ba vì công việc nên đi hoài, mẹ ở nhà mỗi khi nghe đạn pháo nổ dắt chúng tôi chạy xuống hầm trốn đạn. Và ngày ấy đạn pháo bay như mưa, tôi còn nhớ cứ lâu lâu nghe tiếng súng bắn và nghe người ta la "chết rồi, máy bay cháy", hoặc "chết rồi, nổ rồi, cháy ..cháy" và trên radio thì cứ nghe bài hát "một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên quyết đấu tranh…. ".
Bài viết “Đánh Trận Là Một Nghệ Thuật” đã được đăng trên “The Journal of Military History” số 68 vào năm 2004. Đây là một quyển báo rất có uy tín của quân đội Hoa Kỳ từ năm 1937, chuyên đăng những bài nghiên cứu có giá trị về lịch sử quân đội của mọi nơi trên thế giới. Dù đã ra đời mười sáu năm, bài viết này có một giá trị lịch sử đặc biệt vì người viết đã tham khảo rất công phu nhiều tài liệu của cả Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Bắc Việt. Bài viết này đã được Cố Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa nhận định là chính xác đến 95%.
Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Dù tôi đã sống trên đất Mỹ nhiều năm rồi, nhưng thỉnh thoảng, trong giấc ngủ hằng đêm, tôi vẫn gặp ác mộng về những lần trốn chạy kinh hoàng của một người bị săn đuổi. Choàng tỉnh dậy giữa đêm, tôi nhớ lại rất rõ nét những giấc mơ vừa trải qua, mồ hôi toát ra như tắm vì tôi như vẫn còn nghe văn vẳng đâu đây tiếng kẻng báo thức rõ mồn một, tiếng kẻng của các trại giam cộng sản Việt Nam được làm bằng những cái niềng (rim) xe hơi và dùng 1 thanh sắt gõ vào tạo thành 1 âm thanh vang rất xa. Ai từng ở tù hay bị đày ra những trại cưỡng bức lao động, hoặc trại tập trung cải tạo của cộng sản Việt Nam thì không bao giờ quên được tiếng kẻng này.
46 năm sau biến cố cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974, và 32 năm sau vụ thảm sát Gạc Ma nơi quần đảo Trường Sa 1988, cả hai đều do bàn tay vấy máu của Trung Cộng. Không chỉ bằng vũ lực, Bắc Kinh nay còn viện dẫn Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng ký như bằng chứng pháp lý gây khó khăn cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Kim lái chiếc xe Honda đi biếu cái bánh chưng cuối cùng vào lúc 7 giờ sáng ngày 30 Tết năm 1975. Tuy có bao nhiêu lần thức khuya học bài, nhưng đây là lần đầu tiên Kim thức trắng đến sáng, cái đầu nhức như búa bỗ, óc trống rỗng, người lâng lâng như muốn bay lên mây...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.