Hôm nay,  

Sài Gòn Đứt Đoạn

30/04/202010:20:00(Xem: 4469)


Ngà lật sách, đọc được một đoạn rồi bỏ xuống, không hiểu mình đang đọc cái gì.  Không biết chữ vô nghĩa vô cảm hay đầu óc Ngà tê liệt.  Ngà tự hỏi điều gì đang xảy ra cho mình.  Ngà bắt đầu đếm hơi thở - hít vào 4 nhịp thở ra 7 nhịp, không biết ai chọn ra những con số ấy nhưng mới hít vào chưa kịp đếm đến 4 thì bụng đã căng phồng như cóc, cố thêm e vỡ bụng.  Thở ra phì phò hít vào ì ạch.  Ngà nằm lâu trên giường, đêm vẫn trắng.

Ra phòng khách tìm một quyển sách cũ chưa bao giờ xem tới mang vào phòng.  Nam Hoa Kinh, trang đầu tiên mang chữ ký của anh Lâm, 1987 đọc lần thứ 3.  Ngà tần ngần.  1987, anh chỉ độ 40 ngoài, đọc quyển sách ấy lần thứ 3?  Ngà nhớ những ngày tháng ấy, những ngày tháng xa lìa đứt đoạn với một kiếp đời.  Hóa ra không chỉ mình Ngà thức thâu đêm, không chỉ mình Ngà đi tìm những gì xưa cũ, những bí mật của Sài Gòn đã mất.

Dọc theo sách là những ghi chú suy nghĩ của anh.  Ngà bồi hồi, bởi Ngà chưa bao giờ đến gần anh để biết một điều gì về con người ấy, bây giờ đến thật gần thì anh đã mất.  

Cũng như cô Thảo đã mất.  Cô mất lúc nào Ngà chẳng hay, chỉ biết tin nhờ cái tật tò mò gì cũng đọc.  Ngà nhớ mình đã lật tới lật lui tờ báo Người Việt như thể sẽ tìm thêm ra được chữ trên bài báo về ông giám đốc nhân sự mới của tỉnh.  Chính là anh ta, nét mặt ấy vóc dáng ấy, cái tên ấy, và những chi tiết về cha mẹ - trên đời làm gì có quá nhiều trùng hợp đến thế, và vậy là cô Thảo đã mất được 10 năm, nghĩa là năm cô chỉ khoảng 68 tuổi, còn quá trẻ.  Cô mất vì bịnh gì?  

Ngà thấy buồn mênh mang, bởi cô Thảo là người bạn đầu tiên của Ngà trên đất lạ.  Cô mang cả một Sài Gòn theo với cô, trong tính cách con người, trong cách cư xử với lũ trẻ như Ngà, và cả trong việc cô giễu cợt Ngà dùng chữ Việt Cộng.  Những khi cô Thảo ghẹo Ngà thấy hơi quê, nhưng Ngà tự hiểu, nỗi buồn của Ngà tựa như tự ái của đứa con nhà nghèo phải mặc quần áo chắp vá vạ vịt vì không có gì để mặc, và tủi phận khi bị chê cười.  Còn cô, chọc ghẹo Ngà vậy thôi chứ cô thường bảo Ngà trạc tuổi con trai lớn của cô.  Ngà hiểu, cô thương Ngà hai mươi tuổi bơ vơ trên xứ lạ không một tình thân, không như gia đình cô đủ đôi bên nội ngoại đã đi thoát từ 1975.  Nhưng cô nào hiểu, tuổi 20 Ngà không hề muốn khóc trao nỗi lòng dù với mẹ cha huống gì kẻ lạ, Ngà nào muốn ai thương hại mình khốn khó bơ vơ.  Cô càng thương Ngà càng muốn xa, và rồi Ngà đã bỏ cái hãng nhỏ ấy để lấy một việc làm khác có lương cao hơn và nhiều quyền lợi.

Ôi, cô Thảo, Ngà cứ cảm nghĩ mình thiếu nợ cô mà không biết nợ nần gì, và Ngà cũng đã muốn xa cô thật xa mà chả biết tại sao.  Cũng không phải là không biết, chỉ là biết mơ hồ.  Nếu màu da xác nhận với người địa phương cái gốc Á châu của Ngà thì những chữ trời ơi nơi cửa miệng xác nhận với người đồng chủng rằng Ngà đến từ xứ cộng sản.  Nhưng làm sao xóa được cái hậu Sài gòn khi Ngà đã ở lại 4 năm, đã rước vào đầu những chữ vớ vẩn dẫu thâm tâm không thể nào chấp nhận được họ.  Ngà không có lỗi dẫu nói sai, mà cô Thảo càng chẳng có lỗi khi nói đúng tiếng Sài Gòn.  Ngà và cô như bộ đồ trà đã bể vụn, 2 miếng sành vỡ không còn ghép lại được, bởi cô biết đến Ngà qua phim ảnh báo chí truyền thông và Ngà biết cô bằng quá khứ cho dẫu cô với Ngà là hai cảnh đời xa lạ.  

Quá khứ của cô là trường Marie Curi đài các, là ngồi cát xê quán kem Phi Điệp của gia đình, là anh thiếu úy phi công hào hoa, thông gia với chỉ huy trưởng Tân Sơn Nhất.  Sài Gòn của cô thật dày bóng mát.  Còn Ngà, cái trường Gia Long là kỷ niệm hiển hách và duy nhất của cuộc đời quá khứ.  Cái hiển hách ấy bao gồm 2 tấm áo dài tê tơ rông trắng mỗi năm và ngày ngày đạp xe ra phố giúp má dọn hàng.  Và Ngà cũng có hình bóng một người lính trong lòng dẫu không biết mặt và không thể là người tình.

Tuổi mười lăm nhiều mắc cở vụng về, ăn chưa no lo chưa tới.  Ngà đạp xe mini yên sau chở thùng đựng đá chứa trăm thứ lẩm cẩm từ cửa hàng lụp xụp về nhà.  Tới ngã tư đèn đỏ thì thùng nghiêng lệch sửa soạn đổ mà cái xe mini không cho phép Ngà dựng chân để sửa.  Xe Suzuki đỏ bên cạnh là hai người lính, anh ngồi sau lẹ làng nhảy xuống sốc thùng đồ trên xe Ngà lên ngay ngắn cột lại chặt chẽ.  Vừa kịp đèn xanh lên, anh thót trở lại yên sau và chiếc xe lăn nhanh theo dòng lưu chuyển.  Ngà không kịp nhìn mặt, anh không chờ lời cám ơn.  Tấm áo lính mờ bụi in xuống lòng đường Ngà đã qua, in vào quá khứ của Ngà một cách êm đềm không cầu gợi chút niềm thân mật.

Sài Gòn của Ngà rồi còn gập ghềnh hơn những năm sau chiến tranh.

Làm sao tránh được cái tranh giành chụp giựt cả trong những việc thật nhỏ mọn bởi chậm là đói.  Làm sao không dòm ngó người khác bởi sơ ý thì sẽ mắc nhiều cái vạ không biết đâu mà gỡ.  Có bao nhiêu lần Ngà thấy ngượng cho mình vì không muốn nói lập trường tào lao thì phải đành moi xấu nhau cái chuyện quần thấp guốc cao trong những buổi họp hành kiểm thảo.  Hoặc nói dối hoặc nói bậy, người ta không có quyền im, không có quyền Take The Fifth!!!  Ngà đã bỏ đi không luyến tiếc, đâu ngờ vết dao quá lớn quá sâu.  Ngà cứ ngỡ mình bỏ đi rồi thì Sài Gòn chỉ còn là mảnh đất chập chờn ẩn hiện lúc nhớ thương, chứ nào biết nó ngày đêm theo với cuộc sống của Ngà trên đất lạ.

Khác với cô Thảo yên tâm xây lập cuộc đời mới trên đất mới, Ngà sống quanh cái miệng chén Sài Gòn.  Tay nào đi làm kiếm sống, túi nào dành chút tiền lẻ gửi về, và những đêm nào mộng mị miệt mài đi tìm Sài Gòn đã mất. 

Ngà lại cầm cuốn sách của anh Lâm để lại đây lần bỏ qua Texas.  Sài Gòn của triết Đông triết Tây.  Sài Gòn của Chiến Tranh và Dân Tộc.  Những năm 80 ấy Ngà cũng đọc bá vạn thứ như vầy, chả biết tại sao mình muốn đọc, phải đọc.  Anh Lâm đã đi qua Sài Gòn bằng một phần của tuổi trẻ, Ngà chỉ mới bước khỏi thềm tuổi thơ.  Phải chăng mất cội rễ người ta phải tìm, và tìm đâu hơn là tìm ở những gì từ vạn thuở xa xưa đã nuôi lớn một dân tộc cho dẫu nó chỉ còn lưu lại trên trang giấy.  Nhưng Nam Hoa Kinh, Ngà nghĩ, cũng chỉ là một cứu cánh cho anh Lâm thấy vết thương của mình chẳng là gì cả sẽ không là gì cả, để lòng bớt đau hồn bớt mỏi, để thoát ra cái bế tắc của cuộc đời hiện tại.  Còn Ngà, ngày Ngà đi làm hết cả hơi, đêm về dỗ giấc ngủ bằng cuốn kinh thánh dày như tự điển Nguyễn Văn Khôn cũng qua được từng đêm.

***

Ngà thức dậy đã 11 giờ sáng.  Ngày bây giờ trọn vẹn của mình, không phải chạy với kim đồng hồ thật sướng.  Bao người hăm rằng sẽ buồn chán, sẽ bị trầm cảm, thiệt vậy không?  Ngà chỉ biết đời mình đã rẽ, rẽ vào chặng cuối cùng, và cho dẫu vào hơi sớm cũng chẳng có gì để luyến tiếc con đường bụi loạn vừa bỏ lại.  Hưu rồi mới thấy ra, mình đã quá mệt mỏi từ biết bao lâu nay và không hiểu mình đã loay hoay ra sao để cáng đáng những ngày 25 tiếng đã qua.  Nhưng thật buồn cười, hưu việc rồi cũng hưu cả nhà thờ - Ngà không còn nhớ lần cuối mình đến nhà thờ là lúc nào.  Ngà thấy dường như mình chẳng còn muốn gì và chẳng còn thấy có gì quan trọng.  Mới ngày nào còn thơ Ngà đã từng đếm tuổi – rằng đến cái năm mà mọi người lo tận thế mình vẫn chưa được nửa trăm năm!

Ngà vào bàn bắt đầu thoa kem bôi phấn.  Ngà vẽ mắt thật tỉ mỉ sao cho mắt lớn rộng ra để bù đắp cái co cụp tuổi đời đè xuống.  Vẽ mắt rồi lại chậm thêm phấn đặc che cái “thượng thọ” nơi quầng dưới mắt.  Rồi lại phấn nâu để thuôn má phệ.  Rồi lại mascara cho đen dài tấm mi thưa…  Ôi, nhan sắc.  Ngà bật cười nhớ lần đầu Má giúp đánh phấn, Má quét cho một lớp thật dày trắng xóa, mi mày chẳng còn thấy chi.  Kịp đến anh chàng phó nhòm chụp cho một loạt hình kiểu cũng cho người dặm lên mặt mình không biết bao nhiêu là những má hồng với chì với son với mày với tóc.  Ngà biết ra mình cần thấy chính mình và tự trang điểm cho chắc ăn!  

Mặc vào bộ quần áo trắng, giờ tha hồ mặc màu nhạt không sợ cọ quẹt lấm lem, Ngà lên xe lần theo địa chỉ để đón Mai.

Mai đích thị tiểu thư, đời nhung lụa nhàn nhã, sống bên kia cửa thiên đường mộng mơ nên dẫu học chung lớp mà có bao giờ Ngà bước lại gần để kết bạn.  Cả cái trường đại học theo đuổi Mai, từ trò đến thầy, từ bạn đến thù dẫu Mai yểu điệu tơ đào thì làm gì có kẻ thù - chỉ là những kẻ khổ đau không được kết bạn kết tình với một cánh sao kiêu sa.  Ngà không biết sau 40 năm xa cách thì Mai ra sao và cuộc gặp gỡ này rồi có trở thành tai vạ.  Nghĩ, rồi lòng chợt bâng khuâng.  Phân cách xã hội đã đeo đẳng hoài trong tâm trí mà Ngà chả bao giờ nhận ra.

Ngà bước vào, Mai đang nói điện thoại với bà dì, chỉ nhẹ nhàng đến ôm Ngà hôn lên má.  Xong cuộc nói chuyện, Mai đến xoay người Ngà ngắm nghía cười khanh khách, “Ngà vẫn như xưa!”  Cái hồn nhiên vui vẻ cười thành tiếng của Mai nói với Ngà rằng lớp vỏ e dè khép nép vì xã hội vì cách biệt của buổi đổi đời đã được bóc gột sạch.  Nơi trời đất mới, cánh mai nay được nở bung bừng tươi sức sống.  Mai mang theo mình cái ăn diện tỉ mỉ của những cô gái Sài Gòn xưa, như trong hàng ngàn hàng trăm những tấm ảnh mà đâu đó người ta đã lưu lại để bây giờ mang ra cho mình xem mà nhớ mà thương.  Ôi Sài Gòn của Ngà.  Ôi tuổi thơ của Ngà.  Ngà nào đã được biết gì, được đi đến đâu được sống bao nhiêu trong cái thành phố hằng thương tưởng ấy.  Ngà như đóa hoa chưa kịp nở đã phải bị héo quặt bứt rời mà hồn chẳng cam nên cứ hoài lưu luyến.

Hai đứa vào quán ăn đã hẹn trước với một vài bạn.  Tiếng cười gọi tiếng cười, chuyện quẩn quanh vẫn là những gì đã xảy ra cho từng đứa khi mọi người đứng bên nhau mà lòng văng muôn ngả.  Những mảnh vụn được dần ghép lại để Ngà thấy ra lứa của Ngà đã thiếu mất một phần niên thiếu.  Tâm trí Ngà lại từ từ trôi giạt, tiếng cười nói như những mảnh vụn bánh mì rơi xuống mặt bàn.  Ngà nhìn Mai, nhìn chị Thi, nhìn Thiện, nhìn ngược lại mình.  Ngà buồn rầu nghĩ mình chỉ còn là con ma sống dai trên dương thế.

Con ma ấy ngày ngày qua phố Sài Gòn Nhỏ, đi len lỏi trên lề hẹp đầy những quầy bán sách báo vàng nhang ảnh tượng quần áo thời trang từ Việt nam gửi sang, những loại cây cảnh quê nhà phải ương trồng 5,7 năm mới ra hoa trái, những rổ rau quả các cụ lấy từ vườn nhà đem bán mua vui, để thấy bồi hồi tưởng mình đi trên khúc đường Lê Thánh Tôn ngày cũ với tủ kính mát, sạp hoa ni lông, sạp áo thun, sạp nón, sạp giày, tiệm thuốc tây, tiệm huy chương An Thành, tiệm quần áo trẻ con, tiệm vân vân.  À, tiệm thuốc tây, tiệm thuốc tây có cô chị cao lớn mặc áo dạ hội vai trần bó ngực dài phết đất, má phấn môi son đẹp như tài tử ngoại quốc đi dạ vũ ở Maxim, có cô em nhỏ người xinh như búp bê cũng không kém phần lộng lẫy một lúc lâu sau mới ra tưởng như em là cô bé lọ lem mãi rồi mới lựa thóc đậu xong để được bộ quần áo kiêu sa mà đi phó hội.  Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.  

Đâu chỉ cô Thảo, anh Lâm, những người mà Ngà đã biết đã gặp trong buổi đầu đời trên đất lạ nay mất đi.  Chính Ngà cũng biệt tăm, như những khe trống của đường ranh giới đoạn nổi trên tấm bản đồ của một thành phố đã mất.



Những dòng ký sự và nhận định sau đây, tường thuật lại những biến cố xảy ra tại Trường Y Sàigòn từ năm 1967-1971 và sau đó...do sự can thiệp của phái bộ Hội Đoàn Bác sĩ Mỹ -American Medical Association tại Saigòn (AMA-SAIGON) vào nội bộ Trường Y Saigon. Những sử liệu của bài nhận định này đều dựa trên những điều tường thuật của quyển sách thời danh SAIGON MEDICAL SCHOOL do 3 người viết: CH William Ruhe MD, Norman Hoover MD và Ira Singer PhD, tất cả ba vị này đều là nhũng người lãnh đạo và cố vấn cho cuộc can thiệp của phái bộ AMA vàoTrường Y Saigon từ năm 1967. Tập sách SAIGON MEDICAL SCHOOL do chính cơ quan AMA, xuất bản tại Mỹ năm 1988.
Dạo đó, đầu thập niên 70, dưới giàn hoa giấy, trong khoảng sân nhỏ nhà chúng tôi, thỉnh thoảng có những người lính thuộc mọi binh chủng của Quân lực VNCH. Họ ngồi hút thuốc, hay tay đàn miệng hát vì trong cư xá Đoàn Văn Cự ở Biên Hòa có khá nhiều chị đang học lớp 12 rất đẹp. Nhà chúng tôi ở đầu cư xá nên các chị thường phải đi ngang nhà chúng tôi trước khi về nhà mình.
Mẹ tôi bán thuốc tây để dành được một ít tiền cho chị em tôi đi vượt biên. Chuyến đầu mẹ cho ba chị em tôi đi nhưng bị đổ bể, đợt hai mẹ cho chị tôi đi với gia đình dì, và được Cap Anamur Đức vớt, đưa đến Đức vào năm 80. Một năm sau mẹ gửi hai anh em tôi cho cô chủ tàu ở Cần Thơ và chúng tôi được đưa lên tàu đánh cá nhỏ có 89 người.Thuyền rời bến, ngày đầu chúng tôi được phát nước uống, qua ngày thứ hai thì không còn giọt nước nào. Lúc đó vào tháng năm, nắng nóng, thuyền lại không có mui che nên ai cũng mệt lả, thuyền đông người lại quá chật hẹp không cựa quậy gì được, tôi chỉ cần nhút nhích một chút là bị người ta nhéo. Lúc đó tôi chỉ thấy chung quanh là biển rộng mênh mông, tôi nhớ nhà và cầu mong sao cho bị bắt để được về nhà lại.Trên thuyền bắt đầu có một chị bị sảng vì thiếu nước uống, rồi thì không biết ai đó lấy lon Guigoz truyền nước uống cho nhau nhưng ai hớp vô rồi cũng phun ra vì đó là nước biển, mặn quá, tôi cũng không ngoại lệ.
Trời Chicago cuối tháng Tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tâp-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay, họ cũng đến. Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services -Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Claude Monet, màu sắc hàì hòa gợi nhớ về một thuở thanh bình.
Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang: - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi!
Kính Anh Chị Lê Thanh Tôi nhận được thư anh chị cách đây mươi ngày. Tôi định viết thư trả lời anh chị hay liền, và cám ơn anh chị đã nhiệt tình đỡ đầu hai quyển sách đầu tay của tôi mà tôi tự xuất bản. Nhưng không hiểu tại sao tôi mãi chần chờ. Đêm nay, tự dưng thức giấc, đọc lại thư anh viết, lòng cảm thấy bồn chồn. Lời thư anh mộc mạc, ngắn gọn, chứa chan tình cảm và nhiều suy nghĩ. Suy nghĩ của anh, của người tuổi đã ngoài 70. Anh đã đi qua nhiều chặng đường lịch sử của đất nước.
Như mọi buổi sáng, tôi vừa dùng điểm tâm vừa xem tin tức trên Internet. Sau đó, tôi vào Inbox để xem emails của bạn hữu. Khi thấy youtube tình khúc Hai Vì Sao Lạc – do ông Trần Nắng Phụng chuyển – cũng là lúc tôi chợt nhớ trái avocado để quên nơi bếp. Tôi “bấm” vào youtube rồi rời phòng computer, đi xuống lầu, với dụng ý khi tôi trở lên thì phần nhạc dạo đầu sẽ chấm dút.
Tháng ba, dường như mùa đông chỉ mới bắt đầu sau một tháng thời tiết ấm áp. Nấc đo màu đỏ của hàn thử biểu nằm trên dương độ và có khi vượt qua khỏi con số mười. Mọi người hân hoan cho rằng Paris năm nay không có mùa đông. Nhưng những cơn mưa ướt át, những luồng gió lạnh lẽo từ một cơn bão nào đó đã ào ạt thổi về trên phố từ mấy ngày nay. Con đường trước nhà lúc nào cũng vắng hay tôi chỉ nhìn thấy nó mỗi khi không còn ai. Thói quen trước khi vào giường ngủ và thức dậy khi đêm chuẩn bị tạ từ. Đèn vàng và sương mù, những ngôi nhà, cây cành đổ bóng ngoài khung cửa là nơi của quá khứ tôi, nơi hồi tưởng, dù vui dù buồn. Nhớ lại trong đêm nay… cả trăm điều muốn khóc1, một lời hát lấy từ một bài thơ của một nhà thơ quá cố mà tôi rất thích và tôi nghĩ đâu phải riêng tôi mới có cả trăm điều muốn khóc. Của chúng ta, bao người ly hương, làm gì lại chẳng có những đêm nhớ lại với trăm điều.
Thứ hai 6 tháng 4 South Carolina tiểu bang cuối cùng của các tiểu bang nằm dọc theo phía Đông của sông Mississippi (giòng sông dài thứ nhì của Bắc Mỹ) ban hành lệnh "Shelter in place". Cùng lúc, Indiana kéo dài "lệnh cấm túc" thêm 14 ngày nữa trên toàn tiểu bang.
Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về—không hẳn chỉ là những con người—mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Tiếng giày cao gót lụp cụp tiếp theo sự xuất hiện của một cô gái làm Vinh ngơ ngẩn đến lặng người. Trời ơi! Sao trên đời lại có người đẹp thế này! Nàng mặc nguyên cái áo dài màu xanh da trời đồng phục của tiếp viên hàng không Air VietNam với huy hiệu rồng vàng nổi bật trên cổ áo ôm lấy một bờ ngực vun đầy và vòng eo chết người. Gương mặt trái soan với đôi má hây hây điểm trên làn da trắng mịn màng, bờ môi mộng đỏ hình trái tim, cộng thêm đôi mắt bồ câu đen long lanh với viền mi cong vút dài rậm(thiệt đúng là chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân). Tất cả như muốn nhốt cả hồn Vinh trong ngây dại chìm đắm.
Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.